Cuối trời hợp tan

Cuối trời hợp tan

Anne Tyler

Dịch giả: Kiến Văn, Bội Bội

“Cách chế biến của tôi là: khi thịt bắt đầu vàng, đặt một miếng giấy bạc dưới chảo. Tôi không thích thịt quá cháy, cũng không thích lớp ngoài nó quá cứng”.

“Một miếng giấy bạc…” Alex nhắc lại, “Chà, cám ơn cô nhiều, Pauline. Tôi biết cô có thể cứu tôi mà”.

“Tôi sẵn lòng giúp anh bất cứ lúc nào”, Pauline nói với anh, “mong rằng sẽ có hiệu quả”.

Sau khi họ tạm biệt nhau, cô gác máy.

Rồi cô chọn được bộ trang phục ưng ý mà chẳng mất quá nhiều thời gian. Cô mặc một chiếc áo trắng, xỏ chân vào đôi giày gót vừa, rồi với tay lấy chiếc ví trên ghế nhựa. Khi đi ngang qua bếp, cô nói với Michael. “Em đi đây”. Anh đang chơi trò “câu cá” với George và Lindy trên bàn ăn trong bếp. Karen vừa thức dậy, đang ngồi trên chân anh, vừa mút ngón cái vừa quấn tóc trên ngón trỏ múp míp. Pauline nói: “Nếu chúng đòi ăn, trong hộp có bánh quy, trong tủ lạnh còn sữa sôcôla”.

“Lúc nãy ai gọi điện thoại đến thế?”, Michael hỏi. “Điện thoại?”.

“Ừ, điện thoại”.

“Ồ, phải rồi, Wanda đấy”.

“Wanda! Chẳng phải em sắp gặp cô ấy rồi sao?”. “Đúng thế”.

“Hai người nói chuyện rất lâu”.

“Anh biết phụ nữ đều thế mà”. Pauline nói, sau đó vẫy tay với anh rất tự nhiên, rồi ra ngoài.

Pauline lái chiếc xe Dodge màu đen mờ được bố để lại khi ông đổi chiếc Deluxe màu hồng nhạt sau chiến tranh. Lúc đầu Michael không biết lái xe, đành để Pauline dạy nhưng anh học khá nhanh. Giờ đây mỗi lần cô lái xe đưa anh đi làm, anh đều chỉ ra tật xấu của cô: mắc lỗi khi vào số hoặc lớn tiếng bảo cô chạy quá nhanh. Cô phóng xe nhanh ra đường, không chú ý có chiếc xe du lịch đang chạy vào hướng này, khi nghe tiếng còi xe của đối phương, cô mới vội đạp thắng. Cô tin chắc Michael không nghe thấy tiếng động, vì chẳng thấy bóng dáng anh đâu cả.

Cô cho xe chạy thẳng dọc theo con đường uốn khúc ở Elmview Acres ra khỏi cổng lớn mới phát hiện mình rẽ nhầm hướng, cô lại quay trở về. Cuối cùng cô chạy bon bon sau một chiếc xe buýt, và không ngừng mơ mộng. Trong đầu cô hiện lên khuôn mặt to rộng và làn da thô ráp của Alex Barrow – một người từng trải sóng gió; cơ thể anh rắn chắc khỏe mạnh, giống một vận động viên đấu vật. Anh không điển trai, có thể nói là rất xấu, nhưng lại xấu đến mức làm người ta rung động. Nghĩ đến đây, cô bất giác cử động người trên ghế ngồi.

Giáng sinh năm ngoái, cô và Michael cùng tham gia một buổi dạ tiệc có quy mô rất lớn. Vợ chồng đều bị tách ra. Vợ ngồi một bàn, chồng ngồi một bàn. Lúc đó tình cờ Alex ngồi cạnh Pauline. Đến giữa buổi tiệc, anh chồm người qua hỏi cô có chú ý những người ngồi ở bàn này đều hơi khiếm nhã không. “Khiếm nhã?” cô lặp lại. Tiếp đó, anh giải thích: “Phải, mọi người ở bàn chúng ta toàn nói đùa, nhưng người ở bàn bên kia lại bàn chuyện chính trị.

Họ là nửa nghiêm túc trong hôn nhân, còn chúng ta là nửa vui vẻ”.

Cô phát hiện anh nói đúng. Jack Casper ngồi cạnh cô đang kể về mẩu chuyện thú vị khi đi Santa vào năm 3 tuổi. Còn vợ Jack ngồi ở bàn bên kia lại công kích đề án dời hội nghị Israel đến Jerusalem. Khi bàn họ cười rầm lên sau điểm nút mẩu chuyện của Jack, Alex nói với Pauline: “Thấy chưa?”.

