Ánh Trăng Không Hiểu Lòng Tôi

Ánh trăng không hiểu lòng tôi

Tân Di Ổ

Dịch giả: Mai Quyên

Chương 1

Hướng Viễn cũng phải thừa nhận rằng trái tim mình đa phần thuộc về phía bờ phải. Tất nhiên, không phải ai cũng biết được rằng, ở một nơi nhỏ bé phía bờ trái, cô đã từng đánh mất một thứ mình yêu quý và trân trọng nhất.

Bờ trái ở đâu? Tại sao nó lại được gọi là bờ trái?

Chương Việt bảo, trong trái tim mỗi người đều có một dòng sông nghẽn lại ở đó, nó phân trái tim chúng ta thành hai bờ: bờ trái mềm yếu, bờ phải lạnh lùng; bờ trái cảm tính, bờ phải lý trí. Bờ trái chứa đựng những dục vọng, ước mơ, đấu tranh và tất cả những hỷ nộ ái ố của chúng ta, còn bờ phải có những vết tích nóng bỏng của đủ mọi loại quy tắc trên thế gian in vào tim chúng ta – bờ trái là giấc mộng, còn bờ phải là cuộc sống.

Chương Việt nhìn mấy bóng đèn neon trong casino mà cô sở hữu rồi cười với Hướng Viễn: “Mình vẫn thích Tả Ngạn của mình nên ở đây suốt, còn bạn thì lại khác”.

Hướng Viễn cười cười, chỉ uống một ngụm nước mà không giải thích gì. Chương Việt là một trong số ít những người bạn thân của cô, dù không phải là bạn tri kỷ nhưng vẫn rất hiểu cô.

Hướng Viễn từng nói một câu với các nhân viên của mình rằng: “Tôi không có ước mơ, chỉ có kế hoạch”. Kết quả là câu nói này đã được truyền tụng rộng rãi đến mức người trong nghề ai cũng biết. Mọi người đều rõ, Hướng Viễn của công ty Giang Nguyên là một người thực tế đến không thể thực tế hơn, cách đối nhân xử thế của cô có mục đích rất rõ ràng, cách làm cũng thẳng thắn trực tiếp. Nhưng không thể phủ nhận rằng, cách làm việc của cô thường có hiệu quả nhất, thế nên cô mới có thể đưa Giang Nguyên ra khỏi vực thẳm, mở ra một chân trời mới như ngày hôm nay. Nếu bắt buộc phải nói theo cách của Chương Việt, vạch rõ hai bờ như thế thì Hướng Viễn cũng phải thừa nhận rằng, trái tim mình đa phần thuộc về phía bờ phải. Tất nhiên, không ai biết được rằng, ở một góc nhỏ bé phía bờ trái, cô đã từng đánh mất một thứ mình yêu quý và trân trọng nhất.

Thấy chiếc cốc thủy tinh đặt trước mặt Hướng Viễn đã vơi quá nửa, bà chủ Chương Việt đích thân thêm nước cho cô. Đa số khách đến “Tả Ngạn” đều muốn say sưa một phen nhưng Hướng Viễn lần nào cũng chỉ uống nước – nói rõ hơn đó là nước lọc cho thêm đường, cứ năm trăm mililít nước sẽ cho thêm một thìa đường là cách uống cô ưa thích nhất. Chương Việt không hề thấy điều này có gì kỳ quặc, mỗi người thích một thứ hoặc ghét một điều gì đó đều có lý do riêng của mình. Cô đã từng nhìn thấy những điều còn kỳ quặc hơn, có người tin rằng uống nước tiểu vừa thải ra của mình có thể giữ được tuổi thanh xuân, có người đến “Tả Ngạn” đòi uống máu chim họa mi… Cô chỉ không rõ tại sao ngày nào Hướng Viễn cũng uống một loại nước đường như thế mà lại không có dấu hiệu phát phì. Lúc này, cô có thể thấy rõ xương quai xanh dưới cổ chiếc áo bằng lụa màu trắng đang mở ra của Hướng Viễn.

“Nhìn gì thế?” Hướng Viễn nhìn theo ánh mắt của Chương Việt rồi cười phá lên. Lúc cô cười, đôi mắt một mí cong lên như vầng trăng non.

Chương Việt nói: “Sao bồ lại gầy thế nhỉ?”.

Hướng Viễn sờ hõm xương cổ mình, nói với vẻ nửa đùa nửa thật: “Thì mình đã nói là cố gắng làm việc mới có tư cách thổ huyết mà? Gầy là cái giá phải trả cho sự phấn đấu”.

“Nhưng bồ phấn đấu quá rồi đấy, có cần thiết phải ép mình ra nông nỗi này không?” Chương Việt nhớ đến một số chuyện, thở dài nói tiếp: “Diệp Khiên Trạch vẫn không có chút tin tức nào à?”.

Chương Việt là người thông minh, vừa nói ra câu này đã bắt đầu hối hận. Tuy chồng của Hướng Viễn cũng chính là Tổng giám đốc tiền nhiệm của công ty Giang Nguyên – Diệp Khiên Trạch – đã mất tích hơn bốn năm là chuyện ai trong thành phố G cũng biết nhưng dù gì đó cũng là chuyện riêng tư của người ta, cô không nên rạch vào vết thương lòng này mới phải.

Nhìn vẻ mặt hối lỗi của Chương Việt, Hướng Viễn lại tỏ ra thản nhiên, cô bình tĩnh lắc đầu: “Tin tức thì nhiều nhưng chẳng có cái nào hữu ích cả”.

Nghe nói hơn bốn năm về trước, Diệp Khiên Trạch lên tàu ra biển câu cá – đó là thói quen nhiều năm nay của anh – nhưng lần đó đã một đi không trở lại. Đêm ấy, nhà họ Diệp nhận được cú điện thoại của bọn bắt cóc, điều kỳ lạ là, mặc cho nhà họ Diệp tỏ ý muốn bỏ ra khoản tiền chuộc nhưng sau đó bọn bắt cóc lại không liên lạc thêm lần nào nữa. Cảnh sát sau khi nhập cuộc điều tra cũng đã dò hỏi khắp nơi nhưng chẳng thu hoạch được gì. Tổng giám đốc Diệp Khiên Trạch của Công ty trách nhiệm hữu hạn vật liệu kiến trúc Giang Nguyên – nhà cung cấp vật liệu xây dựng nổi tiếng của thành phố G – đã biến mất trên biển cả mênh mông cùng với con tàu và bọn bắt cóc cho đến nay vẫn không rõ tung tích. Chuyện này đã trở thành tin tức nóng bỏng nhất mà các báo đài của thành phố đồng loạt đưa tin. Sau một khoảng thời gian sôi sục, vẫn còn vô số những lời đồn đại về việc này. Người nói kiểu nào cũng có, người thì bảo Diệp Khiên Trạch đã bị giết chết; cũng có kẻ lại nói do lúc ấy Giang Nguyên đầu tư thất thoát, Diệp Khiên Trạch không gánh vác nổi trách nhiệm nên mới nhảy xuống biển tự vẫn. Một số người nhiều chuyện còn nắm bắt thời cơ để sáng tác ra những câu chuyện vô cùng ly kỳ, chẳng hạn như Tổng giám đốc Giang Nguyên bỏ nhà cửa, địa vị cao chạy xa bay vì tình yêu. Quá quắt hơn là, còn có người bàn tán con dâu nhà họ Diệp xuất thân bần hàn đã ra tay quá tàn nhẫn, không cam chịu làm trợ lý cho chồng, do đó đã tự tạo ra một nghi án bắt cóc, giết người đoạt quyền. Vì thế phía cảnh sát đã nhiều lần tìm Hướng Viễn, yêu cầu “giúp đỡ điều tra”, kết quả đương nhiên là không có chứng cứ gì.

Trên thế giới này có người đóng kịch thì tất có kẻ xem kịch nhưng cho dù mọi người có nói gì đi nữa, Chương Việt cũng là bạn Hướng Viễn bao năm rồi, ân oán giữa Hướng Viễn và Diệp Khiên Trạch đều không lọt khỏi mắt cô. Cô tin rằng Hướng Viễn là một người đã quyết tâm thì không việc gì không làm được, mà đã làm thì phải tới nơi tới chốn, nhưng cho dù cô ấy đã phụ bao nhiêu người thì người duy nhất cô không thể làm thế là Diệp Khiên Trạch.

Một người phụ nữ như Hướng Viễn dù không gả vào nhà họ Diệp thì cũng chẳng đến nỗi phải buồn rầu lo nghĩ, vậy nhưng suốt bao năm cô luôn đứng sau Diệp Khiên Trạch, cùng anh chung vai sát cánh, từng bước đưa một công ty cổ phần quy mô nhỏ thời cải cách nhà nước trong tay cha anh phát triển thành một nhà cung cấp nổi tiếng ở thành phố G. Người ngoài nhìn thì thấy đây là thành công của Diệp Khiên Trạch nhưng ai đã bỏ ra công sức thế nào thì người sáng suốt đều biết rõ.

Hướng Viễn yêu tiền, ai cũng biết, nhưng trong tim cô còn có một người quan trọng hơn cả tiền bạc thì không ai hay?

Diệp Khiên Trạch đã bốn năm không rõ tung tích, sống chết ra sao. Người nhà họ Diệp đã bắt đầu tin rằng chuyện này lành ít dữ nhiều, chỉ có Hướng Viễn là chưa từng từ bỏ việc tìm kiếm anh, không chịu bỏ qua dù chỉ là một manh mối nhỏ nhất. Có những nỗi buồn và niềm đau không biểu hiện trước mặt người khác, hoàn toàn không có nghĩa là nó không tồn tại, cho dù là nữ cường nhân (người phụ nữ mạnh mẽ, giỏi giang) cũng có từ “nữ” phía trước nhưng họ có mạnh đến đâu cũng chỉ là một người phụ nữ. Thế nên, năm ấy khi nghe nói có người nghi ngờ việc Diệp Khiên Trạch mất tích liên quan đến Hướng Viễn, Chương Việt đã từng hỏi Hướng Viễn nghĩ thế nào, cô chỉ nói một câu: “Nắm được chứng cứ thì mình chịu ngồi tù, còn không thì đừng nghĩ đến chuyện diễu võ giương oai trước mặt mình”.

Trên thực tế, người làm chủ mọi việc trong nhà họ Diệp mấy năm nay đều là Hướng Viễn và không có cô cũng sẽ không có Giang Nguyên ngày hôm nay cũng là một sự thực không thể bàn cãi. Thời gian đã qua, dù một số họ hàng thân thuộc của Diệp Khiên Trạch vẫn bàn tán xì xầm sau lưng Hướng Viễn nhưng không ai dám công khai khoa chân múa tay với cô.

Như để chuyển đề tài, một lúc sau, Chương Việt chỉ một bàn nào đó trong góc sảnh PUB, cười nói với Hướng Viễn: “Nhìn thấy chưa, bên đó có một chàng cũng đẹp trai đấy chứ.”

Hướng Viễn thờ ơ nhìn sang phía đó, “Ai lại lọt vào mắt xanh của bồ rồi? Bước vào cửa này của bồ, cậu nhóc nào nhìn được một chút là bồ cũng không chịu bỏ qua.”

“Đừng nói như thể mình dâm đãng lắm ấy, mình thích ngắm những người có diện mạo xinh đẹp, cũng xem như là phúc lợi của bà chủ vậy thôi. Khoan nói gì đã, cậu nhóc kia đúng là quen thật, không nhớ rõ là đã gặp ở đâu rồi, bồ nhìn xem có ấn tượng gì không, biết đâu lại là con của nhà người quen nào đó thật ấy chứ.”

Hướng Viễn nheo mắt lại nhìn, mắt thẩm mỹ của Chương Việt vốn rất cao, “anh chàng cũng đẹp trai” mà Chương Việt nói tới thực ra là một chàng trai khoảng hơn hai mươi tuổi, tóc hớt ngắn, mày mắt tuấn tú, quả thực rất đẹp trai. Chỉ có điều cậu ta đang ngồi giữa sáu bảy đứa con gái đang điên cuồng gào thét kia, nhưng lại không hề có niềm vui của kẻ “gươm lạc giữa rừng hoa”, trái lại đôi lông mày đang nhăn lại, nhấp nhổm không yên, căng thẳng như con cừu non lạc vào bầy sói vậy.

Chương Việt cảm thấy khoái chí với cảnh tượng đó, còn gọi người phục vụ bên cạnh tới để châm dầu vào lửa, bảo tặng một cốc rượu cho anh chàng trẻ tuổi đẹp trai bên đó, nói là ưu đãi đặc biệt của bà chủ “Tả Ngạn”. Hướng Viễn không có tâm trí nào để chơi đùa với bạn mình, bèn móc tiền trong túi ra chèn dưới đáy cốc, không nhiều không ít mà vừa vặn với tiền một bình trà.

“Ngày mai mình còn phải dậy sớm, bồ cứ tự nhiên mà thưởng thức đi.”

Chương Việt biết tính cô nên cũng không khách sáo với số tiền cô trả, bảo phục vụ mang tiền đi, cũng không quên hỏi một câu khi Hướng Viễn vừa đứng dậy: “Này, bồ vẫn chưa bảo mình biết bồ có nhận ra không. Trí nhớ của mình vốn rất tốt, chàng trai này chắc chắn đã gặp rồi.”

Hướng Viễn “phì” một tiếng, “Người quen của bồ đều là cậu ấm cô chiêu, liệu có được một cậu nhóc như vậy không?”

Lúc cô đi về phía cổng đã mượn ánh sáng lấp lóa để xem giờ, chỉ mới hơn mười một giờ đêm, đối với thành phố không ngủ này mà nói, những cảnh đặc sắc nhất chỉ vừa mới bắt đầu, nhưng cô lại cảm thấy mệt mỏi rồi.

“Hướng Viễn… Hướng Viễn?”

Phía sau vẳng đến tiếng gọi cấp bách, cô không quay đầu lại mà tiến thẳng về phía trước, cho đến khi thấy có người phía sau đã tóm lấy cánh tay mình, lúc này mới quay lại với vẻ bất lực. Chàng trẻ tuổi đẹp trai mà ban nãy lọt vào mắt xanh của Chương Việt đang đứng sau lưng cô với vẻ chần chừ e ngại, lúc nhìn rõ là cô rồi, mới cười vui vẻ: “Hướng Viễn, em biết là chị mà.”

Hướng Viễn không nói gì, chỉ đùa vờn chùm chìa khóa xe trong tay, gương mặt nửa cười nửa không.

“Hướng Viễn?” Cậu nhìn thấy dáng vẻ cô lúc này, có phần bó tay lúng túng, không kìm được lại gọi tên cô lần nữa.

Vẻ mặt Hướng Viễn vẫn không chút thay đổi, lúc ấy cậu mới nhận ra, khẽ gọi một tiếng: “Chị dâu.”

Sắc mặt Hướng Viễn lúc này mới dịu lại, cô hỏi: “Đang chơi vui, sao lại ra đây làm gì?”

Chàng trai lộ ra nét khổ sở: “Mấy người đó đều là đồng nghiệp trong nhóm. Hôm nay là sinh nhật của Tiểu Lý, chị còn nhớ Tiểu Lý không? Cô ấy và em được phân công vào nhóm này cùng một đợt. Em đã nói là không đến, mà bọn họ cứ quấy rầy mãi, chưa làm em chết đã là may… Chị cũng đến đây chơi à? Một mình?”

“Ừ.” Hướng Viễn gạt tay cậu ta ra khỏi cánh tay mình, “Tôi đi trước đây, cậu quay lại chơi tiếp đi nhé.”

“Em đã nói với họ là em phải đi rồi, sao còn quay lại được? Dù gì chị cũng về nhà, có thể tiện đường đưa em về được không?” Cậu nói có phần không chắc chắn lắm, liếc trộm cô một cái, bổ sung, “Em ngồi xe họ đến đây, giờ này chuyến xe cuối cũng không còn nữa, dù gì chúng ta cũng đi cùng đường, nếu không thì gọi taxi lại tốn tiền.”

Hướng Viễn cuối cùng cũng cười, lắc đầu bảo: “Đi thì đi, đừng nhiều lời vô ích. Cẩn thận mấy cô gái kia lại đuổi theo, bắt về lại động Bàng tơ thì khốn.”

Hai người lên xe, Hướng Viễn chăm chú lái, chàng trai cũng yên lặng ngồi bên ghế phụ, cả đoạn đường không ai nói gì.

Chiếc xe lại dưới một tòa nhà chung cư bên cạnh phân cục cảnh sát hình sự Thành Nam, Hướng Viễn lên tiếng, “Đến rồi.”

Chàng trai gật đầu, “Vậy em lên trước đây, chị lái xe về cẩn thận nhé.”

“Ừ, tạm biệt.” Cô cũng gật đầu lại, nói ngắn gọn.

Chàng trai đã đẩy cửa ra, nhưng rồi không nhịn nổi lại đóng cửa ngồi lại vào xe, cúi đầu nhìn xuống bàn tay đang đặt trên đùi, nói nhỏ: “Hướng Viễn, em không biết vì sao những năm gần đây chị mỗi lúc một lạnh nhạt với em, có phải em đã làm chuyện gì khiến chị không vui? Nếu đúng vậy thì chị cứ nói, nếu là lỗi của em thì em sẽ sửa. Trước kia chúng ta đâu có thế này, từ khi anh cả xảy ra chuyện…”

“Đừng nói nữa!” Hướng Viễn cắt lời gọn ghẽ. Cô nhận ra vẻ mặt hơi tổn thương của người ngồi cạnh, rất nhanh chóng nhận ra mình đã có phần xúc động quá, nên mới trầm giọng lặp lại: “Đừng nói nữa, đừng nói nữa, Diệp Quân.”

Tất nhiên cô biết chàng trai ngồi cạnh mình này không làm gì sai trái cả, mọi vấn đề đều là ở cô, nhưng sao cô có thể nói với Diệp Quân rằng, chỉ là vì cậu có một gương mặt đẹp trai như Diệp Khiên Trạch, khiến cho cô mỗi lần nhìn thấy thì càng thấy đau lòng hơn? Cô sợ nhìn thấy cậu, giống như sợ hãi trong lòng sẽ lật lại những chuyện trước kia hết lần này đến lần khác, cứ thế mãi không thôi.

Diệp Quân dù sao vẫn rất hiểu chuyện, ngừng lại một lúc rồi mới nói: “Em làm chị đau lòng à? Hướng Viễn, anh cả đã không còn nữa…”

“Ai nói anh ấy không còn nữa?” Hướng Viễn lạnh lẽo hỏi.

Diệp Quân cười khổ sở, “Em cũng mong rằng anh ấy vẫn còn sống, như thế chị cũng không phải vất vả nữa. Nhưng gần năm năm rồi, nếu anh ấy còn trên cõi đời này, thì tại sao lại không quay về? Em không hiểu rằng tại sao chị không chịu tin, là anh ấy sẽ không về nữa. Chị chờ đợi như vậy, ngoài việc hành hạ bản thân mình một cách vô ích ra, còn có ý nghĩa gì? Lúc anh ấy còn sống đã khiến chị chờ đợi mỏi mòn như thế, vẫn chưa đủ hay sao?”