Anh nói: “Chúng ta là người thích tìm niềm vui, còn họ lại là người có tinh thần trách nhiệm, tính toán kỹ càng chi tiêu trong gia đình, họ bảo với chúng ta là không chịu nổi phí du lịch nào đó”.

Một lúc sau, người ở bàn bên kia nghe loáng thoáng lời họ nói liền tham gia vào cuộc thảo luận – vợ Jack phản bác, cô cho rằng mọi người ở bàn cô cũng là người thích vui chơi, chỉ nói chuyện nghiêm túc không có nghĩa họ không có óc hài hước. “Nhưng, dù vậy”, đồng thời cô nói, “anh phải thừa nhận một điều, có những chuyện còn quan trọng hơn vui chơi”.

Alex hỏi: “Chuyện gì thế?”.

“Ý tôi là, anh phải chấp nhận hiện thực”.

“Hiện thực!”, Alex lặp lại lời cô với giọng điệu hết sức kinh hãi, Jack Casper nhảy cỡn lên, vừa gào lớn “Không! Không bao giờ!” vừa vung nắm đấm trên đỉnh đầu. Những người ngồi cùng bàn với anh vừa reo hò vừa vỗ tay, còn những người ngồi bàn bên kia nhìn sự việc trước mắt với vẻ thờ ơ.

Lẽ nào từ lúc đó Alex Barrow đã gây ấn tượng trong tâm trí Pauline rồi sao?

Ái chà! Mới đó mà cô đã vào đến thành phố rồi. Cô rẽ trái ở phía trước rồi rẽ trái lần nữa. Khi lái đến ngã tư kế tiếp, cô thấy phía trước có bảng hiệu “cấm rẽ trái”, nên cô rẽ sang phải, sau đó lại rẽ trái. Nhưng giờ cô đang ở đâu? Hình như cô lạc đường rồi.

Nhưng sau một lần rẽ trái nữa, cảnh sắc trước mặt cô trở nên ngày càng quen thuộc. Cô đến một con đường hai bên đầy các cửa hiệu và nhà cửa, bảng hiệu của các cửa hàng thường viết bằng chữ Hy Lạp, Ba Lan hoặc Tiệp Khắc; vòm cửa các ngôi nhà đều lau sạch bong không một vết bụi; trong tủ kính bày đầy những con búp bê cài hoa nhựa và mặc trang phục dân tộc; tượng thạch cao Đức mẹ Maria dang hai tay cầu nguyện; những người phụ nữ có tuổi mặc trang phục đen, đầu đội khăn, lê những bước nặng nề trên vỉa hè với túi hàng hóa căng đầy trên tay; một số bé gái đang chơi trò nhảy lò cò hoặc thảy đá, những cô bé lớn hơn thì mặc váy dây mùa hè, bước nghênh ngang qua đám con trai, vờ như không nghe thấy tiếng huýt sáo của chúng.

Lúc đầu Pauline động viên Michael dọn khỏi nơi này là đúng. Cuộc sống ở đây rối loạn, phức tạp, lại không có trật tự.

Nơi chơi bài canaxta là nhà Katie Vilna. Vì Katie đã ly dị, nên nhà cô cũng là nơi duy nhất mà bạn bè có thể đến bất cứ lúc nào. Nhà cô ở tầng trên hiệu cắt tóc Golka, cũng là nơi cô lớn lên từ nhỏ, giờ cô sống với con trai ở đó. Khi Pauline nghĩ đủ mọi cách để lách vào chỗ đậu xe trước cửa nhà, bỗng thấy Wanda và Marilyn đi về hướng cô. Cô bấm còi xe, thế là họ dừng lại chờ – mông Wanda trông to và chắc, trang phục hơi lỗi thời, cô mặc một chiếc váy liền áo in hoa tay rất ngắn; còn Marilyn, một cô gái đến từ New Jersey lại mốt hơn nhiều, mặc chiếc váy liền áo kiểu áo blouse rộng lớn. “Bạn có thể cho xe vào rồi đó”, Wanda nói lớn, “bẻ bánh lái sang trái một chút nữa… lùi xuống, lùi xuống… dừng!”.

Pauline tắt máy xuống xe, vì trời nóng nên cô mở hết cửa sổ. “Chào, mình đến đây!” cô nói lớn, “Kiểu tóc của em đẹp thật đấy, Marilyn!”. Cô nói thế chỉ cốt ý làm Marilyn vui, vì kiểu tóc của cô ta – cuốn lọn sát da đầu, trông giống như chó lông xù – làm mặt cô trông to tướng. Hai người phụ nữ ôm nhẹ Pauline một cái, sau đó cả ba cùng bước vào cửa bên phải hiệu cắt tóc.