Hướng Viễn nghiêng người mở cửa ra cho bồ, “Diệp Quân, sống phải thấy người, chết phải thấy xác!”

Về đến nhà họ Diệp, Hướng Viễn tự lấy chìa khóa ra mở cửa. Dì Dương – bà giúp việc đã phục vụ cho nhà họ Diệp mười mấy năm nay – đã xin nghỉ phép một tháng về lo đám cưới con trai. Hướng Viễn luôn có thái độ “có cũng được, không có cũng chẳng sao” với sự hiện diện của bà nên cũng không có ý kiến gì, đồng ý cho bà nghỉ, muốn đi bao lâu thì đi.

Vào nhà, trước khi mở đèn, căn nhà hai tầng đen như mực nhưng Hướng Viễn không sợ tối bởi cô là đứa trẻ lớn lên ở miền núi, lúc nhỏ, không biết cô đã đi qua bao nhiêu đoạn đường khuya tối đen rồi. Lúc ấy, Khiên Trạch luôn đi bên trái cô, trên đường lúc nào cũng thích lảm nhảm: “Hướng Viễn, sao mãi không đến nơi thế?”.

Khiên Trạch hơn Hướng Viễn hai tháng, lại là con trai nhưng còn sợ bóng tối hơn cả cô. Cũng chẳng có gì là lạ, cả đám trẻ trong thôn chẳng ai to gan lớn mật như Hướng Viễn, chỉ có cô mới dám đi cùng Diệp Khiên Trạch qua hai ngọn núi hoang lạnh âm u vào đêm khuya để đến khe suối câu cá. Nửa đêm là thời điểm cá dễ cắn câu nhất, đã vài lần Khiên Trạch câu được cá to đến hai tấc. 

Hướng Viễn nhớ có một lần, họ đi mãi đi mãi, ngọn đuốc trên tay cũng dần tắt lịm, những tia lửa còn sót lại lấp lóe một lúc rồi cũng tắt ngúm giữa cơn gió núi lạnh lẽo, bốn bề bao phủ một màn đêm đen đặc tĩnh lặng như thể không bao giờ xuyên qua được. Khiên Trạch hít một hơi thật sâu, chần chừ không chịu đi, Hướng Viễn kéo tay anh nói: “Sợ gì chứ? Con đường này nhắm mắt mình cũng đi được”. Cô kéo anh đi mỗi lúc một nhanh, tiếng bước chân gấp gáp che giấu sự căng thẳng trong lòng. Thực ra, cô cũng không bình tĩnh như thế, trong núi vào ban đêm, ngoài mấy con gà rừng thỉnh thoảng nhảy vọt ra từ lùm cây còn có một số thú hoang nhỏ hung dữ nữa. Nếu những thứ này vẫn chưa thấm vào đâu thì ma rừng mà người già vẫn thường kể lại cũng đủ khiến hai đứa trẻ tầm mười tuổi này tim đập chân run.

Vòng hết con dốc phía trước, thấp thoáng có hai đốm lửa lập lòe trong bóng đêm. Ở một nơi đồng không mông quạnh thưa người thế này, ánh lửa đó còn quái dị và âm u hơn bất kỳ bóng tối nào. Tay Khiên Trạch lạnh ngắt, hai bàn tay họ nắm chặt lấy nhau, ẩm ướt và trơn tuột, không biết là mồ hôi của ai toát ra.

“Hướng Viễn, đó là gì thế?”, giọng anh như tiếng thì thào bên tai.

Hướng Viễn lắc đầu.

“Vậy chúng ta mau đi đi.” Lần này đến lượt Khiên Trạch kéo mạnh Hướng Viễn đi về phía trước. Hướng Viễn gỡ tay Khiên Trạch ra. Cô không giống anh, mỗi lần Khiên Trạch gặp phải những vấn đề không thể đối diện được, anh thường thích đi vòng để tránh còn Hướng Viễn lại thích đón đầu để xem cho rõ, cho dù cô cũng sợ hãi nhưng so với nỗi lo lắng hoài nghi khi chưa biết đầu đuôi sự thể, cô càng muốn có một đáp án và kết quả rõ ràng hơn. Thế nên cô bất chấp sự ngăn cản của Khiên Trạch, cẩn thận lần mò để bước đến đó. Sau khi đi được vài bước, cô nghe thấy tiếng bước chân vội vã bám theo của Khiên Trạch.

Đến khi hai đốm lửa đó hiện ra trước mắt, hai người đã nhìn rõ cảnh vật xung quanh: thì ra đó chẳng phải là ma trơi mà là có người dựng một gian thờ ngay dưới gốc đại thụ, đặt một bức tượng Quan Âm ở đó. Ánh lửa chưa được dập tắt ấy chẳng qua chỉ là ánh nến đang cháy leo lét trước gian thờ mà thôi.

Đa số người miền núi đều mê tín, họ tin rằng những gốc cây già cỗi đều có linh hồn nên cảnh dựng gian thờ dưới những gốc cây không phải là hiếm, có điều những người đi trong đêm sẽ phải giật mình một phen.

Tượng Quan Âm bằng đất nung có vẻ thô sơ, ngũ quan mờ nhạt dưới ánh nến khiến người ta không thấy vẻ từ bi mà ngược lại có đến mấy phần đáng sợ, nhìn lâu sẽ thấy rùng mình. Khiên Trạch chắp hai tay lại, vái một cái mang tính tượng trưng, còn Hướng Viễn lại dùng chân đạp mạnh để dập tắt đốm lửa đó. Anh còn chưa kịp lên tiếng thì ngọn nến đã bị cô đạp xuống đống lá khô bên dưới, nát vụn. “Giả thần giả quỷ làm mình giật mình, ghét nhất cái thứ đồ chơi kỳ quái loạn thần này.” Nói xong, cô cẩn thận di mũi chân dập nốt tàn lửa rồi mới đi theo Khiên Trạch tiến về phía trước.

Đoạn đường sau đó, Khiên Trạch tỏ ra không vui, không cười nói với cô như lúc nãy, cô hỏi câu nào anh mới trả lời câu đó. Hướng Viễn biết, anh không vui vì chuyện khi nãy. Mẹ Diệp Khiên Trạch tin Phật nên anh cũng thấy kỵ húy và nể sợ những thứ đó nhưng Hướng Viễn lại căm ghét kiểu thần bí khó đoán ấy. Những lúc như vậy, Hướng Viễn đều không muốn cãi cọ với Diệp Khiên Trạch. Họ có quá nhiều điểm khác nhau, giống như anh câu được cá thì luôn muốn phóng sinh chúng, còn cô chỉ muốn đem lên thị trấn bán lấy tiền.

Lúc im lặng, quãng đường càng trở nên xa hơn. Vừa trèo lên đỉnh núi, tầng mây đen đặc bỗng nứt ra một khe hở, vầng trăng sơn cước rạng rỡ hé lộ, chiếu sáng bốn bề.

Sẽ chẳng có cái gì trong sáng bằng ánh trăng nơi vùng núi sâu thẳm, bóng tối xấu xí cũng trở nên thuần khiết lạ thường trong ánh sáng bạc ấy, tất cả như được sự tái sinh gột rửa bụi trần.

“Hướng Viễn, nhìn kìa, mặt trăng xuất hiện rồi”, Khiên Trạch lắc tay cô, ngửa đầu lên nhìn trời. Cô biết anh sẽ không giận ai quá lâu, lúc nào cũng thế, rất dễ dàng nhớ những thứ tốt đẹp và quên ngay những chuyện không vui, chút niềm vui nho nhỏ cũng khiến anh vô cùng hài lòng. Với Hướng Viễn mà nói, mặt trăng lúc nào cũng ở trên trời, nó xuất hiện thì có gì là lạ đâu? Nhưng khi ngắm gương mặt nhìn nghiêng hiền lành của Khiên Trạch, cô cảm thấy anh như hòa vào làm một với ánh trăng kia, cô bỗng phát hiện ra, ánh trăng này quả thực đẹp đẽ biết bao…

Chương 2

Mất đi quá nhiều rồi cũng sẽ quen nhưng Hướng Viễn bỗng thấy vô cùng sợ thói quen ấy. Cô sợ lỗ hổng trong tim mình. Phải dùng thứ gì mới có thể lấp đầy được nó đây?

Ở thành phố này, Hướng Viễn cũng không biết đã bao lâu rồi mình không nhìn thấy mặt trăng. Cho dù có nhìn thấy đi chăng nữa thì nó cũng đã bị ảm đạm, nhợt nhạt dưới ánh đèn neon. Cô bám vào tay vịn cầu thang trơn tuột lạnh lẽo, bước từng bước lên lầu, không hiểu vì sao hôm nay cô chìm vào hồi ức quá dễ dàng. Có lẽ hôm nay nhiều người đã vô tình cố ý lật giở những chuyện trước kia chăng.

Bức tường cạnh cầu thang vốn treo đầy những bức ảnh của nhà họ Diệp: ảnh chụp cả nhà, có Diệp Khiên Trạch thời niên thiếu, có cha mẹ anh, có cả Diệp Quân. Hai năm trước, Hướng Viễn đã bảo dì Dương – người giúp việc lâu năm cho nhà họ Diệp – thu dọn tất cả xuống để dẹp vào căn gác lửng. Dì Dương làu bàu, cằn nhằn suốt mấy ngày nhưng cuối cùng cũng chẳng dám nói nhiều trước mặt Hướng Viễn. Sao cô lại không biết bà đang suy nghĩ gì? Nói cô bạc tình cũng được, nhẫn tâm cũng chẳng sao, người đã đi rồi, giữ lại những bức ảnh này liệu còn có ý nghĩa gì nữa?

Dì Dương đã già, bà cũng giống như những người khác, lúc nào cũng thích nhắc đến nhà họ Diệp như thể đó là một gia tộc vô cùng phồn thịnh. Thực ra những người nhà họ Diệp cũng chẳng có mấy người, người thì chết, kẻ thì ốm đau, người thì bỏ đi, kẻ lại mất tích, cuối cùng chỉ còn lại một người ngoài là cô.

Căn phòng đầu tiên ngay đầu cầu thang của dãy hành lang dài chính là phòng đọc của Diệp Khiên Trạch. Trước khi Hướng Viễn đến đây, lúc nào cô cũng thấy ánh đèn lóe ra từ cửa căn phòng khép hờ ấy, thời gian anh ở trong đó nhiều hơn bên cô rất nhiều. Ngay sát phòng đọc chính là phòng của Diệp Linh, Diệp Linh mất sau khi Hướng Viễn về làm con dâu nhà họ Diệp được ba năm. Từ đó, trong mấy năm khi Khiên Trạch vẫn còn ở đây, căn phòng này trở thành cấm địa, cửa lúc nào cũng đóng im ỉm, bây giờ đến cả dì Dương nếu không có chuyện gì bất đắc dĩ lắm thì cũng không bao giờ chịu bước vào. Tuy Diệp Linh là do một tay bà nuôi nấng nhưng bà nói, mỗi lần vào căn phòng đó đều cảm thấy âm u đáng sợ. Hướng Viễn thấy nực cười, cô chưa từng tin quỷ thần bao giờ nhưng cô nhớ rõ lúc ấy, máu thấm đẫm người Diệp Linh, chảy đầy ra sàn, vấy đầy tay cô, vẫn còn có hơi ấm và vị tanh tanh, rửa thế nào cũng không sạch. Một ký ức như thế, dù là ai cũng không muốn nhắc đến, đó cũng là lý do cô rất hiếm khi mở cánh cửa phòng ấy.

Cha mẹ Khiên Trạch vốn ở trong phòng ngủ chính nhưng sau khi con trai kết hôn, họ đã chuyển đến căn phòng lớn ở phía nam. Bà Diệp là kế mẫu của Khiên Trạch, đã qua đời vì bệnh ung thư dạ dày. Trong ấn tượng của Hướng Viễn, đó là một phụ nữ trầm lặng, dạy mỹ thuật ở trường đại học. Bà không phải mẹ ruột của Khiên Trạch nhưng giống như những người nhà họ Diệp khác, trên người bà luôn phảng phất sự cảm tính và nét dịu dàng ấm áp.

Những năm này, người gần gũi với Hướng Viễn trong Diệp gia lại là cha chồng cô – Diệp Bỉnh Lâm – nhưng sức khỏe ông không được tốt, đã bị trúng gió mấy năm nay, vào bệnh viện rồi không ra nữa. Hiện tại, Hướng Viễn thường đến bệnh viện mỗi tuần một lần, một là thăm hỏi tình hình sức khỏe của ông, hai là báo cáo mang tính tượng trưng mọi việc ở Giang Nguyên. Người nhà họ Diệp đều hồn hậu lương thiện, không tranh đoạt với người đời lại vui vẻ dễ gần nhưng chẳng ai có kết cục tốt đẹp, điều này càng khiến Hướng Viễn chẳng tin thánh thần, cho dù họ có tồn tại cũng chỉ là vô ích. Phải rồi, còn có Diệp Quân, cậu ấy cũng có dòng máu nhà họ Diệp. Cậu ấy vốn là đứa con trai nhỏ của Diệp gia nhưng sau khi lên đại học đã chuyển ra ngoài ở. Có lẽ trong lòng cậu ấy nhận thấy mình không phải là một thành viên thật sự trong ngôi nhà này.

Hướng Viễn tắm rửa xong, ngồi trước bàn trang điểm rồi lấy chiếc ví da trong túi xách ra. Cô lấy hết tiền bạc trong đó ra rồi chăm chú đếm qua một lượt, cẩn thận vuốt từng nếp nhăn trên mỗi tờ tiền, sắp xếp cẩn thận rồi kẹp lại vào trong ví, sau đó mới rửa tay đi ngủ.

Đó là thói quen từ nhỏ của cô, bắt buộc phải đếm kỹ một lần toàn bộ tiền mặt có trong người một lượt mới có thể xem như là tổng kết cuối cùng trong ngày. Hiện tại, cô không còn phải chắt bóp từng xu từng hào để sống qua ngày như xưa nhưng cô là một người luôn giữ thói quen, hoặc có lẽ là chuyện này đã trở thành một dạng nghi thức trong lòng, quan trọng ngang với việc mẹ ruột của Khiên Trạch mỗi ngày đều trở dậy từ sớm tinh mơ để thắp hương khấn Phật vậy.

Kỳ thực, tiền cũng là một thứ ấm áp, Hướng Viễn luôn nghĩ vậy, có nó rồi, cô mới thấy trái tim của mình trở nên vững chắc. Nó còn đáng tin cậy hơn nhiều thứ trên thế gian này, một trăm là một trăm, một nghìn là một nghìn, không khó xác định số lượng như những thứ mơ hồ khác; nó lại công bằng hơn rất nhiều thứ nữa, bạn bỏ ra bao nhiêu thì sẽ đổi lại được bấy nhiêu.

Tiền thì có gì không tốt đâu? Ít nhất là có nó rồi mới có tư cách coi tiền tài như rác rưởi. Bao người lừa lọc ranh ma, không cần sĩ diện, chẳng qua cũng vì tiền cả. Hướng Viễn nhớ lúc ở công ty, có một cuộc điện thoại trong văn phòng, thư ký nghe máy, không biết là ai nhưng vì đối phương nhắc đến một số chuyện của Diệp Khiên Trạch nên thư ký không dám giấu cô.

Giọng đàn ông khàn khàn vang lên ở đầu dây bên kia: “Bà Diệp, chúng ta vào đề luôn nhé. Tôi nghĩ chắc bà luôn quan tâm đến tung tích của ông nhà, chi bằng chúng ta thực hiện một cuộc giao dịch đi”.

Hướng Viễn khi ấy đã cười không thành tiếng. Sau khi Khiên Trạch mất tích, không biết cô đã nhận bao nhiêu cuộc điện thoại kiểu này. Có người bóng gió xa gần, có kẻ lại nói toạc móng heo nhưng đều là muốn có tiền cả. Cô không quan tâm chuyện tiền bạc nhưng chẳng có ai cho cô chút hy vọng nào.

“Giao dịch với tôi? Phải xem ông dựa vào cái gì đã chứ”, cô nói.

“Dựa vào cuộc điện thoại cuối cùng ông Diệp gọi cho bà. Ông ấy đã nói gì, chắc bà không đến nỗi quên rồi chứ?”

Nụ cười trên gương mặt Hướng Viễn dần tắt lịm. Sao cô quên được cuộc gọi đó. Trong danh sách cuộc gọi của chiếc điện thoại di động đặt trên đầu giường cô hơn bốn năm luôn giữ lại số điện thoại đó. Thời gian gọi bốn mươi chín giây, đó là câu cuối cùng anh nói với cô, đến chết cô cũng không quên.

Cô lên tiếng với gã đàn ông kia bằng vẻ bình thản: “Cuộc điện thoại ông nói không đáng giá chút nào. Nếu thật sự có tin tức về anh ấy, chắc ông phải biết làm thế nào mới thuyết phục được tôi tin ông đúng không? Tôi đợi ông liên lạc lại”.

Hướng Viễn nói xong thì gác máy. Cô là người làm ăn, đương nhiên biết rõ người bán bao giờ cũng nóng ruột hơn kẻ mua. Cô không biết thế giới này thật sự có người biết được tung tích của Khiên Trạch hay không nhưng quan tâm nhiều ắt sẽ loạn, cô bắt buộc phải bình tĩnh.

Trước khi chìm vào giấc ngủ, cô nhủ thầm: “Hướng Viễn, đừng nằm mơ”.

***

Đêm ấy, Hướng Viễn không được như ý nguyện, chẳng những cô đã chìm vào một giấc mơ dài mà giấc mơ ấy còn quay lại nhiều năm về trước. Mỗi gương mặt, mỗi đoạn một cảnh rời rạc trong mơ đều tươi mới đến bất ngờ. Rất nhiều lần, khi tỉnh táo, cô đã từng cố gắng hồi tưởng nhưng không thể rõ ràng, sắc nét như trong mơ.

Năm ấy vào ngày đầu tiên của tháng Mười, tuần lễ hoàng kim nghỉ dài vừa bắt đầu đã khiến thôn quê nhỏ của Hướng Viễn trở nên náo nhiệt lạ thường. Người trong thành phố nườm nượp kéo đến, có người trong tỉnh, cũng có người từ các tỉnh ngoài, trong số đó còn có cả những du khách ngoại quốc tóc vàng. Tuy đã qua khoảng thời gian hoa cải nở vàng rực rỡ vào tháng Ba nhưng những du khách vẫn lôi máy ảnh ra chụp lách tách không ngừng, cây hòe già ngay cổng thôn, những ngôi nhà ngói cũ kỹ của người dân và cả những cụ già ngồi trước nhà, họ đều thấy mới lạ, thú vị. Bước chân của họ đạp lên những ngọn cỏ dại mọc ven đường, đạp nát cả vườn rau của người dân. Có điều, người trong thôn không còn chấp nhặt chuyện đó nữa, những năm đó, phong cảnh đặc trưng của thôn trang trở nên nổi tiếng khắp nơi. Ngành du lịch đã mang đến cơ hội làm ăn cho thôn quê vốn khép kín trước kia, không ít người dân tinh khôn đã biết cách kiếm ăn từ những người “thành thị sành điệu” này, họ bắt đầu làm công việc hướng dẫn nửa mùa, những tiệm ăn Nông Gia Lạc và nhà nghỉ mọc lên như nấm. Tất nhiên, người nghĩ đến vấn đề kiếm tiền này từ trước đó rất lâu chính là Hướng Viễn – cô con gái lớn của nhà họ Hướng. Từ khi cô học lớp 9, những người từ nơi khác đến thôn chẳng ai là không biết đến cô bé hướng dẫn viên hoạt bát, miệng lưỡi nhanh nhẹn cùng nụ cười tươi rói này. Đến bây giờ, bản lĩnh của cô vẫn không ai bì được, nhà nghỉ gia đình của gia đình cô cũng làm ăn rất phát đạt.

Hôm ấy, Hướng Viễn dậy từ sớm. Lúc cô dọn dẹp mọi thứ để chuẩn bị đi, mặt trời vẫn còn e ngại phía bên kia ngọn núi, Hướng Dao vẫn còn lười biếng trên giường. Hướng Viễn đứng ở cửa gọi to một tiếng: “Phải dậy rồi đấy, nấu cơm đi, không chừng lát nữa sẽ có du khách đến ở đấy”.

Nói dứt câu, không đợi phản ứng của Hướng Dao, cô đã vội vã bỏ đi. Một lúc sau, Hướng Dao làu bàu một tiếng, cho dù cơn mê ngủ vẫn còn nhưng không thể không dậy. Hướng Dao vừa lên lớp sáu, hôm nay là ngày nghỉ lễ đầu tiên. Giống như những cô bé cùng tuổi khác, cô chúa ghét dậy sớm, chỉ ước được nằm trên giường ngủ một giấc say sưa quên cả đất trời nhưng chẳng còn cách nào khác, cô đành phải nghe lời Hướng Viễn thôi.

Từ nhỏ, Hướng Dao đã sợ Hướng Viễn. Có lẽ là do mẹ qua đời sớm, chị cả là mẹ nên từ nhỏ Hướng Viễn làm việc gì cũng linh hoạt nhanh nhẹn, trở thành trụ cột trong nhà. Cha của họ – Hướng Vân Sinh – là thanh niên trí thức ở thành phố, cưới một cô gái trong thôn, sau khi có con cũng cam tâm ở lại bám trụ mảnh đất này.

Hướng Vân Sinh thời trẻ là một người đa tài đa nghệ, đọc rất nhiều sách, viết chữ đẹp, còn biết kéo nhị hồ, thêm vào đó là tướng mạo tuấn tú nên không biết đã cuốn hút biết bao cô gái trong thôn. Cuối cùng, người trở thành vợ ông, cũng chính là mẹ của Hướng Viễn, Hướng Dao là một cô gái nhanh nhẹn, xinh đẹp nổi tiếng gần xa. Sau khi kết hôn, Hướng Vân Sinh và vợ rất tâm đầu ý hợp. Ông cũng từ bỏ cơ hội trở về thành phố, tự nguyện chân lấm tay bùn cả một đời ở nơi thôn quê hẻo lánh này. Chuyện này đã trở thành một giai thoại trong thôn. Tình cảm của Hướng Dao với ông cũng rất gắn bó, có lẽ người thờ ơ với chuyện đó chỉ có mỗi Hướng Viễn.

Đối với Hướng Viễn mà nói, cha của cô vai không thể vác, tay không thể xách, đến gánh nước cũng lảo đảo không vững. Lúc mẹ cô còn sống, moi việc đều do bà gánh vác. Vì lao động trong nhà ít, những thứ có thể trồng trọt được cũng không nhiều, bởi vậy lúc Hướng Viễn còn nhỏ, nhà họ luôn là hộ nghèo nhất trong thôn. 

Cô không bao giờ quên được buổi hoàng hôn ấy, mẹ vừa hạ sinh cặp song sinh không lâu đã phải cắn răng, gương mặt trắng bệch đi gánh nước, nước văng ra ướt cả đoạn đường, còn Hướng Vân Sinh lại ngồi dưới gốc cây trước cửa nhà kéo nhị hồ. Thần thái chìm đắm trong mộng của ông khiến cô bé Hướng Viễn vô cùng phẫn nộ, cô ao ước mình có thể trưởng thành ngay để đỡ hộ gánh nặng trên vai mẹ, rồi vứt cả cây nhị hồ phiền phức đáng ghét kia đi.

Thế nhưng, cho dù mẹ cô có khổ sở, vất vả đến mấy thì ánh mắt nhìn theo người đàn ông ở trước cửa kia vẫn là nét mê đắm.

Hướng Viễn không thể hiểu nổi sự mê đắm ấy.

Từ nhỏ cô đã cảm thấy cha mình là một người vô dụng, chỉ biết có phong hoa tuyết nguyệt. Năm cô mười tuổi, Hướng Dao, Hướng Dĩ bốn tuổi, mẹ cô bị bệnh liệt giường, sau đó rũ tay mà đi, ý nghĩ này của cô càng ăn sâu gốc rễ hơn. Cô tin rằng nếu không phải do cuộc sống quá vất vả thì mẹ cô sẽ không ra đi sớm như vậy. Mà lúc mẹ cô bị bệnh, người đàn ông ấy ngoài việc nắm chặt tay bà khóc lóc ra thì chẳng làm được trò trống gì. Chỉ là cảm xoàng rồi viêm phổi nhưng vì không có tiền vào bệnh viện nên cứ nằm lay lắt ở nhà. Một căn bệnh bình thường như thế đã lấy đi mạng sống của một phụ nữ chưa đến ba mươi tuổi cũng khiến ba đứa trẻ nhà họ Hướng mất đi người mẹ.

Những năm tháng sau khi vợ qua đời, Hướng Vân Sinh vẫn không thể hồi phục sau nỗi đau mất vợ, tiếng đàn nhị hồ ông kéo mỗi lúc một bi thương, rượu uống càng lúc càng nhiều hơn. Lúc ấy, trưởng lão trong thôn cũng khuyên ông nên tục huyền, ông chỉ cười nhạt một tiếng rồi từ chối ngay mà không hề do dự. Mọi người đều khen ông là một kẻ si tình. Hướng Vân Sinh luôn nói với các con rằng: thư trung tự hữu hoàng kim ốc, thư trung tự hữu nhan như ngọc (sách là người thầy vĩ đại của chúng ta) nhưng ông chưa từng nghĩ đến chuyện tiền học phí của các con từ đâu ra, nếu không vượt qua được cơn khốn khó này thì phải làm sao? Cô bé Hướng Viễn mười tuổi chỉ còn cách dắt cậu em trai Hướng Dĩ đi khắp nơi mượn tiền họ hàng thân thích. Hướng Dao từ nhỏ da mặt mỏng, cô giống Hướng Vân Sinh, không muốn làm những chuyện như vậy; chỉ có Hướng Dĩ, từ bé đã luôn lẽo đẽo theo chị cả, Hướng Viễn đi đâu là theo đó. Hàng xóm thấy hai đứa bé đáng thương, cộng thêm Hướng Viễn hiểu chuyện lanh lợi, Hướng Dĩ ngoan ngoãn hiền lành, đều là những đứa trẻ khiến mọi người phải thương xót nên dù nhà họ cũng không dư dả gì nhưng cũng luôn đồng ý tiếp tế.

Người đối đãi tử tế nhất với nhà họ chính là thím Trâu ở cuối thôn. Khi mẹ mất, quần áo của chị em Hướng Viễn đều do thím khâu vá. Hướng Viễn cũng nghe thấy một số lời đồn đại, những người hiếu kỳ trong thôn đều nói, thím Trâu trước khi lấy chồng đã yêu Hướng Vân Sinh, chỉ tiếc là lạc hoa hữu ý, lưu thủy vô tình. Sau khi Hướng Vân Sinh cưới vợ, thím cũng được gả cho một thanh niên trí thức khác mang họ Diệp trong thôn. Sau khi hạ sinh một cậu con trai, trí thức họ Diệp quyết định trở lại thành phố, trước khi đi còn ấp úng đề nghị ly hôn, thím cũng không làm khó, đồng ý ngay. Không lâu sau, thím tái giá một người đàn ông họ Trâu, hai người ở với nhau cũng sinh ra một cậu nhóc. Vài năm sau, chồng cũ ở thành phố quay về dẫn cậu con trai lớn đi, thím ở lại với người chồng sau và đứa con nhỏ của hai người nhưng việc này không làm thay đổi tình cảm của thím Trâu dành cho chị em Hướng Viễn.

Hàm nghĩa trong những lời đồn đại đó, Hướng Viễn cũng hiểu được ít nhiều nhưng cô mặc kệ. Đối với cô, những lời nói nước chảy mây trôi đó cũng như tình cảm, đều là hư ảo, nhưng lòng hảo tâm của thím Trâu là có thật. Thậm chí cô còn tin rằng, thím Trâu giỏi giang lương thiện giúp đỡ nhà cô không phải là vì yêu thầm ông bố vô dụng của cô mà do thím tin Phật. Hướng Viễn tuy không tin Phật nhưng cô có thiện cảm kỳ lạ với những người tin Phật, vì điều gì thì chỉ mỗi cô biết.

Và cứ như thế, dựa vào sự tiếp tế của mọi người, khoảng thời gian thơ ấu của Hướng Viễn đã trôi qua trong khó khăn vất vả nhưng cũng may là vẫn còn được đi học. Đây là điều duy nhất khiến Hướng Viễn thấy cảm kích cha mình, tuy ông không có tiền nhưng cũng không có quan niệm trọng nam khinh nữ.

Bắt đầu tuổi ăn tuổi lớn, Hướng Viễn đã là trụ cột trong ngôi nhà làm nghề nông này nhưng dù gì cô vẫn còn nhỏ tuổi, lại là con gái nên những chuyện có thể làm vẫn có hạn. Cũng may sau khi ngành du lịch trong thôn phát triển, người ngoài đến thôn mỗi ngày một nhiều nên cô đã nghĩ ra ý định kiếm tiền từ du khách. Lúc học lớp tám, cô đã dẫn đường cho du khách đi một vòng ra sau núi, kiếm được mười tệ đầu tiên trong cuộc đời, nửa đêm giữ khư khư không ngủ nổi, từ đó cô bắt đầu công cuộc làm ăn của mình.

Lúc đầu, người trong thôn còn cảm thấy kỳ quặc, nói rằng không phải là nghề nghiệp chính đáng nhưng nhìn thấy người đến quá đông, Hướng Viễn cũng kiếm được mỗi lúc một nhiều nên họ từ ngưỡng mộ chuyển sang bắt chước, “ngành du lịch” của cả thôn mấy năm ấy bắt đầu khá lên rõ rệt.

Trong suốt thời gian đó, Hướng Vân Sinh luôn giữ thái độ không tán đồng. Ông không thích con gái mình làm cái chuyện “đầu cơ tích trữ”, “ruồi bu vớ vẩn” này, càng không thích hạ mình với những người thành phố chỉ để kiếm vài đồng bạc nhưng ông không thể quản lý nổi Hướng Viễn bởi trên thực tế, từ ngày kiếm được thu nhập cho gia đình, Hướng Viễn đã trở thành chủ gia đình. Chính cô đã giúp người nhà không cần dựa vào tiếp tế để sống qua ngày nữa, là cô đã giúp em gái, em trai được đi học. 

Những du khách nườm nượp kéo đến rồi đi đã khiến cuộc sống nhà Hướng Viễn mỗi lúc một khá hơn, cô tin rằng sẽ còn tốt đẹp hơn nữa, còn về tốt đến mức độ nào thì cô không tưởng tượng được. Nhưng cũng như hàm nghĩa từ “viễn” trong tên cô, trái tim của cô cũng ở một nơi xa xăm. Một người như cô sao có thể bị bó buộc cả đời ở một thôn quê nhỏ bé được? Cô sẽ vươn dài đôi cánh, bay ra khỏi thôn quê nhỏ bé này, hướng về một thế giới to lớn hơn đẹp đẽ hơn, bay đến cạnh người mà cô luôn nhớ nhung.

Thế nhưng, đúng vào lúc mọi thứ đang trở nên tốt đẹp hơn, cũng là năm Hướng Viễn mười sáu tuổi, cô đã mất đi em trai Hướng Dĩ mà cô yêu thương nhất.

Đó là một buổi hoàng hôn, Hướng Dĩ dắt theo chú chó vàng già trong nhà, đến đầm Gà Rừng trong thôn để gọi cô chị song sinh Hướng Dao đang chơi đùa ở đó về nhà ăn cơm, từ đó không quay về nữa. Hai hôm sau, thi thể của cậu nổi lên giữa mặt đầm, căng phềnh những nước, trương lên giống một con rối được thổi phồng hơi vậy.

Đó là lần thứ hai Hướng Viễn mất đi người thân yêu nhất sau khi mẹ cô qua đời. Hướng Dĩ từ nhỏ thân thiết với cô nhất, Hướng Dĩ ngoan ngoãn hiểu chuyện nhất, Hướng Dĩ thích nũng nịu kéo dài từ cuối khi gọi “chị ơi”, đã trở thành một “con rối” không động đậy rồi.

Lúc vớt Hướng Dĩ lên khỏi đầm nước, Hướng Vân Sinh khóc lóc thảm thiết, còn Hướng Dao ốm liệt giường ở nhà, chỉ mỗi Hướng Viễn không khóc, lúc ấy cô gái mười sáu tuổi Hướng Viễn bình tĩnh lo cho Hướng Dĩ dưới sự giúp đỡ của người thân trong thôn. Buổi tối, bất chấp sự ngăn cản của Hướng Vân Sinh và tiếng khóc của Hướng Dao, cô đốt sạch tất cả quần áo và một số ít hình ảnh của Hướng Dĩ. Người đã chết rồi, còn giữ lại những thứ này làm gì nữa?

Buổi tối, một mình cô trèo lên đỉnh ngọn núi phía sau thôn, đứng ở nơi cao nhất nhìn về phía bên kia của núi, chỉ thấy ánh trăng vàng vọt treo lơ lửng trên cao. Ngoài thôn là xã, ngoài xã là thị trấn, còn thế giới ngoài thị trấn nữa là gì? Mặt trăng có khi nào cũng lớn và cô độc như vòng phân cấp ấy? Tâm nguyện lớn nhất của Hướng Dĩ là sau khi trưởng thành sẽ vượt núi non ra bên ngoài ngắm nhìn mọi thứ, cậu luôn bám theo Hướng Viễn, bắt chị dẫn đi, đó là lúc duy nhất cậu đòi hỏi chị mình như thế. Thực ra khi ấy, nơi xa nhất mà Hướng Viễn đi được cũng chỉ là thị trấn cách đó hơn mười dặm, thậm chí cô còn không biết ngồi xe ra khỏi nơi núi non này tốn hết bao nhiêu tiền, nên cô mới đanh mặt lại với Hướng Dĩ, cậu bé ngoan ngoãn ấy tưởng chị mình tức giận, lúc nào cũng im miệng không nói gì nữa.

Cô ngỡ cái cô cần nhất chẳng qua chỉ là thời gian, đợi khi cô mọc dài đôi cánh rồi sẽ đưa người thân của mình cùng đi ngắm thế giới hào nhoáng bên ngoài kia. Thế nhưng tại sao mọi thứ lại trở nên như vậy? Hướng Viễn không rõ. Cô chỉ mong muốn cuộc sống sẽ mỗi ngày một tốt hơn, cô nhất định sẽ có nhiều tiền hơn, nhưng tại sao những người cô yêu lại lần lượt ra đi?

Khi ấy cô vẫn không hiểu được rằng, cho dù cô là Hướng Viễn thì thế giới này vẫn còn quá nhiều việc mà cô không thể nắm bắt được.

Sau khi Hướng Dĩ mất đi, cuộc sống vẫn phải tiếp diễn. Hướng Vân Sinh mỗi ngày một uống nhiều rượu hơn, say khướt hơn, Hướng Dao lại bắt đầu thấy sợ Hướng Viễn – trong lòng cô hiểu rõ, nếu không phải do Hướng Dĩ nhảy xuống đầm cứu cô bị chuột rút, thế thì người không trở về được chắc sẽ là cô. Hướng Viễn không hề nói lời nào về chuyện này, nhưng từ ánh nhìn của chị mình, Hướng Dao đoán rằng chuyện gì chị cũng biết. Hướng Viễn thương yêu Hướng Dĩ như thế, hơn nhiều so với người chị song sinh là cô đây. Hôm chôn cất Hướng Dĩ, cô đã gọi Hướng Viễn một tiếng “chị”, nhưng Hướng Viễn lại như không nghe thấy gì. Từ hôm đó trở đi, Hướng Dao không có can đảm gọi Hướng Viễn là chị nữa, tuy người chị này vẫn chăm lo kỹ càng cho cuộc sống của cô như trước đây.

Người ta nói rằng, phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí, câu nói này vô cùng chí lý. Mười bảy tuổi, Hướng Viễn đỗ vào trường trung học tốt nhất trong thị trấn, vẫn chưa kịp mừng thì trên đường về đã nghe thấy tin cha mình tử vong. Hướng Vân Sinh nghe nói con gái đỗ vào trường tốt nên nhân lúc vui sướng, đã cầm mấy đồng bạc trong tay đi ra ngoài xã mua rượu uống mừng, không ngờ giữa đường về, lúc đi ngang cây cầu treo duy nhất phải đi qua ở cửa thôn, chiếc cầu treo cũ kỹ chưa được sửa đã đứt làm hai, ông đã rơi xuống vực theo đoạn cầu gãy ấy. Lúc mọi người tìm thấy thi thể của ông, bên cạnh còn có một xác chết phụ nữ khác, đó chính là thím Trâu.

Không ai biết được, họ xuất hiện cùng lúc trên cầu có phải là trùng hợp hay không. Cuối cùng họ đã xảy ra chuyện gì, đã nói những gì, cũng vĩnh viễn trở thành một câu đố theo cái chết của hai đương sự. Thím Trâu cả đời tin Phật, nhưng có đốt hương ngày đêm lễ Phật cũng không thể nào khiến thím tránh khỏi tai họa từ trên trời rơi xuống – có lẽ, kết cuộc này là một cách bảo vệ khác cho thím của Phật Tổ chăng. Tóm lại, người đã mất thì yên lành rồi, người còn sống mới bàn tán dị nghị, tất cả mọi lời lẽ phỏng đoán đều không quan trọng nữa.