Cầu thang bên trong hẹp và dốc. Nấc thang trải lớp cao su có vân gợn sóng. Tường đã từ lâu không sơn lại, màu trắng vốn có giờ đã biến thành màu vàng giống sốt sữa trứng. Nhưng, khi Katie mở tung cánh cửa chính, bên trong nghiễm nhiên là một thế giới khác. Cô đổi hết nội thất màu tối âm u của bố mẹ thành kiểu mới nhất. Mỗi mép đều khảm kim loại tráng chrome, mọi tấm đệm đều bọc bằng lớp nhựa màu đỏ cam, góc hình tròn, làm tất cả nội thất đều có tạo hình đẹp đẽ. “Mời vào! Mời vào!” cô nói, “Mấy bạn đến trễ đấy nhé! Mình còn tưởng mấy bạn quên cả rồi!”.

Trong mắt Pauline, Katie lớn tuổi nhất. Dù cô giữ dáng rất đẹp, nhưng mọi gian khổ mà cô từng trải – hôn nhân ngắn ngủi, sinh non và tranh chấp trong quá trình ly hôn – làm mặt cô luôn mang nét khổ sở khiến người ta nhìn mà chạnh lòng. Trong bốn người phụ nữ, chỉ cô mặc chiếc quần thường màu xanh táo có in hoa văn nhiệt đới, so ra, trang phục của những người khác dường như quá lòe loẹt.

“Donald ở nhà dì mình”, cô nói, “tối nay dì sẽ trông con giùm vì mình có hẹn. Mình đưa nó sang đó sớm vì còn phải chuẩn bị”.

Tiệc tùng! Thử nghĩ xem! Đám phụ nữ có tuổi xung quanh đây sẽ không ngừng lắc đầu trước hành động này của Katie. Nhưng Pauline lại cho rằng cuộc sống của Katie rất thú vị. Chồng cũ của Katie là người kế thừa sự nghiệp nấu rượu ở Milwaukee, anh trả cho cô món tiền cấp dưỡng kếch xù, thế nên Katie mới có tiền mua nội thất và quần áo mới. Nếu bằng lòng, thậm chí cô còn mua được một căn nhà tốt hơn. Pauline không hiểu sao Katie không làm thế, cô luôn động viên cô ấy dọn đến Elmview Acres.

Thật ra, chơi bài canaxta chỉ là một cái cớ. Họ ngồi ngay vào một chiếc bàn xếp. Marilyn xào bài, Wanda kinh bài… Cùng lúc đó, họ luôn miệng buôn dưa lê – Katie vừa làm quen với một người, nhưng thành công hay không vẫn là một ẩn số, chẳng có thông tin nào là chính xác; Janet Witt lấy một nhà thiết kế lớn hơn cô 20 tuổi, giờ sống tại Hollywood ở California; sau đó, Wanda lại bảo nhận được thư của Anna Graint, cô là bạn học của Pauline, ngoài việc gởi thiệp chúc Giáng sinh cho nhau, hầu như giữa hai người đã đứt liên lạc. “Các bạn có biết Anna mang thai rồi không?” Wanda hỏi, “Cuối cùng cô ấy cũng có em bé! Cô ấy bảo định lấy bằng âm nhạc trước, nhưng đầu tháng 9 sinh rồi, chắc phải tạm gác chuyện học lại”. Lời Wanda làm mọi người nhớ đến chị của Pauline. “Ngày sinh theo dự tính của chị ấy đã vượt quá 3 tuần, sắp một tháng rồi”, Pauline nói, “bụng chị ấy ngày một to ra, chị ấy sắp điên lên vì nó”.

“Đứa thứ mấy rồi?”, Katie hỏi.

“Thứ tư. Mình chẳng hiểu nổi chị ấy đang nghĩ gì”. “Em từng nói với Lukas”, Marilyn thêm vào, “em bảo với anh ấy: ‘Thượng đế ban cho em hai bàn tay, chỉ có hai thôi, lúc qua đường mỗi tay dắt một đứa, đấy cũng là lời dạy của ông trời dành cho chúng ta”.

“Phải đấy, chẳng sai chút nào, nếu em có thể làm theo lời dạy”, Wanda nói, dù cô đã sinh 5 đứa con gái.

“Chẳng phải thế sao!” Pauline nói. Lúc trò chuyện, mọi người đều mỉm cười nhìn cô, vì khi mang thai Karen, mọi người đều đến an ủi cô. Khi vẫn còn là con gái, cô từng mong muốn có thật nhiều con. Nhưng sau hai lần sinh, cô đã thay đổi ý định, bởi vì những năm tháng nuôi con quả là rất vất vả.