Sau khi chôn cất cha mình, Hướng Viễn cũng cảm thấy lạnh người vì khả năng thuần thục khi xử trí chuyện này của mình. Cô khinh thường cha mình, rất nhiều lúc khi ông còn sống, cô thấy ông là một phế vật, là một kẻ ăn bám, nhưng khi biết được tin ông chết, rất rất lâu sau cô vẫn chưa định thần lại. Huyết thống là thứ không thể hiểu nổi, cô tự hỏi mình, có thật là cô căm ghét người đã cho cô một nửa sinh mệnh này không? Hướng Dao khóc lóc thê thảm, Hướng Viễn muốn vỗ vỗ vai cô, nhưng tay không làm sao cất lên được. Ánh mắt Hướng Dao nhìn cô chằm chằm, như đang nói: “Chẳng phải chị luôn mong ngóng cha chết hay sao? Lần này ổn rồi chứ?”

Phải rồi, lần này thì ổn rồi, lần này thì sạch sẽ rồi. Cô cảm thấy trong tim mình như có một lỗ hổng, gió cứ xuyên thốc qua, tiếng vọng không ngớt… Thế giới này ai sẽ không ra đi? Người bạn yêu, người bạn hận, kể cả bản thân bạn, đều sẽ ra đi, chẳng có gì ở lại bên cạnh bạn vĩnh hằng cả. Mất đi quá nhiều, rồi cũng sẽ quen, nhưng Hướng Viễn bỗng thấy vô cùng khiếp sợ thói quen ấy, cô sợ hãi lỗ hổng trong tim mình, phải dùng thứ gì mới có thể khỏa lấp được nó đây? Nhưng thế nào rồi cũng phải tìm một thứ gì đó lấp đầy nó. Nhớ nhung? Nhớ nhung duy nhất cô gửi gắm ở nơi xa kia cũng quá mơ hồ, nếu không tìm thấy cái khác, thế thì chỉ còn tiền. Rất nhiều rất nhiều tiền, phải, cô nhất định phải kiếm ra thật nhiều tiền, tiền mới là thứ mà người ta có thể nắm trong tay được.

Không biết từ khi nào mà Hướng Viễn đã tập được thói quen mỗi tối đếm tiền ấy. Cô luôn mang tất cả số tiền dư trong người ra đếm lại một lượt thật kỹ càng trước khi đi ngủ, khi đếm xong từng tờ từng tờ, sẽ vuốt cho phẳng lại những nếp gấp trên đó, lấy giấy da bò cuộn bao lại. Trong quá trình ấy, cô luôn mang sự chân thành như một kiểu tôn giáo nào đó, cũng chỉ vào lúc này, cô mới không nghe thấy tiếng gió gào thét xuyên qua lỗ hổng trong trái tim mình.

Chương 3

Đã nói mây trời dễ tan, không có chữ “mây” này, thì chỉ còn lại một “người” cô độc. Phú quý tuy tốt, nhưng chỉ sợ những người thân thích trong cuộc đời cô không còn nữa, thì cuối cùng cũng chỉ đơn độc một mình thôi.”

Lúc Hướng Viễn đi đến gốc hòe già đầu thôn, trời vẫn chưa sáng tỏ, trong không khí bao trùm một mùi bùn đất và sương sớm thanh tân. Lúc đi ngang nhà họ Trâu, cậu con trai nhỏ Trâu Quân của thím Trâu đã đeo trên lưng một chiếc gùi, chuẩn bị lên núi hái rau dại. Nhà họ cũng mở một quán ăn Nông Gia Lạc nho nhỏ, đủ mọi loại rau dại mới mẻ là đặc sản mà du khách thích chọn nhất.

“Dậy sớm quá nhỉ, Trâu Quân.”

Lúc Hướng Viễn đi ngang đã cười toe toét với cậu bé. Trâu Quân năm nay cũng lên lớp sáu, cùng lớp với Hướng Dao. Cùng một độ tuổi với nhau, nhưng cậu lại hiểu biết hơn Hướng Dao rất nhiều. Mẹ cậu đột ngột rơi xuống vực chết thảm cũng đã gần một năm rồi, không lâu trước đó, cha cậu cũng tìm một quả phụ ở thôn cạnh bên, người phụ nữ đó cũng dẫn đến hai đứa trẻ một nam một nữ đến, hợp lại thành một gia đình mới để sinh sống. Trâu Quân trở thành đứa con lớn nhất trong nhà, cậu con cưng mà thím Trâu khi còn sinh thời từng cưng chiều như vàng ngọc, bây giờ cũng bắt buộc phải gánh vác trọng trách trong gia đình.

Hướng Viễn rất cảm kích sự quan tâm chăm sóc của thím Trâu trước kia, rất gần gũi với gia đình cô. Khi thím Trâu không còn nữa, cô nghĩ Trâu Quân cũng là một đứa trẻ không còn mẹ, nên cũng cố gắng chăm sóc cậu nhiều hơn: có lúc vào dịp lễ tết, du khách đến quá đông, nhà cô không đủ chỗ cho khách, lúc nào cũng đưa đến nhà Trâu Quân; bắt được một cơ hội làm ăn tốt, cô cũng không quên chia cho nhà họ Trâu một phần.

Trâu Quân cùng tuổi với chị em Hướng Dao. Lúc Hướng Dĩ còn sống, hai cậu là bạn thân nhất trong thôn, bắt đầu từ khi biết đi, Trâu Quân đã giống như Hướng Dĩ, là một trong những kẻ bám đuôi nổi tiếng bên cạnh Hướng Viễn, cũng gọi cô là “chị ơi, chị ơi”. Hôm Hướng Dĩ xảy ra chuyện, cũng chính Trâu Quân chạy hộc tốc về báo tin cho Hướng Viễn… Nhớ đến cậu em yểu mệnh của mình, trong lòng Hướng Viễn cảm thấy chua xót, niềm vui sướng trước khi ra khỏi nhà rằng nhân mấy hôm nghỉ lẽ kiếm một khoản kha khá cũng bị nguội lạnh ít nhiều, đến mức Trâu Quân đuổi theo phía sau cô gọi mấy tiếng “Chị Hướng Viễn, có muốn lên núi xem mặt trời mọc không… chị Hướng Viễn…”, cô cũng chỉ hờ hững khoát khoát tay.

***

Gốc hòe già luôn là địa điểm đầu tiên Hướng Viễn đón tiếp du khách, là nơi mà mọi người bắt buộc phải đi ngang khi ra vào thôn. Hướng Viễn bày một quầy hàng lưu động ở đây, bán một ít đặc sản địa phương và quà lưu niệm du lịch rẻ tiền. Lúc du khách cần người hướng dẫn, cô nhét tất cả vào trong túi, lập tức xuất phát, rất là tiện lợi.

Gốc hòe già này đã tồn tại ở đây bao lâu rồi, không ai biết cả, trong ký ức của người già nhất trong thôn, nó vẫn luôn sừng sững như thế. Thật ra cũng chỉ là một gốc cây bình thường, nhưng nhiều năm tuổi rồi, hình như cũng có cả linh hồn. Đương nhiên, thời gian và những biến hóa nhân thế mà nó từng chứng kiến, cũng khiến gốc hòe này có một ý nghĩa đặc biệt trong lòng người dân của thôn này. Từ trước đã có người thắp hương cầu khấn dưới gốc cây, lúc nào cũng có những chàng trai cô gái hẹn hò ở đây. Những năm thanh niên trí thức về quê hương, nơi đây càng là một địa điểm tuyệt vời nhất để yêu đương của những thanh niên thành phố đó.

Hướng Viễn đã làm hướng dẫn viên địa phương lâu rồi, nắm bắt tâm tư của những du khách thành thị rất chuẩn. Thôn tuy nhỏ, chỉ có phong cảnh thì chưa chắc hấp dẫn được người khác, bắt buộc phải thêm vào những thứ mới lạ kỳ diệu thì mới mong làm cho du khách háo hức hiếu kỳ. Thế nên mỗi khi đón khách, cô luôn thích đưa họ đến dưới gốc hòe già này, kể cho họ nghe “chuyện của gốc hòe già”, đề tài luôn là tài tử giai nhân hẹn hò nhau dưới gốc cây, thề nguyền yêu thương nhau suốt đời, cuối cùng vận mệnh nghiệt ngã đã chia lìa đôi lứa. Đề tài có tầm thường quen thuộc cũng chẳng sao, những người thành phố ấy luôn háo hức lắng nghe, người trong thôn cũng sung sướng lan truyền những câu chuyện ấy cho thêm phần thi vị. Thời gian trôi qua, gốc hòe già cũng dần dần nổi tiếng, trở thành kẻ chứng giám tình yêu kiên trung nhất. Trong thôn vô hình trung như đã tăng thêm một cảnh quan nhân văn, đến cả những hướng dẫn viên chuyên nghiệp trong thành phố cũng theo đó mà kể cho du khách nghe câu chuyện về gốc hòe già.

Mỗi lúc như thế, trong lòng Hướng Viễn cứ thấy buồn cười, cô chính là kẻ sáng tạo ra câu chuyện cảm động đó, nhưng cô lại là người không tin vào câu chuyện này nhất. Nhưng điều này có gì là quan trọng? Đầm gà rừng trong thôn sau khi được cô sửa thành “đầm uyên ương”, người đến đó chẳng đã đông hơn nhiều hay sao? Quầy hàng bán quà lưu niệm của Hướng Viễn cũng làm ăn mỗi ngày một khấm khá, cô có được tiền, còn những chàng trai cô gái si tình nghe danh mà đến kia cũng có được liệu pháp cho trái tim, đó là một chuyện tốt hai bên đều có lợi cơ mà.

Hướng Viễn đã học đến lớp mười hai, vào học đã gần một tháng rồi, nhưng học phí vẫn chưa trả hết. Cô làm một tờ đơn xin nợ tiền, chỉ đợi thu nhập của bảy ngày này thì chẳng những có thể giải quyết được vấn đề học phí, mà cuộc sống mấy tháng sau đó của cô và Hướng Dao cũng không đến nỗi nào.

Gần đến trưa, Hướng Viễn nhẩm tính sơ một lượt, dẫn đường hai lần kiêm thuyết minh, cộng thêm số quà lưu niệm đã bán được, tổng cộng cũng được gần trăm bạc. Đó mới chỉ là số kiếm được trong buổi sáng đầu tiên của kỳ nghỉ này, có thể coi là làm ăn rất khá rồi. Hướng Viễn cất tiền kỹ lưỡng rồi mới thấy hơi khát, sực nhớ ra từ sáng tới giờ chưa có giọt nước nào vào miệng. Cô hớp một ngụm nước lọc mang theo bên người, thím hai Lý bán thạch dưới gốc hòe bảo cô ăn một bát thạch để giải khát, nhưng cô cười từ chối, nếu không bất đắc dĩ lắm thì không lợi dụng người khác, cũng không thiếu nợ nhân tình là nguyên tắc nhất quán của Hướng Viễn.

Ánh nắng ban chiều xuyên qua kẽ lá chiếu xuống mặt đất bên dưới, văng vẳng trên đỉnh đầu có tiếng ve sầu kêu than mùa thu. Thời điểm này là lúc lưu lượng khách đến du lịch ít nhất, Hướng Viễn dựa vào gốc cây, không tự chủ được cũng lơ mơ buồn ngủ.

Lão Hồ xem bói ngồi cạnh gà gật được một lúc lâu đang dần tỉnh lại, uể oải ngáp mấy cái rồi nhìn Hướng Viễn nói: “Dù sao cũng không có khách, cô bé, có cần tôi đoán cho cô một quẻ không?”

Hướng Viễn cười bảo: “Chẳng phải ông luôn bảo đoán trước mệnh trời sẽ bị giảm thọ đó sao? Tôi không trả tiền, làm sao khiến ông bị tổn thọ lãng phí được?” Tuy ngoài miệng cô nói thế, nhưng trong lòng lại phản đối những trò thuật sĩ giang hồ vớ vẩn thế này. Lão Hồ này không phải người trong thôn, phiêu bạt tứ xứ lừa gạt để mưu sinh, cuối cùng đã đến thôn Lý này trong vô thức. Vừa hay gốc hòe già của thôn Lý đang được truyền tụng như một thần thoại, thế là ông ta mở công cuộc làm ăn bói toán cho mọi người dưới gốc cây này, mà cũng ăn nên làm ra lắm. Đến tìm ông nhờ bói toán đoán chữ là du khách, cầu vận chủ yếu là nhân duyên. Lúc Hướng Viễn rảnh rỗi cũng quan sát với thái độ bàng quan, nhìn lão Hồ nói năng linh tinh lộn xộn, tạo ra một quẻ bói thần kỳ, trong lòng thấy buồn cười: cũng chỉ có những người thành phố nhiều tiền đến nỗi chẳng biết tiêu vào đâu mới tin lời nói nhảm nhí của ông lão này, nếu quả thực ông ta đoán trước được tương lai, thì có cần phải bốn bể là nhà, gặp gì ăn nấy không? Có điều lão Hồ phàm khi bói toán đoán chữ, đa phần đều nói về những điều tốt, thỉnh thoảng cũng lệch lạc một chút, nhưng dù sao thu phí cũng không cao, cũng chỉ năm ba đồng, người ta cũng chẳng tính toán so đo gì. Nhưng Hướng Viễn sao lại mắc lừa ông ta được?

Lão Hồ cũng là người giỏi đoán nét mặt người khác, thấy vẻ mặt của Hướng Viễn như vậy thì biết trong lòng cô chẳng coi ông ra gì, thế là ông ta cười hề hề, bảo: “Tin cũng được, không tin cũng được, nếu cô cũng biết những trò này không đáng coi là thật thì sao không thử xem cho vui? Lão đây không sợ tổn thọ, chẳng lẽ cô không dám xem nó là trò chơi để nghe thử cho biết à? Không chừng người tin mới linh nghiệm đấy.”

Hướng Viễn không muốn đấu võ mồm với ông ta, dù gì cũng đang rảnh rỗi, bèn thuận tay mò ra một tờ giấy bói chữ dưới quầy hàng của ông ta ra, quẳng đến trước mặt ông. Lão Hồ mở tờ giấy ra rồi huơ huơ trước mặt Hướng Viễn vẻ bí ẩn, trên giấy là một chữ “hội” viết bằng bút lông.

“Hội… hội…” Ông túm lấy tờ giấy nhăn nhúm lẩm bẩm. Hướng Viễn khoanh tay trước ngực, chờ đợi xem ông ta nói phét. “Nói xem, “hội” giải thích thế nào đây?”

“Chữ ‘hội’ này ấy à, nếu tách hai phần trên dưới ra riêng, rõ ràng là một chữ ‘nhân’ và một chữ ‘vân’. Người ở trên mây, tức là người trên mọi người, cô bé, sau này chắc chắn sẽ phú quý giàu có.”

Hướng Viễn cười lớn, “Lão Hồ ơi là lão Hồ, ông đúng là đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Tôi là người yêu tiền tham giàu, ông nhìn một thoáng đã nhận ra ngay.”

Lão Hồ cũng cười theo một hồi, nhưng rồi thu lại nụ cười rất nhanh chóng, nghiêm chỉnh đáp: “Có điều, nói đi nói lại thì, đã nói mây trời dễ tan, không có chữ “mây” này, thì chỉ còn lại một “người” cô độc. Phú quý tuy tốt, nhưng chỉ sợ những người thân thích trong cuộc đời cô không còn nữa, thì cuối cùng cũng chỉ đơn độc một mình thôi.”

Nụ cười của Hướng Viễn thoáng chốc cứng lại trên mặt, nhưng rồi cô lại lắc đầu cười trách: “Đừng giở chiêu này ra dọa tôi, có phải lại muốn bán cái thứ thuốc chết tiệt gì đó của ông không?”

Lão Hồ cười gian xảo, rút từ trong túi ra một đống những thứ linh tinh. Hướng Viễn nhìn theo, đều là những mặt dây chuyền có dây đeo màu đỏ, có quan âm, phật tổ, và cả kỳ lân.

“Đeo một chiếc bùa hộ thân vào thì có thể tai qua nạn khỏi…”

Lão Hồ chưa nói dứt, Hướng Viễn đã cười lạnh móc từ trong bao ra một đống những mặt dây chuyền lấp lánh chói mắt nhiều hơn cả lão, “Nói xem, những thứ của ông có phải lấy sỉ từ nhà họ Trần trong thị trấn không, lớn thì một đồng rưỡi, nhỏ thì tám hào? Ở đây tôi cũng còn một đống chưa bán được hết, nếu ông cần có thể để rẻ lại, màu sắc cũng còn đẹp chán so với đống đồ thứ cấp của ông.”

Lão Hồ cười khì đón lấy mọi thứ trong tay Hướng Viễn nhìn chăm chú, màu sắc quả nhiên đẹp hơn của ông nhiều. Ông lập tức biết ý chuyển đề tài ngay, lôi một mặt quan âm giả ngọc bích trong đó ra, nói: “Cái này làm cũng tốt lắm, có thể phịa là đồ thật. Chỉ tiếc là tượng quan âm này phía sau cổ có một vết nứt, quan âm đứt cổ, điềm xấu vô cùng, dù đẹp đến đâu cũng vô dụng thôi.”

Sắc mặt Hướng Viễn thoáng chốc thay đổi, cô cướp lấy những thứ đó lại từ trong tay lão Hồ, “Cái ông già này còn nói linh tinh, bị khách người ta nghe được thì cẩn thận tôi không để ông sống yên ổn trong thôn này đâu.”

Lão Hồ thấy cô nổi cáu thì biết không dễ đắc tội, nên vội vã chuyển sang vẻ mặt nịnh nọt: “Bà cô tôi ơi, lão đây chỉ nói đùa thôi mà, tưởng thật làm gì? Chữ “hội” lúc nãy tôi chưa nói hết, cái gọi là ‘hữu duyên thiên lý năng tương ngộ’, đây là điềm người đã đi xa quay về, không chừng cô bé hôm nay có thể gặp lại cố nhân đấy.”

Hướng Viễn sao chịu nghe những lời điên rồ đó nữa, nói một câu “tin ông mới lạ” rồi hoàn toàn phớt lờ ông ta. Cô hoài nghi nhất những thứ thần thần quái quái ấy, đương nhiên cũng sẽ không để tâm làm gì, nhưng nghe thấy những lời kỳ quặc từ lão bất tử ấy, đặc biệt là “thân thích không còn, cô độc một mình” gì đó, trái tim lại thít chặt lại một cách lạ lùng. Nhưng sự không vui của cô cũng chẳng kéo dài được bao lâu, vì cô đã rất nhanh chóng nhận được vụ làm ăn đầu tiên trong buổi chiều hôm ấy.

Đó là một cô gái trẻ ăn mặc và trang điểm kiểu dân thành phố, không chừng còn nhỏ tuổi hơn cả Hướng Viễn nhưng những cô gái như vậy thường đến đây có đôi có cặp, còn một mình thì rất hiếm thấy. Hướng Viễn thấy cô ấy thẫn thờ qua lại dưới gốc hòe già một lúc lâu, không giống như đang ngắm cảnh, cũng chẳng giống lạc đường nên cô chủ động đến hỏi đối phương xem có cần hướng dẫn viên hay không.