“Có chết mình cũng không quên được”, Wanda nói tiếp, “mùa hè năm đó, mình đang mang thai Claire, lúc đó vẫn chưa ai biết tin này. Mẹ chồng luôn mang đủ các loại rau đến cho mình đóng lọ, mình liền nói: ‘Than ôi, con rất xin lỗi, trong khoảng thời gian này con không làm được việc đó, vì con chán ghét, chán ghét, chán ghét đóng lọ rau củ, vì mẹ phải biết rằng phụ nữ không nên dự trữ thức ăn vào những ngày đặc biệt đó’. Nghe xong, bà nói:

‘Vẫn chưa xong sao?’ Sau đó chép miệng bỏ đi. Một lần, bà còn hỏi mình cần đến khám bác sĩ không. Cuối cùng bà phát hiện mình mang thai…”.

Mọi người cười rộ lên, dù đây không phải lần đầu họ nghe câu chuyện này. Dường như với họ, ôn lại kỷ niệm xưa là một đề tài vui vẻ và thoải mái nhất.

Marilyn đang chia bài. “1, 1, 1, 1”, cô đếm, “2, 2, 2, 2”, đồng thời nghiêm túc chia từng lá bài, thỉnh thoảng dừng lại hút một hơi thuốc, sau đó lại đặt điếu thuốc trở về gạt tàn nằm giữa cô và Katie. Pauline cầm bài lên xem qua, còn những người khác cứ để mặc bài trên bàn, vẫn luyên thuyên không ngừng.

Vừa để lá 3 bích vào cạnh lá 4 bích, Pauline vừa nghĩ: có một chuyện họ không biết, sự chào đời của Karen không phải là một sai lầm, mà là kết quả của việc hòa giải sau một lần cãi vã, Pauline và Michael đã dốc hết sức lao vào nhau, cảnh tượng gần như điên cuồng, làm chuyện không nên xảy ra rồi cũng xảy ra, chí ít là như thế vào thời khắc đó. Phải chăng đấy là nguyên nhân làm Karen ngoan nhất trong ba đứa? Pauline luôn ngầm gọi cô bé là con riêng, tuy cô biết rõ con riêng mang ý nghĩa khác hoàn toàn.

“11”. Cuối cùng Marilyn tuyên bố, những người khác cầm bài lên.

Từ đầu đến cuối, Pauline không hề nhắc đến Alex Barrow. Trước tiên, họ không cần phải biết anh là ai, hơn nữa, cô đã từng hối hận về chuyện nhắc đến tên anh ở bể bơi. Vì thế, cô luôn giữ im lặng, chỉ nghe nhiều mà nói ít. Wanda đánh giá chồng cô là người thiếu óc thẩm mỹ, Marilyn thì phàn nàn việc chồng cô muốn kinh doanh bất động sản, lời nói của hai người rõ ràng thiếu tôn trọng, hoàn toàn không màng đến quan hệ thân thuộc chồng Marilyn là anh của Wanda. Thế nên những người có mặt đều cười với thái độ phản cảm. Lẽ nào mọi người vợ đều nghĩ rằng lúc đầu mình chọn nhầm đối tượng kết hôn sao?

Sau khi kết thúc ván bài, họ uống cà phê, ăn vài miếng bánh ngọt áo đường cuối cùng của hiệu bánh nhà Kastka, lau sạch từng ngón tay bằng chiếc khăn ăn in hoa của nhà Katie, Pauline đứng dậy đầu tiên. “Ồ, khoan hãy về!”, những người khác nói. Nhưng Pauline nài nỉ: “Mấy bạn biết không, mình phải về trước, mẹ Michael chắc đang nhìn dáo dác ra ngoài cửa sổ đấy!”. Thế là, sau những cái ôm thắm thiết, họ để cô về trước.

Khi đi xuống cầu thang gỗ, trong lòng Pauline chợt có cảm giác buồn. Mỗi lần chia tay với đám bạn, cảm giác này luôn trĩu nặng trong lòng cô.

Cũng như mọi khi, đường về nhà hầu như gần hơn lúc đi nhiều. Trước khi Pauline ý thức được điều này, cô đã chạy đến đường Loch Raven. Cô vừa tiếp tục cho xe chạy về phía Bắc, vừa đóng hết kính cửa sổ, tránh gió thổi rối tóc. Trong đầu cô, luôn ngân nga một bản nhạc, đó là bài hát các con cô yêu thích: “Các bạn ơi, mình xin lỗi, mình không thể nô đùa với các bạn…”.

Cô lái xe vào cánh cổng luôn rộng mở của Elmview Acres. Đó là hai cánh cửa đúc bằng sắt, có hình đường cong, hai bên có hai trụ gạch hình vuông. Trụ bên phải viết “Elmview Acres phía Đông, 1947”.

“Búp bê của mình bị cảm, suỵt… suỵt… suỵt…”, Pauline hát tiếp.