Vụ làm ăn này suôn sẻ đến kỳ lạ, cô gái ấy chẳng những đồng ý cho Hướng Viễn dẫn cô đi dạo trong thôn mà còn đưa luôn cho cô một tờ tiền màu đỏ hồng. Hướng Viễn mừng thầm, lấy tiền người khác thì phải bán sức nhiều vào, thế là cô kể cho cô gái kia nghe “truyền thuyết” thê lương nhưng đẹp đẽ của gốc hòe già lần thứ một nghìn lẻ một. Nếu cô đoán không nhầm thì một cô gái với độ tuổi này lúc nào cũng có cảm giác thích thú với những câu chuyện tình yêu kiểu ấy.

Hướng Viễn đoán đúng, cô kể như hát như vẽ còn đối phương nghe như say như đắm. Cuối cùng, khi Hướng Viễn kể đến đoạn cô gái trong truyền thuyết đã chứng kiến người mình yêu cưới người con gái khác ngay dưới gốc hòe già này, trong sự đau thương tuyệt vọng đã hóa thành thần cây. Đúng lúc định tạo một cái kết khiến người ta vương vấn bồi hồi thì cô gái đột ngột ngắt lời Hướng Viễn, cô nhìn gốc cây rồi thẫn thờ hỏi một câu: “Sau khi hóa thành thần cây, cô ấy phải đứng ở đầu thôn ngày ngày nhìn người cô yêu hạnh phúc ngọt ngào với kẻ khác, con cháu đông đủ, đó chẳng phải là tự hành hạ mình ư?”.

Hướng Viễn ngẩn ra một lúc. Cô đã kể chuyện này không biết bao nhiêu lần nhưng đây là lần đầu tiên có người hỏi một câu như vậy nhưng đầu óc cô vô cùng nhanh nhẹn, lập tức tiếp lời: “Có lẽ cô ấy không có được hạnh phúc nên hy vọng được thấy người mình yêu hạnh phúc chăng?”.

Cô nghe thấy cô gái kia cười một cách đau khổ: “Vậy à?”.

Hướng Viễn chưa kịp trả lời thì cô gái kia đã hỏi tiếp một câu: “Chị có vậy không?”.

“Chuyện này à…” Cô đang định ậm ừ cho qua câu hỏi này để thoát hiểm thì cô gái đã quay lại mỉm cười hỏi cô: “Nếu người chị yêu đã yêu người khác, chị sẽ làm gì?”.

Hướng Viễn thấy câu hỏi này thật lạ lùng, có điều khách hàng là Thượng đế, cô vẫn trả lời: “Nếu thế tôi sẽ chuyển tình yêu của tôi sang thứ khác”.

“Thứ khác là thứ gì?”, đối phương truy hỏi như vẫn còn thắc mắc.

Hướng Viễn cười ha ha: “Chẳng hạn như tiền này. Tiểu thuyết vẫn hay viết, không còn tình yêu thì chí ít tôi vẫn còn tiền đó sao?”.

“Nếu như đến cả tiền cũng chẳng có thì sao?”

Xem ra cô đã đụng phải một cô bé vừa cứng đầu lại vừa nghiêm túc rồi đây. Trong sự ngạc nhiên, Hướng Viễn không kìm được đưa mắt quan sát người đứng trước mặt. Cô gái ấy không thể nói là xinh đẹp nhưng cũng không xấu xí, vóc dáng mảnh mai, mày mắt thanh tú, khóe môi bẩm sinh đã hơi cong lên, lúc nào cũng như đang cười. Chỉ có điều sắc mặt trắng bệch, mỏng như tờ giấy, có thể thấy lờ mờ mạch máu dưới lớp da trắng xanh đó. Nhìn cô gái này, Hướng Viễn bỗng nghĩ đến những mảnh vỡ bằng sứ được người dân vớt dưới đầm lên, trong sáng vì được nước tẩy sạch, trắng một cách mong manh, mềm yếu, và vụn vỡ…

Hướng Viễn tiếp tục đùa: “Ai khiến tôi không có những thứ đó thì tôi sẽ làm cho anh ta không thể sống yên ổn. Nếu tôi là cô gái trong truyền thuyết kia, tôi thà giết chết gã đàn ông đó chứ cũng không ngu ngốc đến mức biến thành một gốc cây”.

Cô gái chau mày bảo: “Nhưng giết người mà mình yêu thương đâu dễ dàng như thế? Nếu giết anh ta thì giết mình còn dễ hơn nhiều”.

Câu nói đó khiến Hướng Viễn cười phá lên, cô gái kia thấy Hướng Viễn cười cũng nghiêng ngả cười theo. Một lúc sau cô gái nói: “Ban nãy chị nói chị tên Hướng Viễn phải không? Hướng Viễn, chị thú vị thật, vừa đến đây đã gặp được chị, hay quá. Tôi là Diệp Linh, đến từ thành phố G”.

Trên gương mặt Hướng Viễn là nụ cười thân thiện nhất, nói chung cô thân thiện với tất cả những người mang lợi ích đến cho cô.

Cô gái tên Diệp Linh kia nhìn thấy đống mặt dây chuyền lớn nhỏ mà Hướng Viễn vẫn chưa kịp cất vào, tò mò lật giở ra xem.

“Thích không? Thích cái nào thì tôi để rẻ cho”, Hướng Viễn thấy lại có cơ hội kiếm tiền thì hưng phấn hẳn lên. “Đây đều là bùa hộ thân. Linh nghiệm lắm, đeo trên người không những có thể trừ tà mà còn được như ý nguyện”.

“Thật à?” Diệp Linh lựa chọn vẻ rất hứng khởi, cuối cùng cô cầm một mặt dây chuyền Quan Âm lên: “Cái này đẹp quá, bao tiền thế?”.

Hướng Viễn nhìn kỹ, thầm kinh ngạc, mặt dây chuyền trên tay Diệp Linh không phải là cái nào khác mà chính là “Quan Âm đứt cổ” mà lão Hồ chết tiệt kia đã nói. Thứ này Hướng Viễn vốn không hy vọng bán được, ai ngờ cô gái đến từ thành phố này lại thích nó đến vậy.

Nếu như trước đây, Hướng Viễn đã muốn bán thứ đồ này càng sớm càng tốt rồi nhưng khách hàng bây giờ lại là một cô gái xấp xỉ tuổi cô, rất ngây thơ trong sáng, quan trọng hơn là phóng khoáng chịu chi tiền. Hướng Viễn đã kiếm được một trăm bạc của Diệp Linh, lấy tiền người khác dễ dàng như vậy, cô không thể quá tính toán.

“Cái này, mặt Quan Âm này có lỗi, đổi cái khác đi, còn nhiều cái đẹp hơn mà”.

“Chị muốn nói là “Quan Âm đứt cổ” hả?”, Diệp Linh cười cười, nghịch mặt dây đó trong lòng bàn tay.

Thì ra cô ấy cũng biết. Hướng Viễn cũng không giấu giếm nữa, gật đầu: “Tuy tôi không tin lắm vào những thứ linh tinh này nhưng tốt nhất là bạn cứ chọn cái khác đi”.

“Không sao.” Diệp Linh tháo mặt Quan Âm đứt cổ ra rồi nói tiếp: “Thứ này kể ra cũng có duyên với tôi. Tôi nhìn thấy nó là đã thích ngay. “Vật tốt không bền”, biết đâu có vết nứt này mới là tốt thì sao”.

Hướng Viễn có đầu óc của người làm ăn, nếu người mua đã không so đo thì làm gì có đạo lý người bán chùn tay không chịu bán. Tượng Quan Âm này vốn là giả ngọc, không đáng bao tiền, Diệp Linh đã ra tay hào phóng giúp cô kiếm được một khoản kha khá, cô cũng hiếm khi có được lúc rộng rãi như vậy, thôi thì tặng chiếc mặt Quan Âm này cho Diệp Linh luôn vậy. Cô nghĩ thế, không chừng cô nàng lắm tiền này sẽ thấy vui hơn, đoạn đường tiếp sau lại càng ra tay hào phóng hơn cũng nên.

Diệp Linh cảm ơn rối rít khiến Hướng Viễn cũng thấy ngại ngùng. Thăm gốc hòe già xong, cô dẫn Diệp Linh đến “đầm Gà Rừng” trước kia – nay là “đầm Uyên Ương”.

Thực ra cái đầm sâu rộng chừng mấy trăm mét ấy là một trong những nơi Hướng Viễn không muốn đến nhất, nhưng cũng chịu thôi, mùa này là lúc nước hồ trong và đẹp nhất, mặt nước trong vắt như ngọc bích phản chiếu những bóng cây ven bờ đầm, người không dễ dàng say đắm cảnh vật như cô cũng cảm thấy thần thái bay bổng phiêu diêu hơn hẳn.

Diệp Linh đi một vòng quanh đầm, tỏ ra rất vui sướng, nói nói cười cười với Hướng Viễn, gương mặt trắng bệch cũng ửng hồng lên khỏe mạnh.

“Hướng Viễn, đó là hoa gì thế?” Cô bỗng chỉ vào đóa hoa đỏ mọc lưng chừng triền đồi nhỏ cạnh bờ đầm, hỏi Hướng Viễn.

Hướng Viễn nghiêng người nhìn, “Ồ, hình như là đỗ quyên dại.”

“Đẹp thật.” Diệp Linh cảm thán một tiếng, sau đó nói với Hướng Viễn với vẻ ngượng ngập, “Tôi leo núi không được giỏi lắm, có thể nào phiền chị hái giúp tôi một đóa không?”

Hướng Viễn nhận lời, độ cao này đối với người đã quen leo núi như cô hoàn toàn không là vấn đề gì to tát cả.

“Vậy bạn đứng đây đợi tôi một lúc, tôi về ngay.” Cô nói với Diệp Linh xong, sải vài bước đến dưới chân đồi, vẫn chưa kịp trèo lên đã nghe thấy tiếng sột soạt của đám cây mọc lưng chừng, áo của người nào đó lộ ra một góc.

Hướng Viễn cười, “Trâu Quân, em đến tận đây hái rau cơ à?”

“Chị Hướng Viễn,” Trong đám lá dày đặc phía trên lộ ra gương mặt non nớt nhưng thanh tú của Trâu Quân, “Chị đến đây làm gì thế?”

“Hái hoa.” Hướng Viễn sợ Diệp Linh đợi lâu, nói vắn tắt chỉ vào đóa đỗ quyên dại, bảo với Trâu Quân. Cô quay đầu nhìn, Diệp Linh đã thong thả dạo bộ một mình cách xa đến hơn mười mấy mét.

“Chị thích cái này à?” Trâu Quân ngạc nhiên nhìn Hướng Viễn, “Đừng, đừng, cỏ ở đây trơn trượt lắm, chị đừng trèo lên, em hái cho.” Cậu ló người ra hái hoa xuống một cách dễ dàng, những giọt mồ hôi trên trán cũng lấp lánh như đôi mắt bồ.

Hướng Viễn đưa tay ra đón lấy cành hoa Trâu Quân đưa, vừa quay lại đã nhìn thấy Diệp Linh váy trắng đang đứng lặng lẽ bên hồ, cúi đầu như đang nghĩ ngợi gì đó, sau đó đột ngột nhảy xuống, rồi biến mất không một tiếng động giữa làn nước đầm.

Chỉ trong một tích tắc, Diệp Linh đã mất hút giữa đầm nước sâu. Mọi thứ xảy ra quá đột ngột, nếu không phải mặt nước đang gợn lên những đợt sóng, Hướng Viễn còn ngỡ mình đang gặp ảo giác trong buổi chiều nắng này. Bản năng phản xạ trong thoáng chốc đã khiến Hướng Viễn chạy như bay đến bên bờ đầm, vừa định nhảy xuống để cứu thì một cảnh tượng vụt qua thật nhanh trước mắt: Hướng Dĩ căng phềnh những nước đang nổi lờ đờ giữa mặt đầm, gương mặt nhỏ nhắn sưng phồng biến dạng, tím ngắt không một chút sinh khí nào.

Hướng Viễn run lên rất khẽ. Thế giới này tại sao lại kỳ quặc như thế? Có vô số người – như mẹ cô, như Hướng Dĩ, như rất nhiều những người dân vô danh bần cùng như kiến cỏ khác, rõ ràng là rất vất vả đau khổ, nhưng vẫn vật lộn chống cự để tiếp tục được sống, nhưng rồi cũng đành bất lực. Thế mà cô gái tên Diệp Linh này, tuổi còn trẻ, lại xinh xắn, phục trang tinh tế, rõ ràng là cuộc sống rất khá giả, cô ta sống còn tốt hơn những người khác gấp trăm lần, nhưng lại tự nguyện tìm đến cái chết. Thật mỉa mai thay!

Thiện cảm của sự gặp gỡ vô tình mà Hướng Viễn dành cho Diệp Linh thoáng chốc bay biến mất, cô căm ghét những người khinh thường mạng sống của bản thân, thậm chí còn đem cái chết ra để trù tính, loại người này nhu nhược, hèn hạ, bất lực, không đáng được thông cảm. Cô nghĩ, nếu cô gái tên Diệp Linh này đã muốn chết như thế, mình việc gì phải ngăn cản? Chẳng thà để cho cô ta được toại nguyện. Cô đờ đẫn nhìn sóng nước trên mặt đầm mỗi lúc mỗi tĩnh lặng, cho đến khi nghe thấy âm thanh lăn vèo vèo xuống triền dốc gần đó ở phía sau lưng. Rất nhanh, Trâu Quân với chiếc quần bị cào rách mấy đường, trên đùi đầy những vết máu do bị cỏ nhọn đâm vào, thở hổn hển chạy đến bên cạnh cô.

“Chị Hướng Viễn, lúc nãy… lúc nãy chị ấy…” Trâu Quân rõ ràng cũng đã nhìn thấy cảnh Diệp Linh trầm mình khi còn đang vắt vẻo ở lưng chừng sườn núi. Bình thường cậu vẫn trèo cây leo núi nhanh nhẹn linh hoạt như một chú khỉ, chỉ do khi nãy quá hoảng hốt nên mới hụt chân lăn lông lốc xuống dưới. Cậu cuống quýt chạy đến bên Hướng Viễn, nhưng lại bị nét hằn học và thản nhiên thoáng qua trên mặt cô làm giật mình một phen.

Trâu Quân đang vội cứu người, lúc cấp bách quá cũng không nói được gì, lại thấy xung quanh chẳng có một ai, thế là cậu nghiến răng, kéo lê một chân bị thương xuống nước. Mới bơi được vài mét, cơn đau ở vết thương trên chân khiến Trâu Quân không còn sức lực đâu nữa. Nhìn thấy bóng áo trắng của cô gái kia lập lờ thoắt ẩn thoắt hiện ở gần đó, bồ gắng sức muốn bơi đến gần, nhưng lại không cẩn thận sặc phải một ngụm nước to, đầu óc trống rỗng, gót chân như có một bàn tay vô hình đang nắm cậu kéo xuống đáy đầm.

Đầm gà rừng này tuy không lớn nhưng sâu khiếp đảm, dù đang là mùa hè nồng nực, song nước vẫn lạnh đến tê người. Nghe nói ở đáy đầm có đến mấy nơi mà những người lớn thạo bơi lặn nhất thôn cũng không mò thấy đáy. Chính vì thế mà năm ấy khi Hướng Dĩ rơi xuống nước, tuy rất nhiều người giúp tìm kiếm nhưng cũng chẳng cách nào tìm ra thi thể ngay. Đầm nước này cứ cách mấy năm lại dìm chết người, bọn trẻ trong thôn đều được người lớn cảnh cáo không được phép đến đây bơi lội…

Lúc này, Trâu Quân đã bắt đầu hoảng loạn, vật lộn một lúc nhưng chân tay cứ không nghe lời, đặc biệt là bên chân bị thương đã mất đi cảm giác, ý thức cũng mơ hồ dần. Trong tuyệt vọng, bỗng cảm thấy có người đang kéo cậu bơi vào bờ. Đợi khi cậu phục xuống mặt đất ho ra mấy ngụm nước, hoàn hồn dần, thì Hướng Viễn toàn thân đã ướt đẫm, đang kéo cô gái kia lên gần bờ. Cậu vội vã bò dậy chạy đến gần bờ giúp Hướng Viễn một tay, hai người ra sức hợp lực mới kéo nổi cô gái đã mất hết ý thức kia rời khỏi mặt nước.

Hướng Viễn mệt nhoài người, thở không ra hơi nữa, cô cố hỏi một câu: “Trâu Quân, em có sao không?” Thấy cậu ho sặc sụa, lắc đầu lia lịa mới chuyển sự tập trung sang Diệp Linh đang nằm im trên đất. Gương mặt cô ta không một chút máu, lồng ngực cũng chỉ hơi phập phồng không nhìn rõ.

“Chị Hướng Viễn, làm sao đây? Chị ấy sẽ không chết chứ?” Trâu Quân dù gì vẫn là một cậu bé, sợ hãi đến mức suýt khóc.

Hướng Viễn chỉ về phía cánh đồng gần bên bờ đầm, vội vã bảo Trâu Quân: “Em mau đi, dắt trâu của chú Hai Lý đến đây.”

Trâu Quân lập tức hiểu ý, cũng mặc kệ vết thương trên chân, quay đầu chạy một mạch về phía Hướng Viễn chỉ.

Cùng với lúc Trâu Quân dắt trâu của chú Hai Lý đến, phía sau còn có một đám dân trong thôn và du khách nghe chuyện chạy đến xem tình hình. Trong đó có một số người dày dạn kinh nghiệm đưa Diệp Linh vắt lên lưng trâu, để cô nằm úp sấp lên trên đó, mặt hướng xuống đất, sau đó đuổi cho trâu chạy.

Hướng Viễn bước ra khỏi đám người đó để hít thở. Trời tháng mười, gió phất qua cơ thể đang ướt đẫm, lạnh tê tái. Không lâu sau, cô nghe thấy tiếng hoan hô mừng rỡ của mọi người, biết được Diệp Linh đã nôn hết nước trong bụng ra, nghĩ mình đã nhặt được một mạng sống trở về. Xem như cô ta may mắn, Hướng Viễn nhếch môi, nhưng trong lòng lại nhẹ nhõm hẳn, không rõ là vì đã cứu được một mạng người, hay là vì sự cứu rỗi cho cái ý nghĩ ác độc nảy ra một thoáng trong nơi sâu thẳm của trái tim mình khi nãy.

Cô vắt nước trên áo mình, tạ trời tạ đất, tiền trong túi tuy đã bị ướt nhưng vẫn còn đó. Không về nhà thay quần áo thì còn ở đây đợi gì nữa? Cô đi về hướng nhà mình, văng vẳng nghe thấy tiếng bước chân đuổi theo phía sau.

“Chị Hướng Viễn…”

Cô biết ngay là cậu nhóc Trâu Quân kia, nên quay lại chỉ vào đùi cậu, “Mau đến trạm y tế thôn sát trùng vết thương đi, đùi rách đến mức này, cẩn thận dì của em lại tính sổ với em cho xem.”

Chương 4

Rất nhiều thứ cô vẫn nhớ nhưng anh lại lãng quên mất rồi.

Hướng Viễn về nhà, thấy bộ dạng chị như vậy, Hướng Dao muốn hỏi nhưng không dám mở miệng, chỉ lẳng lặng đi đun nước. Khi Hướng Viễn tắm nước nóng, thay quần áo bước ra thì hàng xóm đã đưa Diệp Linh yếu ớt về nhà cô rồi. Thì ra, sau khi Diệp Linh được cứu, những du khách đến xem tuy đông nhưng chẳng ai quen biết cô gái đột nhiên bị rơi xuống nước này. Hơn nữa, không hiểu là do bị sốc nặng hay vẫn chưa kịp hồi phục mà sau khi tỉnh dậy mặt Diệp Linh không một chút xúc cảm, chẳng nói tiếng nào. Người dân trong thôn không còn cách nào khác, đành đưa cô ta tới trạm y tế, bác sĩ bảo không còn gì nghiêm trọng nữa nên họ chỉ còn biết khiêng cô đến nhà Hướng Viễn. Một là Hướng Viễn là người cứu cô, hai là nhà họ Hướng, có hai cô con gái, chăm sóc Diệp Linh cũng thuận tiện hơn.

Hôm ấy, tất cả những phòng trống trong nhà đều có khách, Hướng Viễn đành sang ngủ cùng Hướng Dao, nhường phòng mình cho Diệp Linh. Hướng Dao đang cùng hai cô gái nữa trong thôn lấy quần áo sạch của Hướng Viễn thay cho Diệp Linh đang nửa tỉnh nửa mê.

Tất bật vội vã cả một buổi chiều, khi một thứ dần ổn định thì mặt trời đã ngả về tây. Hướng Viễn cẩn thận phơi những tờ tiền ướt trong bếp, còn mình thì ngồi xuống bậu cửa. Lên khỏi đầm đã lâu, cô cũng đã mặc thêm quần áo mà vẫn thấy lạnh, đầu nặng, cổ họng rát như bị lửa đốt, muốn bảo Hướng Dao rót cho cốc nước mà không biết con bé chết tiệt ấy đã chạy biến đi đằng nào rồi. Cô đã sớm biết cách chăm sóc bản thân nên cũng biết rõ mình đã bị cảm lạnh. Từ trước đến nay cô vẫn rất khỏe mạnh, bình thường cũng hiếm khi đau đầu cảm sốt, vậy mà hôm nay chỉ dầm nước một chút mà đã trở nên thê thảm thế này, chẳng lẽ cô nàng thành phố kia đã truyền nhiễm tính tiểu thư cho cô rồi? Hướng Viễn nghĩ đến đây liền bật cười. Cô nghĩ ngồi đợi một lúc rồi về ngủ một giấc vậy, ngày mai còn phải dậy sớm nữa.

Lần này Hướng Viễn không được toại nguyện, khi ý thức vừa bắt đầu hỗn độn, cô đã nghe thấy chú trưởng thôn hai Lý gọi: “Hướng Viễn, Hướng Viễn, người nhà của cô gái kia đến rồi. Ha ha, cháu đoán xem, là ai nào…”

Câu sau của chú hai Lý vẫn chưa kịp nghe tường tận thì ánh mắt của cô đã nhìn thấy bóng dáng sau lưng chú.

Người ấy rất giống anh nhưng sao lại là anh được? Thế nhưng giọng nói ấy rõ ràng rất quen thuộc: “Hướng Viễn, sao lại ngồi ở đây?”

Hướng Viễn, sao lại ngồi ở đây?

Trước kia mỗi lần anh đi học, cô luôn đứng đợi ở thung lũng gần nhà anh. Lúc anh nói câu đó đều bật cười rất rạng rỡ. Hướng Viễn ở đây, đương nhiên là để đợi anh rồi.

Hướng Viễn cười, đôi mắt cong cong hình trăng khuyết, “Diệp Khiên Trạch, sao lại đến trễ thế? Hại mình đợi lâu ơi là lâu.”

Nhưng nét mặt của anh lúc đó không lo âu như thế này.

Hướng Viễn đột nhiên tỉnh táo hẳn, không biết sức lực ở đâu ra khiến cô đứng phắt dậy, lúc nhìn rõ người trước mặt mình, nghi ngờ càng tăng thêm.

“Khiên Trạch? Sao lại là bạn?”

Anh vội vã bước qua bậu cửa tiến vào trong” “Hướng Viễn, chúng ta nói chuyện sau đi.”

Hướng Viễn thoáng sững sờ, vội vàng theo Diệp Khiên Trạch vào trong.

Diệp Linh đã tỉnh dậy, đang nằm trên giường. Diệp Khiên Trạch bước đến, không nói một lời, chỉ cúi đầu nhìn cô.

Diệp Linh đột nhiên mỉm cười, niềm vui ngây thơ như một đứa trẻ vừa có được kẹo ngọt.

Cô lên tiếng trước, một câu nói không đầu không đuôi: “Anh muốn nói gì với em?”

Diệp Khiên Trạch sửa lại chăn cho cô rồi nói: “Ra ngoài chơi cũng phải nói cho nhà một tiếng chứ. Còn nữa, sợ nước mà còn đùa, bố mẹ sẽ lo lắng đấy.”

Anh né tránh ánh nhìn của Diệp Linh,quay đầu lại đụng ngay ánh mắt của Hướng Viễn.

“Cám ơn, Hướng Viễn!” Lúc này, trên gương mặt anh mới xuất hiện nụ cười thành thật: “Cám ơn đã cứu em gái tôi.”

Hướng Viễn cũng cười nhưng trong lòng cô lại có cảm giác bất an không nói rõ được. Thì ra Diệp Linh là em gái cậu ấy, chắc là con chú Diệp và người vợ mới sau khi chú về thành phố. Chuyện Khiên Trạch cảm ơn không có chút vấn đề gì, vấn đề là ở chỗ Hướng Viễn chưa từng nghĩ rằng, cố nhân trùng phùng, thái độ đầu tiên khi anh đối diện với cô lại là một lời cảm ơn.

Cảm ơn là lịch sự, khách sáo, là đối ngoại, xa cách, thế nên những người thân thiết với nhau không cần nói lời cảm ơn. Lời cảm ơn của Diệp Khiên Trạch là dành cho cô – một người ngoài- đã vô tình cứu người nhà anh. Quen và lạ đã phân rõ. Diệp Khiên Trạch trong trí nhớ của Hướng Viễn là người vô cùng gần gũi, thân thiết với cô. Năm mười bốn tuổi, khi Diệp Khiên Trạch cùng bố về thành phố, Hướng Viễn đứng trên đỉnh ngọn núi sau thôn nhìn anh đang đứng gần gốc cây hòe già ở đầu thôn, chần chừ không chịu nhúc nhích, ánh mắt đang tìm kiếm cô gái nhỏ luôn bầu bạn bên anh trong đám đông hàng xóm vây quanh nhưng không thấy đâu cả. ai có thể quên được, dưới ánh trăng sơn cước trong sáng thuở thiếu thời, họ đã ngồi cạnh nhau bên khe suối nhỏ, Diệp Khiên Trạch từng nói: “Hướng Viễn, chúng ta sẽ không bao giờ xa nhau.” Khi ấy, Hướng Viễn không nói gì nhưng trong lòng lại khẳng định chắc chắn rằng, họ thân thiết với nhau như thế, ai có thể chia lìa được? Cho dù có một ngày anh đi rồi, cũng sẽ có lúc cô bay đến bên anh. Cô không tiễn anh vì sợ nước mắt chia ly, đi là điều tất yếu, bịn rịn đưa tiễn còn có ý nghĩa gì chứ? Bóng dáng Diệp Khiên Trạch cứ chần chừ quay đầu tìm kiếm đã biến mất khỏi tầm nhìn của Hướng Viễn. Đã bốn năm trôi qua, hôm nay gặp lại, anh đã cười và nói cám ơn cô vì người thân của anh.

Hướng Viễn cảm thấy đầu mình đau nhức. Nghĩ nhiều quá rồi, Hướng Viễn, bình thường mày có như vậy đâu! Môi cô mấp máy, lời nói chất chứa nụ cười: “Cám ơn tôi làm gì? Cứ xem như chiếc bình quý Solomon đã thực hiện nguyện vọng đầu tiên của mình.”

Diệp Khiên Trạch cười vẻ hiểu ý, ám hiệu mà chỉ có họ mới hiểu đã khiến khoảng cách bốn năm trở nên mơ hồ. Hướng Viễn lúc này như mới thấy được người bạn gần gũi thân thiết đã trưởng thành bên mình năm nào. Anh nhìn xung quanh, nghĩ ngợi rồi nói: “Tôi muốn đến thăm A Quân.”

“Đi đi, hai người đã lâu không gặp nhau rồi? Chắc giờ nó đang ở nhà. Tôi không đi cùng đâu, có chuyện gì cứ về đây tìm tôi.” Hướng Viễn vẫn đứng vững, đến cả Hướng Dao cũng không nhìn ra chị mình đang ốm bởi xưa nay Hướng Viễn không hề thích người khác nhìn thấy mình yếu đuối bất lực. Nhưng vào lúc này đây, cô bỗng ao ước Diệp Khiên Trạch sẽ hỏi mình một câu: “Hướng Viễn, có phải thấy không khỏe không?”

Cô biết mình yêu cầu quá đáng với anh, đã gần bốn năm anh không quay về rồi, những chuyện đang đợi phía trước còn quá nhiều, làm sao anh có thể quan tâm hết từng chuyện một cách sáng suốt rõ ràng được? Thím Trâu, mẹ ruột anh cũng là một người mạnh mẽ, sau khi ly hôn với chú Diệp rồi cải giá, đã cắt đứt liên lạc đôi bên. Lúc chú Diệp đón Khiên Trạch đi, thím không ngăn cản nhưng từ đó cũng mất hẳn liên lạc. Hướng Viễn cũng nghe người ta nói, chú Diệp sau khi trở về thành phố đã cưới vợ khác. Nhà họ Diệp mấy năm ấy sống rất khá, bên ấy đã từng lấy danh nghĩa của Khiên Trạch gửi tiền về cho thím ấy mấy lần đều bị trả lại hết. Khiên Trạch muốn quay về thăm mẹ nhưng cũng bị thím từ chối. Thím đã cắt đứt mọi liên hệ với nhà họ Diệp. Sau khi thím qua đời, nhà họ Trâu cũng không biết phải báo tin cho con trai lớn của thím thế nào. Gần đây họ mới biết tin này, thế nên Hướng Viễn đã có linh tính rằng anh sẽ quay về. Chỉ có điều không ngờ lại nhanh như vậy, mà lại còn vì chuyện của Diệp Linh. Lão Hồ kia buổi sáng mới nói có điềm rằng “cố nhân trở về”, trước giờ ông ta vẫn nói quàng nói xiên, lần này không ngờ lại đoán trúng.

“Vậy tôi đi trước. Diệp Linh… em gái tôi, chăm sóc nó dùm”, Diệp Khiên Trạch nói.

Hướng Viễn nhớ đến sự khác lạ của Diệp Linh bên bờ đầm. Cô em gái cùng cha khác mẹ của Diệp Khiên Trạch tại sao lại một mình trở lại nơi anh trai mình từng sinh ra và lớn lên? Vì sao lại nhảy xuống đầm sâu? Anh em họ gặp nhau sao lại khiến cho người ta có cảm giác kỳ lạ không thể nói rõ? Hướng Viễn thấy hoài nghi. Diệp Linh tạm thời không còn nguy hiểm gì nữa, Trâu Quân cũng là em trai ruột của Diệp Khiên Trạch, có chuyện gì thì đợi khi anh gặp được Trâu Quân rồi nói cũng không muộn.

Diệp Khiên Trạch đi rất lâu. Hướng Viễn nằm trên giường Hướng Dao ngủ một giấc, lúc tỉnh dậy đêm đã khuya. Cô bảo Hướng Dao đến trông Diệp Linh, lúc nó về phòng lấy chăn nệm, vô tình thốt ra một câu: “Cái người đang nằm trong phòng chị ấy, chẳng thấy có động tĩnh gì cả nhưng không biết tại sao gối lại ướt đẫm một khoảng lớn.”

Sáng sớm hôm sau, Diệp Khiên Trạch cùng Trâu Quân quay lại nhà Hướng Viễn. Năm ấy khi Diệp Khiên Trạch đi, Trâu Quân đã chín tuổi nên nó nhớ được rất nhiều chuyện. Diệp Khiên Trạch là một ông anh tốt, trước kia tình cảm anh hem họ luôn thân thiết, thế nhưng đã mấy năm không gặp, Trâu Quân lại tỏ ra bẽn lẽn ngại ngùng trước mặt anh mình. Trước cậu cũng không phải là người có tính cách hướng ngoại, nay theo sau anh trai đến nhà Hướng Viễn – nơi cậu thân thuộc và thường xuyên lui tới – cậu vẫn trầm lặng đến lạ lùng.

Diệp Khiên Trạch vào thăm Diệp Linh, cô vẫn chưa tỉnh, dáng vẻ ngủ say yên tĩnh một cách kỳ lạ. Diệp Khiên Trạch thở dài, nghe thấy Hướng Dao gọi ở cửa phòng: “Anh Diệp, chị em gọi anh vào ăn sáng.”

So với vẻ thẹn thùng trước mặt anh mình của Trâu Quân, Hướng Dao lại tỏ ra dạn dĩ hơn nhiều với “anh Diệp” mà khi xưa vẫn thường lui tới nhà cô. Cô gọi Diệp Khiên Trạch rồi đi về phía nhà bếp, bình thường Hướng Viễn bận nhiều việc nên đa số việc vặt trong nhà do Hướng Dao làm.

Bữa sáng của nhà họ rất đơn giản, chỉ gồm cháo trắng và rau, còn có sữa đậu nành mà sáng sớm Hướng Dao đã đến hàng sữa đậu trong thôn mua dưới sự dặn dò đặc biệt của Hướng Viễn. Hướng Dao đổ sửa vào mấy chiếc cốc rồi một thìa đường trắng nhỏ theo thói quen, Hướng Viễn bỗng ngăn cô lại:

“Một cốc không bỏ đường, đổi thành một thìa một thìa muối. Diệp Khiên Trạch uống thứ này luôn thích mặn một chút.” Hướng Viễn bảo.

Hướng Dao ngẩn ra một lúc, làu bàu: “Khẩu vị của anh Diệp kỳ quặc thế không biết.” Tuy nói vậy nhưng Hướng Viễn đã mở miệng bảo thì cô vẫn phải y theo lời mà làm.

Bốn người ngồi quanh chiếc bàn ăn nhỏ có đến mười mấy năm lịch sử của nhà Hướng Viễn, Trâu Quân giúp bày biện bát đũa lên bàn.

Diệp Khiên Trạch lên tiếng với chút hối lỗi: “Hướng Viễn, lần này chúng tôi làm phiền đến em nhiều quá.”

Hướng Viễn chìa một tay ra với anh: “Nếu thấy ngại thì có thể trả tiền cho tôi như những du khách khác.”

Diệp Khiên Trạch biết cô mượn lời nói đùa để trách mình khách sáo nên cười cười rồi không nói gì nữa, cúi đầu uống một ngụm sữa đậu trước mặt. Bỗng nhiên anh ngẩn ra, đôi lông mày hơi chau lại, có điều anh đã nhanh chóng che giấu được vẻ mặt lạ thường của mình.

Nhưng Hướng Viễn nhận ra ngay cử chỉ khác thường đó của Diệp Khiên Trạch. “Sao vậy? Không hợp khẩu vị à?”, cô hỏi.

Diệp Khiên Trạch nuốt ngụm sữa đậu với vẻ tự nhiên, cười nói: “Không có gì, Hướng Viễn, tôi tưởng uống sữa đậu mặn là thói quen của người phương Bắc chứ?”

Hướng Viễn ngây ra một lát rồi nói: “”Chẳng phải trước kia anh vẫn thích thêm ít muối vào trong sữa hay sao? Lúc ấy, tôi vẫn hay cười anh là kẻ kỳ quặc.”

“Vậy à?” Diệp Khiên Trạch khựng lại nghĩ ngợi rồi lại cười nói: “Chắc là do những tư tưởng lạ lùng thời nhỏ thôi. Em vẫn còn nhớ à?”. Sợ làm phật lòng Hướng Viễn nên anh cố ý uống thêm ngụm lớn.

Hướng Viễn giằng cốc sữa trong tay anh, quay lại nói với Hướng Dao: “Đổ cốc này đi rồi đổi cốc ngọt.”

“Không cần, không cần mà”, Diệp Khiên Trạch vừa nói vừa ngăn Hướng Dao lại.

Hướng Viễn cười giễu cợt mình: “Không sao, tại tôi thôi, những gì tôi nhớ đều là những chuyện cũ rích từ lâu rồi. Đã lâu thế mà cứ tưởng anh vẫn như xưa. Hướng Dao, đem đổ đi.”

Trâu Quân nãy giờ im lặng bỗng lên tiếng: “Không cần, em đổi cho anh vậy. Em thích uống mặn một chút.”

Hướng Viễn nhướng mày vẻ bất ngờ: “Ủa, sao hai anh em nhà này lúc nhỏ đều có sở thích kỳ quặc thế nhỉ?”

Hướng Dao lừng khừng đứng ở đó không biết làm gì, mãi một lúc sau mới ngồi xuống, đặt mạnh cốc sữa đậu mặn xuống trước mặt Trâu Quân.

Sau khi đổi cốc, bốn người im lặng ăn sáng, không ai nói gì.

Hướng Dao buông đũa sớm nhất, nhìn Trâu Quân rồi lại ngắm Diệp Khiên Trạch, đột nhiên nói: “Anh Diệp, anh cao hơn trước nhiều quá. Hai anh em giống nhau thật, có điều anh đẹp trai hơn Trâu Quân nhiều.”

Bình thường cô bé không phải người hay nói, lúc này lại thốt ra một lời vô tâm với vẻ ngây thơ đặc biệt của một cô bé khiến Diệp Khiên Trạch cười phá lên. Hướng Viễn cũng không nhịn được cười nhưng trong lòng cô lại không cho là như vậy. Thực tế, tuy hai anh em Diệp Khiên Trạch và Trâu Quân không cũng một cha nhưng quả thật rất giống nhau. Điều khác biệt là, Diệp Khiên Trạch giống bố anh hơn, trán cao mắt sâu, Trâu Quân lại giống mẹ, mày mắt thanh tú nhưng họ đều là những anh chàng đẹp trai. Người anh đã trưởng thành nên có mùi vị thư sinh hơn, người em vẫn còn sự non nớt của các cậu nhóc, dù thế nhưng quả thật cũng rất khó phân bì cao thấp.