Cô rẽ phải ở Santa Rosa, đi ngang bể bơi, giờ nơi đó chẳng còn ai, chỉ có một nhân viên cứu hộ trên chiếc ghế trắng cao có ánh mặt trời phản chiếu dưới đất. Một lúc sau, cô lại đi ngang qua hội câu lạc bộ, bảng thông báo dán trên tủ kính rất bắt mắt (lớp chơi bài poker, lớp khiêu vũ dành cho trẻ em, lớp hội thảo nghệ thuật làm vườn). Cô rẽ phải trên đường Beverly, sau đó, lần thứ hai trong ngày, cô chẳng hề suy nghĩ đã rẽ trái vào đường Candlestick.

Nếu tình cờ anh ấy ở ngoài vườn, cô sẽ dừng xe, mở cửa sổ, thân thiện hỏi anh về món bánh nhân thịt; nếu anh không ở ngoài vườn, cô sẽ lái xe thẳng về nhà.

Anh không ở ngoài vườn. Nhưng cô không lái xe chạy thẳng.

Cô giảm tốc độ, từ từ dừng lại rồi bắt đầu quan sát ngôi nhà của anh. Đây là một căn nhà rất vững chải, cửa chính rất chắc chắn, ngay cả một ô cửa kính nhỏ cũng không có; cửa sổ ngắm cảnh to lớn bị che kín bởi tấm rèm cửa không trong suốt, trông như vải lót may quần áo hoặc rèm chống thấm nước dùng trong nhà tắm.

Cô tắt máy xe, bước xuống, đi thẳng đến trước cửa nhà anh, kẹp xách tay dưới nách, giống hệt một nữ nhân viên văn phòng.

Tuy nhiên, không chờ cô bấm chuông, anh tình cờ mở cửa bước ra. “Pauline?” anh gọi. Trước đây, cô không hề để ý tóc anh lại dày và uốn cong thế, hai hàng chân mày thì đen sậm rất bắt mắt. Anh mặc chiếc áo sơ mi trắng, tay áo xắn cao để lộ ra những cơ bắp cuồn cuộn.

“Tôi mới từ thành phố về”, cô nói, “thành phố” nghe oách hơn là “từ nhà cô bạn”. “Tôi thấy nên ghé qua hỏi thăm anh về món bánh nhân thịt”.

“A, cô chu đáo thật! Mời vào”. Anh vừa nói vừa lùi lại một bước để cô vào nhà. Anh chẳng cao hơn cô bao nhiêu, điều này làm Pauline hơi ngạc nhiên. Nhưng cơ bắp anh rất rắn chắc, thế nên khi Pauline bước ngang qua anh, vẫn thấy dáng người cô nhỏ bé.

“Bánh nhân thịt chuẩn bị sắp xong rồi”, anh nói, “nhưng vẫn chưa cho vào lò nướng. Cô xem thử có được không”.

Anh đưa cô vào bếp theo lối hành lang tối thật đáng sợ. Nó rất giống nhà cô, nhưng thoáng rộng hơn. Bếp nhà Alex rất sạch sẽ gọn gàng, khác hẳn với nhiều người đàn ông khác. Anh không bày dụng cụ làm bếp lung tung, vì thế mọi thứ trông rất sạch sẽ. Nếu bên cạnh mặt bếp không đặt một chảo thịt chiên, thì không ai nhận ra anh từng nấu ăn ở đây.

Bánh thịt không có màu đỏ tươi đẹp mắt, mà là màu nâu chán ngán. Pauline khom người, đưa mũi ngửi. “Ừm, được lắm!”, cô nói với anh, “Trông rất ngon!” vừa nói cô vừa đứng thẳng người lên, quan sát mọi thứ xung quanh. Nền rèm cửa sổ màu trắng sọc xéo, trên in hình các loại trái cây. Đấy là phong cách mẹ anh thích, bản thân Pauline không bao giờ chọn thứ rèm lỗi thời này.

“Tôi không đòi hỏi sự hoàn mỹ”, Alex nói, “chỉ cần ăn được thôi. Cô đang thương hại một người đàn ông trong cảnh khốn khó ư? Tối qua, tôi làm món đậu muối, đó quả là một tai họa!”.

“Đậu muối?”.

“Ơ… không phải, là đậu bo”.

Pauline cau mày, “Là đậu ván!” nói xong cô liền cười ha hả.

“Phải, chính là nó, đậu ván!”.

“Nhưng, món đó khó nấu, phải hầm rất lâu mới được, sao anh lại cứ chọn nó thế nhỉ?”.

“Tôi tưởng nấu đậu ván rất dễ”, anh nói, “Tôi thấy mẹ tôi cứ cho một hộp cà chua vào trong đậu rồi nấu. Lúc đó tôi nghĩ, còn món nào dễ hơn thế nữa chứ? Nhưng mãi đến 10 giờ tối qua, chúng vẫn còn cứng như hòn sỏi, tôi đành mang đổ bỏ”.