Hướng Viễn không hiểu sao Hướng Dao lại thốt ra một câu như vậy, có điều cô cũng chẳng lấy gì làm bất ngờ cho lắm. Hướng Dao và Trâu Quân chẳng những cùng tuổi mà từ tiểu học đến năm lớp bảy luôn học cùng lớp với nhau. Theo lẽ thường thì hai người gần tuổi nhau, hai nhà lại gần gũi thì tình cảm sẽ thân thiết hơn, những điều này không thể khiến họ trở thành bạn thân. Bên phía Trâu Quân thì không có gì, nhưng do Hướng Dao lúc nào cũng thấy chướng mắt nên hai đứa mà ở gần nhau thì Hướng Dao thể nào cũng phớt lờ hoặc lườm nguýt khó chịu với cậu. Sau khi lên cấp hai, từ thôn đến trường ở xã là đường núi dài gần mười dặm, có lúc Hướng Viễn bảo Hướng Dao đi cùng Trâu Quân cho có bạn có bè, dễ trông chừng nhau hơn nhưng Hướng Dao nhất quyết không chịu, một là sẽ đi trước nửa tiếng, hai là cố gắng trì hoãn thời gian để đi chậm hơn, tóm lại là không muốn đi cùng với Trâu Quân. Hướng Viễn nghe nói, dù có học cùng trường nhưng Hướng Dao không nói với Trâu Quân câu nào.

Hướng Dao không phải là mộ cô bé khó gần, trong trường bạn bè cũng khá nhiều, nhưng hình như lại tỏ ra đặc biệt khó chịu với Trâu Quân. Hướng Viễn nhớ lúc còn bé, hai đứa vẫn chơi đùa cùng nhau mà, từ khi nào và tại sao lại có tình trạng như thế này? Hướng Viễn hỏi Trâu Quân, cậu cũng tỏ ra hoang mang. Sau này, cô cũng chẳng buồn đả động đến những chuyện cỏn con như vậy nữa.

Trâu Quân thấy Hướng Dao đem mình ra so sánh với anh trai mà cũng không quên hạ thấp bản thân mình nhưng cũng chẳng giận dỗi gì, vẫn uống từng ngụm sữa đậu mặn.

Ăn sáng xong, theo lời thỏa thuận từ trước, Hướng Viễn phải đưa mấy du khách trọ trong nhà lên núi ngắm cảnh. Lúc về phòng chuẩn bị đồ đạc, cô mở hộc tủ ra, không biết là vô tình hay cố ý, một tệp thư dày cộp mà Diệp Khiên Trạch viết cho cô trong những ngày tháng anh vừa lên thành phố trượt ra khỏi chiếc hộp nhỏ mà cô vẫn dùng để cất tiền.

Hướng Viễn phủi những bụi phủ mờ trên tập thư ấy. Cô rất ít khi lật giở tư từ cũ ra xem nhưng vẫn nhớ rõ, tổng cộng hai mươi mốt bức, ngoài ra còn có mấy tấm bưu thiếp vào những lúc lễ tết nữa. Lúc Diệp Khiên Trạch mới về thành phố, những bức thư anh viết cho cô bay đến như những bông tuyết rơi. Khi ấy, lần đầu anh đến một gia đình xa lạ, một thành phố xa lạ, có rất nhiều chỗ không quen biết, Hướng Viễn là người duy nhất để anh tâm sự. Lúc đầu, những bức thư anh viết lúc nào cũng dài đến mấy trang giấy, kể lại những chuyện mới lạ của thành phố và nỗi hoang mang của mình và cả sự nhớ nhung bạn cũ và quê hương. Thư trả lời của Hướng Viễn bao giờ cũng chỉ ngắn gọn một trang giấy, trong lòng cô có rất nhiều điều muốn nói. Nhưng khi hạ bút lại thấy những thứ đáng để nói quá ít, cô chỉ an ủi anh rằng đợi đến khi quen rồi sẽ thấy ở thành phố lớn chắc chắn có nhiều thứ tốt hơn cái thôn nhỏ này nhiều.

Những bức thư sau này của Diệp Khiên Trạch cũng chứng minh điều cô nói là đúng. Anh dần dần hòa nhập vào cuộc sống mới, bắt đầu kể với cô về gia đình mới của mình – người cha đã bao năm anh chưa gặp, người mẹ kế dịu dàng ít nói và một cô em gái nhỏ kém anh hai tuổi. Anh nói họ đều đối xử với anh rất tốt, cuộc sống trong trường cũng rất suôn sẻ, anh còn quen được vài người bạn mới. Nghe đến đây, Hướng Viễn chợt có cảm giác được an ủi. Mỗi lần gửi thư là phải cuốc bộ rất xa lên xã nên cô thường làm người lắng nghe. Thỉnh thoảng cô cũng gửi lại một hai bức thư, kể về những tin mới trong thôn, chú hai Lý kế bên nhà anh đã làm trưởng thôn, tên khốn cùng lớp họ đã đi lính… họ nói về cuộc sống của riêng mình, càng nói càng khác xa nhau, dần dần rồi cũng nói ít lại. Những bức thư của anh từ mỗi tuần một bức biến thành một tháng một bức, về sau thỉnh thoảng mới có một bức rồi lại thành một tấm bưu thiếp cho mỗi dịp lễ… Bắt đầu từ lúc nào nhỉ? Hình như là năm thứ ba sau khi anh trở về thành phố, hai người đã hoàn toàn mất liên lạc.

Hướng Viễn không trách cứ ai, cô có thể hiểu Khiên Trạch: anh luôn là người hiền lành, hoài niệm, chỉ có điều họ đã chia xa nhau lâu quá rồi, thế giới họ sống cũng khác xa nhau. Chỉ dựa vào những cánh thư thì tình cảm cũ dù sâu nặng đến mấy cũng nhạt nhòa, đó là chuyện không thể tránh được. Không chỉ có anh, nhiều lúc cô cũng nhấc bút lên rồi không biết phải bắt đầu từ đâu. Cô chỉ mong đợi một ngày, cô có đủ sức mạnh để bay khỏi cái thôn nhỏ “ếch ngồi đáy giếng” này, được đứng trên cùng một mảnh đất với anh, cùng ngắm nhìn thế giới ở một độ cao như nhau. Cô tin mình sẽ làm được! Nhưng lần này, sự trở về của anh khiến cô thấy hoảng hốt, quay lại nhìn, Hướng Viễn đã nhận ra sự nhỏ bé và bất lực của mình trong đoạn trường thời gian và khoảng cách.

Cô nghe thấy có tiếng gõ cửa rất khẽ. Diệp Khiên Trạch đứng ở cửa, anh đến thăm cô em gái Diệp Linh vẫn mê man chưa tỉnh. Hướng Viễn nhanh chóng nhét những bức thư trên tay về chỗ cũ, đóng ngăn tủ lại rồi quay người nhìn anh mỉm cười, hạ giọng nói: “Tôi bảo Hướng Dao chuẩn bị cho Diệp Linh một ít cháo, vẫn hâm trên bếp. Khi nào cô ấy tỉnh thì anh bảo Hướng Dao mang vào là được. Tôi phải đi đây”

Diệp Khiên Trạch đến bên Hướng Viễn, thấy trên chiếc bàn học sơ sài có đặt vài chiếc ảnh cũ. Cô vẫn lặng lẽ đứng ở chỗ cũ, không nói gì nhưng cũng chẳng bỏ đi

“Hướng Viễn, lần này quay về gặp A Quân và em, bỗng dưng cảm thấy những ngày tháng trước kia trở nên xa xôi quá, nhưng lại rất đáng hồi tưởng. Đã lâu lắm rồi chúng ta không gặp nhau. Cảm giác được gặp lại bạn cũ thật khác lạ.”

Hướng Viễn đáp: “Nếu đã như vậy thì bây giờ về rồi, ở lại thêm vài ngày đi. Em gái anh vẫn chưa khỏe lắm, nghỉ ngơi dưỡng sức cũng tốt. Trường anh chẳng phải cũng được nghỉ lễ sao…”

“Em gái tôi…” Diệp Khiên Trạch do dự một lúc rồi nói tiếp: “Sao nó lại rơi xuống nước vậy? Trước đó nó có nói gì không?”

Hướng Viễn liếc nhìn về phía Diệp Linh đang nằm trên chiếc giường gần đó rồi trả lời: “Không nói gì cả. có điều tôi không thấy là cô ấy “rơi” xuống nước nhưng vì lý do gì thì tôi không rõ. Khiên Trạch, cô em gái này của anh… nên trông chừng chặt vào thì tốt hơn…”

Diệp Khiên Trạch không hề tỏ vẻ ngạc nhiên, anh trầm mặc như có tâm sự u buồn nhưng lại chẳng nói gì. Hướng Viễn nhìn góc mặt nghiêng nghiêng của anh, ánh mắt anh vẫn như xưa: hiền lành dịu dàng. Anh là người tốt, lúc nào cũng suy nghĩ cho mọi người, mong muốn mọi thứ được tốt đẹp nhưng không biết trong những năm cô không ở bên cạnh, anh có được như ý hay không?

Như muốn phá vỡ sự tĩnh lặng, Diệp Khiên Trạch chỉ vào một bức ảnh cũ được lồng trong khung kính treo trên tường của Hướng Viễn, hỏi vu vơ: “Bức ảnh này chụp năm nào thế? Bối cảnh chắc là ở khe suối mà chúng ta hay câu cá nhỉ?”

Hướng Viễn nhìn anh: “ Phải rồi, Khiên Trạch, anh ở lại với Diệp Linh, tôi lên núi với khách đây. Buổi tối tôi đến tìm anh.”

Hướng Viễn vội vã đưa khách lên núi. Cô biết kể rất nhiều điển cố và truyền thuyết trong núi, tính cách lại phóng khoáng, dễ thương nên mọi người vừa đi vừa cười nói vui vẻ khiến đường núi lởm chởm cũng trở nên không khó đi lắm. Lúc đi ngang qua khe suối, cô dừng lại để mọi người chụp ảnh. Nước suối trong vắt, sắc núi rạng rỡ, đó là địa điểm chụp ảnh rất đẹp

Hướng Viễn nhẫn nại đứng chờ. Cô có chút lơ đễnh, dường như thời gian đã trôi qua lâu lắm rồi. Đó là khoảng thời gian không lâu trước khi Diệp Khiên Trạch về thành phố, lần đầu tiên cô làm hướng dẫn viên đưa khách lên núi, Khiên Trạch cũng đi theo. Khi ấy, những du khách cũng dừng lại ở chính nơi này để chụp ảnh, Khiên Trạch đã mượn máy chụp ảnh của một du khách, đích thân chụp cho cô một bức. Trước khi người khách ấy trở về, Hướng Viễn đã ghi lại địa chỉ, nhờ họ gửi ảnh cho mình

Đó là lần đầu tiên Khiên Trạch chụp ảnh, kỹ thuật không tốt, ảnh cũng không rõ lắm nhưng Hướng Viễn vẫn cẩn thận lồng nó vào khung kính, treo trên tường.

Rất nhiều thứ cô vẫn nhớ nhưng anh lại không cẩn thận đã lãng quên mất rồi.

Chương 5

Những thứ ta vốn khổ sở kiếm tìm, khi không tìm thấy thì cũng đánh chịu nhưng nhiều lúc vô tình nhận ra mà lại phải bất lực nhìn nó rơi tuột qua kẽ tay…

Hướng Viễn ở trên núi cùng du khách cả ngày. Những người đi du lịch đều là những người khôn biết mệt mỏi là gì. Sức khỏe Hướng Viễn lúc này không tốt lắm nhưng cô vẫn phải cố giữ vững tinh thần để theo họ đến cùng. Khi mặt trời xuống núi, đoàn du khách mới bắt đầu kéo về. Đến nửa đường, một nữ du khách bỗng hét lên khiến Hướng Viễn đang lơ mơ mệt mỏi phải giật mình một phen. Thì ra khuyên tai của người phụ nữ ấy không biết đã rơi trên đường đi từ lúc nào. Nghe nói đó là món quà sinh nhật mà chồng cô ta tặng, không đắt tiền nhưng rất có ý nghĩa. Sáng sớm hôm sau cô ta phải trở về thành phố nên Hướng Viễn đành đưa họ quay lại tìm tìm kiếm. Thế nhưng trên đường núi hoang cỏ dại mọc dày đặc thế này, muốn tìm một chiếc khuyên tai nhỏ xíu chẳng dễ dàng gì. Sắc trời mỗi lúc một đậm, nữ du khách đó và bạn bè mình vẫn không bỏ cuộc. Hướng Viễn lo lắng khi trời tối hẳn thì những người thành phố không quen đi đường núi này bị hụt chân, xảy ra tai nạn thì cô cũng sống không yên nên đành đưa họ xuống núi trước, sau đó một mình quay lại tìm.

Cô chưa đi được bao lâu, bốn bề đã bị sắc đêm bao phủ, chiếc khuyên tai vẫn không thấy tăm hơi. Thực ra, Hướng Viễn cũng tự biết, hy vọng tìm lại nó rất mong manh nhưng người phụ nữ kia quý trọng nó như vậy, dù sao cô cũng phải giúp đỡ. Có những lúc, cố gắng hết sức rồi mới đành phải tuân theo mệnh trời, Hướng Viễn trước nay vẫn nghĩ như thế.

Đây không phải lần đầu tiên Hướng Viễn đi đường núi trong đêm, huống hồ lần này lên núi đã có chuẩn bị trước, cô có cầm theo đuốc trên tay. Đoạn đường cũng không khó đi lắm nhưng Hướng Viễn vẫn chưa khỏe nên sức lực hao tốn rất nhanh, mồ hôi thấm đẫm áo, dính sát vào lưng. Cùng tiếng côn trùng đang kêu nỉ non trong đêm thu, cô nghe thấy hơi thở mình mỗi lúc một nặng nề. Khi đi ngang qua khe suối, cô dừng lại rửa mặt.

Khuyên tai vẫn chưa tìm được, cô cũng mệt đến mức không đứng thẳng lưng lên nổi nên đành khoanh chân ngồi trên một mỏm đá ven bờ suối.

Trăng trên trời tròn vành vạnh, bóng của nó vỡ vụn trên dòng suối róc rách. Không biết Hướng Viễn đã ngồi dưới ánh trăng này bao lâu rồi?! Đến khi nghe thấy tiếng bước chân, cô quay đầu lại đã thấy ánh lửa gần ngay trước mặt. Cô nhìn người ấy, khẽ mỉm cười rồi quay đầu đi. Không lâu sau, bên cạnh cô có thêm một người ngồi sánh vai.

“Muộn thế này rồi, ở một mình trên núi mà không sợ chút nào à?” Anh hỏi.

Hướng Viễn lắc đầu: “Anh biết tôi không sợ tối mà.”

Anh cười: “Nhưng tôi cũng không biết rốt cuộc là chuyện gì mới có thể khiến em hoảng sợ được.”

Hướng Viễn ngẫm nghĩ: “Mấy năm nay, không nhớ là bắt đầu từ bao giờ mà tôi cứ mơ một giấc mơ. Tôi thấy một người phụ nữ không nhìn rõ mặt, ngồi ở một nơi mà xung quanh toàn màu trắng toát, ngoài màu trắng ra thì chẳng có gì hết. Lúc tỉnh dậy bỗng cảm thấy hơi run sợ…” Cô nói mãi cũng tự cảm thấy mình buồn cười nên chuyển sang chủ đề khác: “Phải rồi, sao lại lên đây? Tôi cứ ngỡ anh ở thành phố lâu rồi nên không quen đi đường núi nữa chứ.”

Diệp Khiên Trạch đáp: “Thấy muộn thế này mà em vẫn chưa về nên không yên tâm. Nhưng mà cũng phải nói thật, nếu không đi theo A Quân suốt đoạn đương, tôi cũng không thể đến đây một cách suôn sẻ được. Tên nhóc đó giống hệt em lúc nhỏ, không sợ trời không sợ đất là gì.”

Hướng Viễn quay đầu lại nhìn: “Cậu đi với A Quân? Thế nó đâu rồi?”

“Chia ra tìm em ở ngã rẽ phía trước, chắc không tìm được bồ nên nó cũng quay về rồi. Đoạn đường nên khe suối này tôi quen thuộc hơn, không ngờ em lại ở đây thật.” Diệp Khiên Trạch nói. Bỗng anh dừng lại một lúc rồi tiếp tục: “Hướng Viễn, lần này tôi trở về, cứ cảm thấy em không giống trước đây.”

Hướng Viễn phản bác: “Thì anh cũng thế mà!”, nói xong cô nhận ra tâm trạng mình thay đổi nên dịu giọng lại, nói một câu: “Chúng ta đều không còn là trẻ con nữa, trưởng thành rồi nên cũng không tự nhiên như trước được.”

Diệp Khiên Trạch nghe thế cũng có phần hoang mang: “Đã là bạn tốt thì chẳng phải suốt đời sẽ như vậy hay sao?”

Hướng Viễn quay mặt đi, lặng thinh nhìn bóng trăng vỡ dưới làn nước. Phải, họ chẳng phải là bạn tốt của nhau ư? Cùng nắm tay nhau trưởng thành, trước kia là thế, cả đời cũng là thế?

“Phải rồi, em gái anh đỡ chút nào chưa?”, cô lảng sang chuyện khác.

“Cũng khỏe hơn rồi, chỉ còn ho thôi. Cũng may có em cứu nó lên bờ kịp thời. Chỉ có điều, từ nhỏ sức khỏe nó đã không tốt nên mới làm phiền mọi người lâu vậy.”

Hướng Viễn muốn nói, em gái anh không chỉ có vấn đề ở sức khỏe đâu, nếu không tự dưng vô duyên vô cớ nhảy xuống nước làm gì? Nhưng nghĩ lại, Khiên Trạch là anh trai, đối với những chuyện xảy ra chưa chắc đã không thấu hiểu, nếu anh đã không nhắc đến thì chuyện nhà người khác, cô hà tất phải nói nhiều làm gì nên cô chỉ bào: “Có gì mà phiền. Nhưng mà, Khiên Trạch, tình cảm anh em của hai người xem ra cũng tốt thật.”

Lúc cô nói câu này cũng có một chút ngưỡng mộ nhưng Diệp Khiên Trạch lại trả lời rất nhanh” “Diệp Linh… Diệp Linh từ nhỏ đã khá nhạy cảm, cha tôi và dì đều rất bận rộn nên tôi cũng phải chăm sóc nó nhiều hơn. Người trong nhà đều yêu chiều nên nó cũng khó tránh khỏi có chút ương bướng. Em đã tiếp xúc với nó, nên trong lời nói của nó có gì không phải thì đừng để tâm làm gì.”

Hướng Viễn có phần bất ngờ: “Làm gì có chỗ nào không phải chứ? Trước lúc cô ấy rơi xuống nước, tôi thấy cô ấy có vẻ vui vẻ và cũng lễ phép lắm mà. Chắc đây là kiểu “lạ với người thân, thân với người lạ” mà người ta hay nói ấy. Người có xấu tính thế nào đi nữa thì lúc nào cũng khách sáo với những người xa lạ, chỉ trước mặt người thân nhất mới gây sự vô lý thôi.”

“Cũng đúng. Thật ra con bé cũng hiền lành. Lúc ở nhà, nhìn thấy mèo hoang, chó hoang nó đều không nhẫn tâm, cứ đưa chúng nó về, lâu dần, trong nhà toàn những con vật nhỏ đó. Cả ngày nó cứ quanh quẩn chơi với chó mèo nhưng lại hiếm khi tiếp xúc với bạn bè. Phải rồi, Hướng Viễn, con chó vàng trước kia tôi tặng em còn sống không?”

“Chết rồi”, Hướng Viễn đáp.

Diệp Khiên Trạch lần này trở về không nhìn thấy con chó đó đâu, ít nhiều cũng đoán ra nhưng tận tai nghe thấy tin nó chết, trong lòng vẫn có phần buồn bã. “Ồ, chết rồi, sao lại chết?” anh hỏi.

“Tôi giết.”

Anh giật bắn mình bởi câu nói bình thản này của Hướng Viễn. “Cậu giết? Lại nói đùa đấy à?”

Hướng Viễn nghịch cọng cỏ mọc từ khe nứt của tảng đá, khẽ nói: “Có gì mà phải nói đùa. Nó già rồi, sớm muộn gì cũng phải chết. Mùa đông năm ngoái có một trận tuyết lớn, nó bệnh nặng đến nỗi không nhúc nhích được, co ro bên cửa run lẩy bẩy, cũng không rên nổi. Sống kiểu còn khổ hơn, chi bằng nhân lúc nó chưa tắt thở, giết đi còn được một bữa. Hướng Dao dù thế nào cũng không xuống tay được nên chỉ còn cách là tôi làm thôi.”

Diệp Khiên Trạch không nói được câu nào, há mồm trợn mắt nhìn Hướng Viễn. Đây là Hướng Viễn bạn anh ư? Thế nhưng, Hướng Viễn chẳng phải luôn là người như thế hay sao? Anh biết ý của Hướng Viễn, có lẽ thật sự cũng như lời cô nói, đã đến nước ấy rồi, chết sớm thật sự là một sự giải thoát với nó nhưng anh không bao giờ nghĩ cô lại nhẫn tâm xuống tay kết liễu chú chó mà mình nuôi bao năm trời.

“Đi thôi, chúng ta về nhà, không chừng giữa đường còn có thể gặp Trâu Quân.” Hướng Viễn vỗ vai Diệp Khiên Trạch rồi nói. Lúc đặt tay lên vai anh, cô cảm thấy ở đó hình như hơi cứng lại.

Diệp Khiên Trạch đứng lên, bỗng nhìn thấy dưới ánh lửa có một thứ ánh sáng lóe lên trong khe nứt của viên đá ven bờ suối. Anh đưa ngọn đuốc lại gần, “Hướng Viễn, em xem đây là gì thế? Chắc là chiếc khuyên tai em đang tìm đúng không?”

“Ở đâu?”, Hướng Viễn lập tức chồm đến gần. Thứ mắc kẹt lại ở giữa viên đá ấy chẳng phải là chiếc khuyên tai mà nữ du khách ấy đánh mất hay sao? “Tôi tìm mãi, suýt nữa mệt chết mất, thì ra nó nằm ở đây.” Cô cúi xuống định nhặt lên, ai ngờ Diệp Khiên Trạch cũng làm vậy, cúi xuống cùng lúc nên hai người va vào nhau. Hướng Viễn vốn đang mệt nên loạng choạng suýt ngã, Diệp Khiên Trạch vội đỡ lấy cô. Cô nghiêng ngả một lúc, khó khăn lắm mới đứng vững được những đã đá văng viên đá có chứa chiếc khuyên tai mắt kẹt xuống bờ suối, chiếc khuyên tai cũng theo viên đá rơi xuống nước. Hướng Viễn khẽ kêu lên, chồm đến định giữ lại nhưng không kịp, chiếc khuyên tai đã bị dòng nước chảy xiết cuốn phăng đi. Họ chạy theo hướng dòng nước chảy nhưng không còn may mắn như khi nãy, chiếc khuyên tai đã mất tích.

Hai người nhìn nhau bất lực.

“Làm sao đây?”, Diệp Khiên Trạch cười khổ sở.

Hướng Viễn thở dài, những thứ ta vốn khổ sở kiếm tìm, khi không nhìn thấy thì cũng đành chịu nhưng nhiều lúc vô tình phát giác mà lại phải bất lực nhìn nó rơi tuột qua lẽ tay…

“Còn làm gì nữa, quay về thôi. Cứ nói là tìm cả buổi tối cũng không thấy là được”, cô bước hai bước nói khẽ.

“Khoan đã.” Diệp Khiên Trạch đuổi theo, đưa tay sờ trán cô: “Lúc nãy chạm vào tay em, tôi cảm thấy có gì đó rất lạ, sao người em lại nóng thế này?”

“Không sao, hôm qua cảm lạnh một chút, về nhà là khỏe ngay.”

“Hôm qua? Em đã biết sức mình không ổn mà hôm nay ở trên núi cả ngày trời?”, giọng nói của Diệp Khiên Trạch ngoài sự kinh ngạc còn có ý trách móc.

Hướng Viễn cảm thấy sự ấm áp trong ánh mắt đang bực bội của anh nhưng vẫn khoát tay nói: “Không sao thật mà.”

“Không sao? Em còn đi không vững nữa là…”

“Vậy phải làm sao, chẳng lẽ anh cõng tôi xuống núi?”

Đương nhiên cô chỉ nói đùa nhưng không ngờ Diệp Khiên Trạch chẳng nói tiếng nào, bước lên trước mặt cô, cúi xuống.

“Lên đi.”

Hướng Viễn ngẩn người, cô thật sự mệt lắm rồi, sao phải tỏ ra mạnh mẽ trước mặt anh làm gì? Thế là cô cười một tiếng, đón lấy ngọn đuốc trong tay anh rồi trèo lên một cách tự nhiên.

Anh cõng cô xuống núi. Hướng Viễn đưa ngọn đuốc lên lưng chừng, ánh sáng biến hóa vằn vện trên tóc anh. Cô chỉ sợ trong lúc mệt mỏi, mình sẽ không nắm giữ được khoảnh khắc này. Cũng còn có ánh trăng làm chứng, đã xa cách bao năm, một lần nữa họ lại gần gũi nhau đến vậy.

Hướng Viễn đã cố gắng cả một ngày trời, giờ phút này dường như đã đến cực hạn. Diệp Khiên Trạch gánh thêm sức nặng của một người đi xuống núi, tuy Hướng Viễn vóc dáng mảnh mai, anh cũng là thanh niên trẻ trung nhưng vẫn không phải là chuyện dễ dàng. Suốt đoạn đường, họ không nói với nhau câu nào.

Đi được gần nửa tiếng đồng hồ, xuống đến chân núi, lúc cửa thôn hiện ra trong tầm mắt, Hướng Viễn ra hiệu cho Diệp Khiên Trạch thả cô xuống.

“Tôi nghỉ ngơi nãy giờ rồi nên không sao nữa đâu, anh cũng mệt rồi, để tôi tự đi. Khiên Trạch… Khiên Trạch!”

Cô gọi hai tiếng nhưng thấy anh không phản ứng, đang lúc hoài nghi thì phát giác anh đã dừng chân, đang lặng lẽ nhìn về một hướng.

Hướng Viễn nhìn theo ánh mắt của anh. Dưới gốc cây hòe già, Diệp Linh tay cầm đuốc, mặt cứng đờ nhìn trâng trối về phía họ.

Hướng Viễn không phải người nhiều chuyện nhưng trực giác của cô mách bảo cô rằng có điều gì đó rất kỳ lạ trong hành động của Diệp Linh. Cô lại vỗ vỗ vào vai Khiên Trạch.

“Thả tôi xuống đi.”

Diệp Khiên Trạch như không nghe thấy cô nói gì cũng không có ý định thả cô xuống. Anh cõng Hướng Viễn đi về phía bên Diệp Linh, nói một câu: “Buổi tối lạnh thế này, em ra ngoài hóng gió làm gì? Về nhà đi.”

Hướng Viễn đọc được sự đau khổ trong ánh mắt của Diệp Linh, điều này khiến cô sững sờ. Một dự cảm không lành như con rắn độc xuyên qua bàn tay Diệp Khiên Trạch đang đặt trên lưng, chậm rãi luồn dọc theo sống lưng cô. Cảm giác đó lạnh lẽo, xấu xa và ác độc. Cô vốn định tự nhảy xuống nhưng trong giờ phút này, cô lại chọn im lặng, để mặc Diệp Khiên Trạch cõng mình, từng bước, từng bước bỏ rơi gốc cây hòe già phía sau lưng.

Diệp Linh có theo sau hay không, Hướng Viễn cũng mặc kệ, nhưng cô thấy ở phía xa xa có ánh lửa của Trâu Quân đang xuống núi. Ở đây không xa nhà cô, Diệp Linh đến được thì cũng về được. Toàn bộ sự tập trung của cô đều dồn vào bước chân của Diệp Khiên Trạch – bước chân đạp lên những phiến lá rơi trên đất, bước chân nặng nề u uất, từng tiếng từng tiếng như ở ngay bên tai nhưng lại như rất xa xôi.

Đến gần nhà, Hướng Viễn cố gắng nhảy xuống, cúi người xoa xoa bắp đùi. Lúc đứng lên chạm phải đôi mắt của Diệp Khiên Trạch, cô thẳng thừng nói: “Anh có thể nói nguyên nhân em gái anh nhảy xuống sông không? Ánh mắt cô bé nhìn anh làm tôi cảm thấy…”

Vì đứng ngược ánh trăng nên Hướng Viễn không nhìn rõ thần sắc của Diệp Khiên Trạch.

“Đừng nghĩ nhiều, Hướng Viễn. Tôi thừa nhận Diệp Linh đặc biệt ỷ lại vào tôi nhưng tôi là anh trai duy nhất của nó, đa số các em gái đều có ham muốn độc chiếm anh trai mình. Đợi khi nó trưởng thành hơn thì tính cách sẽ thay đổi, đến lúc đó mọi thứ sẽ tốt hơn. Còn về việc nó rơi xuống nước, tôi tin rằng đó là một tai nạn.”

“Vậy còn anh, anh đối với cô bé ấy thế nào?”

“Nó là em gái tôi, tất cả sự quan tâm của tôi đối với nó đều đứng trên lập trường của một người anh. Hướng Viễn, chắc em hiểu tính tôi mà.” Diệp Khiên Trạch đáp nhanh nhưng Hướng Viễn vẫn cảm thấy có sự phiền muộn trong giọng nói trước đây vốn bình thản của anh.

Cô cười như muốn làm dịu tình hình căng thẳng trước đó rồi nói tiếp: “Em gái anh bây giờ nhìn có vẻ không được ổn lắm, cho dù lo nghĩ thay cô bé, anh cố gắng đừng để cô ấy có thêm hy vọng gì để tránh sự dựa dẫm của cô bé với anh.” Nói xong, cô lại cười bổ sung thêm một câu: “Có phải tôi đã lo chuyện bao đồng rồi không? Anh đã nói rồi, chúng ta là bạn tốt, vậy cứ xem như một kiến nghị nho nhỏ giữa những người bạn với nhau. Cõng tôi về chắc cũng mệt rồi. Lời cảm ơn thì thôi không nói nữa, tôi về nghỉ trước đây. Nếu anh thấy vẫn không yên tâm thì quay lại xem chừng cô ấy, thấy Trâu Quân thì giúp tôi nói với nó một tiếng là tôi không sao.”

Lúc quay người đẩy cửa, nghe thấy Diệp Khiên Trạch gọi: “Hướng Viễn, đợi đã, mấy hôm nay tôi luôn có một chuyện muốn hỏi em.”

“Sao vậy?”, Hướng Viễn quay đầu lại hỏi.

Anh nghĩ ngợi một lúc rồi mới hạ giọng hỏi: “Cậu nhớ A Quân sinh vào lúc nào không?”

Câu hỏi này có phần đột ngột, Hướng Viễn nhíu mày suy nghĩ: “Sinh nhật nó là ngày nào thì tôi quên rồi, nhà họ cũng không có thói quen tổ chức sinh nhật cho con cái. Tôi chỉ nhớ nó được sinh vào mùa đông, khi ấy chúng ta mới năm, sáu tuổi thôi. Bố anh về thành phố chưa đến một năm, nó ở với mẹ anh và chú Trâu. Lúc ấy tôi không hiểu tại sao thím Diệp lại trở thành thím Trâu, tôi hỏi mẹ thì bà cũng không chịu nói. Hình như hôm đó còn có một trận tuyết rất lớn nên tôi mới nhớ rõ như vậy. Vừa sáng sớm tôi đi khắp nơi tìm anh để đắp người tuyết, anh nói mẹ anh bị ốm, không thể đi chơi được. Tôi bèn hỏi, mẹ anh bệnh gì? Cậu bảo, bụng mẹ anh cứ đau mãi, trong nhà đã có thêm một cậu em. Tôi nhớ có sai không?”

Diệp Khiên Trạch như đang do dự không biết có nên nói hay không nhưng cuối cùng anh vẫn nói: “Kỳ thực tôi cũng nhớ chuyện là như thế nhưng sau khi tôi về thành phố, có một lần lúc nói chuyện với bố, tôi vô tình nhắc đến cậu em trai mà mẹ tôi sinh cho chú Quân. Cha tôi bảo, ông nghe nói A Quân được sinh vào mùa xuân, tôi cứ nghi ngờ mãi trí nhớ của mình có nhầm lẫn chỗ nào không. Hướng Viễn, em có cảm thấy A Quân nó… nó chẳng giống chú Trâu chút nào không? Lúc đó, trong thôn chẳng phải cũng có người nói…”

Hướng Viễn kinh ngạc, vội vã ngó nghiêng xung quanh rồi mới hạ thấp giọng nói: “Chuyện này anh đừng nói linh tinh. Ai cũng biết Trâu Quân là đứa trẻ được sinh ra sau khi mẹ anh gả cho chú Quân, nếu có nhầm lẫn thì chắc cũng do bố anh nhớ nhầm thôi. Chắc Trâu Quân bị sinh non thôi, anh đừng tin những lời của mấy người lắm điều trong thôn.”

“Không, không phải”, Diệp Khiên Trạch lắc đầu. “Hướng Viễn, có một vài chuyện không nói rõ được nhưng huyết thống là thứ thật kỳ diệu. Lúc nhỏ, không phát giác ra nhưng khi gặp lại A Quân sau vài năm, tuy nó khá giống mẹ tôi nhưng thần thái ấy, đặc biệt là đôi mắt… thật sự là tôi cảm thấy nó phải mang họ Diệp như tôi mới đúng.”

“Sao có thể thế được?” Hướng Viễn lẩm bẩm. Những điều này thật khó hiểu nhưng những lời Diệp Khiên Trạch nói không phải vô lý. Cô nghe người trong thôn bảo, sau khi ly dị với chú Diệp, chưa đến hai tháng sau thím đã kết hôn cùng chú Trâu thọt hơn ba mươi tuổi còn định độc thân suốt đời trong thôn, mùa đông năm ấy đã sinh ra Trâu Quân. Thím Trâu là người người mạnh mẽ, chuyện ly dị và cải giá nhanh chóng của thím chưa hẳn là không có ẩn tình gì trong đó. Nếu nói như vậy thì mấy năm sau, thím đồng ý cho chồng cũ đưa con trai lớn về thành phố nhưng lại che giấu thân phận của đứa con trai nhỏ cũng không phải là điều không thể. Mấy năm trước trong thôn cũng có vài lời đồn đại, họ nói A Quân không giống chú Trâu thọt chút nào, không biết là giống ai nhưng lúc ấy những lời dị nghị đều chỉ về Hướng Vân Sinh – bố của Hướng Viễn. Họ nói thím Trâu không quên được tình cảm với Hướng Vân Sinh nên ao ước mau chóng ly dị với họ Diệp kia, rồi việc cải giá với chú Trâu thọt cũng chỉ là cái cớ, trên thực tế thì thím có quan hệ mờ ám với Hướng Vân Sinh.

Những chuyện khác thì Hướng Viễn không dám quả quyết nhưng có một điểm cô có thể khẳng định chắc chắn rằng, cha cô – tuy không có ưu điểm gì nhưng luôn một lòng với vợ. Nếu nói ông có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bất kể mẹ cô còn sống hay không, Hướng Viễn cũng sẽ không bao giờ tin.

“Năm ấy, đòi ly dị rồi quay về thành phố là do cha tôi không phải với mẹ. Khi tôi đã lớn hơn một chút, ông cũng nhắc đi nhắc lại sự hổ thẹn rong lòng. Lúc ấy, ông bị bắt về nông thôn, cứ ngỡ không còn cơ hội quay trở về thành phố nữa nên mới cam chịu ở lại cưới vợ sinh con. Ai ngờ năm, sáu năm sau, văn kiện cho phép thanh niên tri thức về lại thành phố đã có. Mẹ tôi không có danh phận, vả lại bà cũng không chịu rời bỏ nơi này. Nhà cha tôi mấy đời tha hương, lúc ấy, ông chỉ muốn quay lại thành phố thi đại học nên đành phải ly dị. Mẹ của Diệp Linh – mẹ kế của tôi – là bạn học với ông, lúc học cùng nhau họ cũng đã có chút tình cảm nên… Ôi, tóm lại là chuyện tình cảm của người lớn, cho dù đúng hay sai, phận làm con như chúng ta cũng không thể oán trách. Mấy năm nay khi kinh tế khá giả hơn, cha tôi biết mẹ và A Quân sống rất vất vả nên muốn làm gì đó cho họ. Em cũng biết đấy, gửi tiền thì bà trả lại, viết thư thì bà chẳng bao giờ hồi âm. Cha tôi mấy lần muốn đưa tôi về thăm, điện thoại gọi về thì lúc nào bà cũng nói ông về thì bà sẽ đi, đến tôi cũng không muốn gặp. Tính khí bà như vậy, cha tôi cũng không muốn làm phiền đến cuộc sống hiện tại của bà. Ai ngờ lại xảy ra tai nạn đó, mà chúng tôi đến tận nửa năm sau mới biết tin này, tôi về đây là vì chuyện của mẹ, còn Diệp Linh rơi xuống nước là tai nạn. Hướng Viễn, em không biết lúc nhìn thấy mộ mẹ, trong lòng tôi cảm thấy thế nào đâu. Lúc tôi đi, bà còn sống rất khỏe mạnh, lúc quay về mộ bà đã xanh cỏ. Trâu Quân còn có thể ở bên bà mấy năm nay, tôi cũng là con trai mà lại chẳng làm được gì cho bà. Có lúc tôi cảm thấy bà thương A Quân nhưng không thương tôi.”