Pauline nhìn anh dò xét một hồi, sau đó nói: “Món đó khó nấu lắm, nhất là đối với người đàn ông ở một mình”.

Một lần nữa, cô bất ngờ trước sự lỗ mãng của mình, nhưng dường như Alex không quan tâm. “Đúng thế”, anh nói, “về mặt nào đó quả là như vậy. Nhìn từ khía cạnh cuộc sống thực tế, nó giống như việc nghiên cứu cách dùng máy giặt vậy. Trời ạ, sao phức tạp thế này! Nhưng từ một khía cạnh khác, đây cũng là một điều tốt”.

Pauline nghiêng đầu sang một bên, chờ anh nói tiếp, trước đây cô chưa từng thấy anh nghiêm túc thế. Người anh dựa nghiêng vào bàn, khoanh chặt hai tay trước ngực, hai khối cơ bắp cuồn cuộn rõ nét.

“Tôi làm việc gì đến phút cuối cũng sai cả”, anh nói, “dù tôi làm gì, cô ấy đều không hài lòng. Cô ấy bỗng nhiên trầm lặng, sau đó mắt nhìn chỗ khác, rồi nhíu mày. Cho tôi cảm giác như có người đứng trước mặt mình tuyên bố tôi đã hết thuốc cứu chữa rồi”.

“Ồ, tôi có thể hiểu được”. Pauline nói mà không hiểu tại sao.

Anh đang định nói tiếp, bỗng nhiên dừng lại, nhìn cô. “Tôi rất hiểu cảm giác của anh”. Cô nói với giọng trầm hơn.

“Cô hiểu?”.

“Lời nói ra từ miệng họ làm ta bị áp lực, dường như họ vẫn còn rất nhiều điều muốn nói. Nhưng họ kịp thời kiểm soát được nên không nói toạc ra hết”.

“Đúng là như thế”, Alex đáp, “nhưng tôi không nghĩ ra được có ai lại nói thế với cô”.

“Đó là chồng tôi”. Cô nói.

“Tôi luôn nghĩ chồng chị là người rất tốt”.

“Đúng vậy!” cô nói, “Nhưng, ôi, tôi không biết khi có một người luôn làm anh thất vọng, không ngừng phủ định, phê bình, bới móc khuyết điểm của anh thì sẽ như thế nào?”.

“Sẽ chau mày chán nản như thế này đây”, Alex nói. “Thậm chí cả âm nhạc anh ấy cũng chẳng thích”, Pauline thêm, “anh ấy chỉ thích yên tĩnh tuyệt đối. Nếu đang mở nhạc ngay lúc Michael về – những bản nhạc rất dễ thương, anh biết đấy, có thể giúp bầu không khí sôi động hơn – anh ấy sẽ tắt ngay. Có những lúc, Michael đi vắng mà cảm giác của tôi là như có anh ấy ở nhà, vì bỗng nhiên không khí yên tĩnh hẳn!”.

“Vậy, âm nhạc do cô tạo ra thì sao?” Alex hỏi, “Như tôi đây, tôi đang chơi kèn trompet”.

“Kèn trompet?”.

“Hồi trung học, tôi là thành viên của đội nhạc quân hành”.

“Ồ! Tôi thích kèn trompet! Âm thanh mạnh mẽ dập dồn”.

“Sau khi kết hôn, tôi lại muốn chơi kèn trompet, nhưng Adelaide sợ làm phiền hàng xóm, bảo tôi dùng thiết bị giảm thanh. Nếu dùng thiết bị này, hiệu quả sẽ khác nhiều so với âm thanh vốn có”.

“Phải đấy, dĩ nhiên sẽ khác rồi”. Pauline phụ họa.

“Trong cuộc sống của họ có quá nhiều ‘cái nên’”. Alex nói.

“Họ vốn không biết hưởng lạc là gì”. Pauline lại kể lể. Rồi cả hai im lặng. Trong một khoảnh khắc, họ im lặng. Bỗng nhiên Pauline cảm thấy có một sự bất an, cô liền cúi đầu, nắm chặt lấy xách tay của mình. Sau đó, Alex nhẹ nhàng cầm lấy xách tay của cô. Cô ngẩng đầu lên, thấy anh đang nhìn chăm chú vào mắt mình. Anh đặt xách tay của cô lên bàn ở bên cạnh, mắt vẫn dán vào người Pauline. Sau đó, anh nghiêng người về trước áp sát vào Pauline và bắt đầu hôn lên môi cô. Làn môi của anh ấm áp, ngửi như mùi cỏ xạ hương hoặc cây kinh giới ô – có vị chát đắng.

Khi họ buông nhau ra, cô thấy xấu hổ vô cùng, để che giấu sự thẹn thùng của mình, cô tránh ánh mắt nghiêm túc của anh, rồi tiến về phía trước, áp mặt vào và tiếp tục hôn anh. Tay anh lần xuống áo cô, vuốt ve làn da qua lớp váy lót. Ối, trời ạ, hôm nay cô mặc áo ngực gì? Có khuy an toàn không? Bây giờ, tay anh đang lần qua ngực cô, cô lấy tay anh ra, vuốt thẳng áo, rồi nở nụ cười run rẩy với anh.

“Trời ạ!”, cô kêu lên.

Cô thấy hơi thở của anh hơi gấp, mặt cũng không còn nụ cười.

“Ồ, tôi nên… A! mấy giờ rồi!”.

Thực tế, cô chẳng nhìn thấy đồng hồ, vì rõ ràng, trong bếp đã tối.

“Pauline”. Anh gọi.

Cô lấy xách tay trên bàn, nhìn anh, mặt lộ vẻ vui tươi và hứng khởi, ít ra với cô là thế.

“Xin lỗi”, anh nói, “tôi không nên làm thế với cô”. “Ồ, không sao!”, cô đáp.

Cô mong anh không hối hận vì chuyện lúc nãy.

Anh nói: “Lẽ nào chúng ta không thể?… Cô phải về ngay thật sao? Tôi muốn cô ở lại thêm chút nữa”.

“Muộn lắm rồi”, cô giải thích, “tôi còn phải chuẩn bị bữa tối cho gia đình”.

“Tôi có thể gặp cô lần nữa không? Tối nay thế nào? Ý tôi là, chỉ đi dạo, tối nay chúng ta tản bộ ở gần nhà cô nhé? Cô có thể ra trò chuyện với tôi không? Chỉ trò chuyện thôi?”.

“Tôi không biết”. Cô đáp.

“Cô có thể nói với Michael là muốn ra ngoài hít thở không khí trong lành, muốn đi dạo”.

Từ trước tới nay, cô chưa từng nói những lời đại loại như thế! Cô và Michael đều không phải tuýp người thích ra ngoài không mục đích. Cô nghĩ một lúc rồi nói: “Michael thường ngủ sớm hơn tôi, khoảng 9 giờ anh ấy đã ngủ rồi”.

“Vậy 9 giờ nhé”. Alex nói. “Nhưng, chỉ trò chuyện thôi đấy”.

“Vâng, dĩ nhiên”, Alex đáp, “thật mà, tôi xin thề”. Để thể hiện sự thành thật của mình, anh nắm chặt lấy cổ tay Pauline. Cô phải dùng hết sức mới vùng ra được, sau đó liền đi về nhà.

Cô thấy mình ở nhà anh chỉ hai phút, nhưng ngoài trời đã chập choạng tối. Cô cho xe nổ máy, lái nhanh như bay, từ đường Candlestick đến Pasadena, sau đó rẽ phải đến đường Winding. Việc quan trọng nhất lúc này là mau chóng chạy về nhà trước khi bị phát hiện, nhưng do đi không đúng đường, nên vừa rẽ vào, cô nhảy xuống xe chạy một mạch đến cửa nhà. Bỗng nhiên cô dừng lại trước cửa, đặt ngón tay lên môi, rồi đưa tay vuốt tóc, kiểm tra váy áo xem có chỉnh tề không. Lúc này đây, điều cô thật sự cần đến là một không gian riêng tư, nơi không ai xuất hiện để cô lấy lại bình tĩnh. Nhưng chính lúc đó, cửa đã mở ra, “Mẹ ơi!” Lindy gọi, “Đừng cho George chơi đất sét của con! Nó nhồi màu tùm lum, rồi trét đầy lên cuốn truyện tranh!”. Karen dính gì đó màu đen trên miệng, dang hai tay nói: “Lên nhà, mẹ ơi, lên nhà”. Bà Anton đang đi qua đi lại ở phía sau, mặt vẫn tỏ vẻ căng thẳng, bất an và bực bội. “Lẽ nào mẹ hiểu nhầm ý con sao?” bà hỏi Pauline, “Mẹ còn tưởng con về rất sớm, phải chăng mẹ nên chuẩn bị bữa tối?”.

“Không, không cần đâu ạ… Karen, mặt con sao thế? Đừng túm áo mẹ, Lindy, cho mẹ thở cái nào. Bố con đâu?”.

“Bố đang thử nấu canh trong bếp”. Lindy trả lời. “Canh! Bố nấu canh làm gì? Mẹ nấu rồi mà, chỉ cần bắc lên bếp hâm lại thôi!”.

Cô đi qua hành lang vào phòng khách, theo sau là mấy đứa trẻ không ngừng nắm lấy váy, cổ chân cô – Pauline cảm giác như mình có một đàn con, chứ không chỉ ba đứa – theo sau là bà Anton với vẻ mặt bất mãn. Michael đang ra sức khui một hộp thức ăn. Khi Pauline bước vào, anh quay người lại nói: “Tạ ơn trời đất, cuối cùng em đã về! Bọn trẻ cứ bảo đói mãi!”.

“Ôi trời”, cô nói, “em thấy chúng vẫn chưa đến mức đói lắm”. Cô đặt xách tay lên bàn, lấy đồ khui từ tay anh. “Em sẽ hâm nóng bữa tối trên bếp, chỉ 1 giờ sau thôi”.

“1 giờ!”, Michael kêu lên.

Cô vờ như không nghe thấy, tay mở bộ điều chỉnh nhiệt lên 400 độ, rồi lấy thức ăn trong tủ lạnh ra. Cô hy vọng tiếng gót giày va đập nhanh trên sàn nhà có thể giúp mình trấn an đôi chút. Nhưng thực tế không phải vậy, Michael vẫn nhìn cô với ánh mắt trách móc. “Em đi đâu mà lâu thế?” anh hỏi.

“Vẫn chưa muộn lắm mà!” cô nói, “Chà! Chúng không nhất thiết phải dùng bữa trước khi mặt trời lặn…”.

“Anh có gọi điện cho Katie, cô ấy bảo em về lâu rồi mà”. “A, đúng vậy, có điều em… ghé qua nhà bố mẹ”. Giờ cô đang đặt nồi lên bếp, nên không cần đối diện với ánh mắt của Michael. Anh hỏi: “Về nhà bố mẹ ư?” nhưng không chờ anh nói tiếp, Karen đã bắt đầu đòi anh bế, tựa như cơn mưa kịp thời chuyển dời sự chú ý của Michael.

“Megan tội nghiệp sao rồi?”, bà Anton hỏi, “Đứa bé chào đời chưa?”.

“Người mẹ nói là Donna phải không ạ!”, Pauline hỏi. Người đàn bà này hầu như không nhớ được tên của chị Pauline, điều này hơi làm người ta tức tối, nhưng tối nay Pauline lại biết ơn vô cùng việc này. Pauline giải thích “Donna đang mang thai ạ”, “đứa bé vẫn chưa chào đời, tối qua cả nhà cuống quýt đưa chị ấy vào bệnh viện, còn bảo mẹ sang trông chừng cháu. Nhưng cuối cùng chỉ là chị ấy sợ bóng sợ gió thôi”.

“Trời ạ! Mọi người cứ ngỡ chị con biết mặt đứa bé rồi chứ”, bà Anton nói, “đứa thứ ba rồi phải không?”.

“Thứ tư ạ!”.

“Ồ, mẹ còn tưởng chị con mới có hai đứa chứ”.

“Đó là Megan”.

“Lẽ nào người chúng ta đang nói không phải Megan sao?”.

Pauline dừng gọt vỏ khoai, tuyệt vọng nhìn Michael, nhưng anh đáp lại với vẻ mặt lạnh lùng. Karen đang leo lên vai bố rồi tụt xuống nghịch ngợm, nhưng anh lại đứng yên đó tựa như vật thể không sức sống. “Thứ gì trên miệng Karen vậy?”, Pauline hỏi. “Bảo anh trông chừng nó, nào ngờ lại thế này!”.

“Đó là kẹo cao su”.

George nói với giọng the thé. Nó đang cầm cuốn truyện tranh ngồi dưới sàn. “Karen làm kẹo dính lên tóc, bố đành dùng kéo cắt đi phần tóc đó”.

Pauline đến gần nhìn kỹ Karen. Đúng thế, một lọn tóc bên tai trái cô bé bị cắt mất lộ ra cả da đầu. Cô nói: “Ái chà, trời ạ, anh biết nó còn quá nhỏ, không thể ăn kẹo cao su mà!”.

Michael không trả lời, tiếp tục nhìn cô. Rõ ràng, khả năng kiềm chế của anh cực mạnh. Cuối cùng, George phá vỡ bầu không khí im lặng: “Không phải bố đưa cho em đâu, em lấy trên bàn trang điểm của mẹ đó”.

“Được rồi, có trời mới biết chúng ta phải làm sạch nó bằng cách nào”, Pauline nói.

Cô bắt đầu cắt khoai tây thành từng miếng nhỏ mà không hề nhìn ánh mắt chăm chú của Michael.

Cuối cùng, vì muốn tẩy sạch kẹo cao su trên người Karen, Pauline phải dùng aceton, xà phòng và nước, nhưng vẫn vô hiệu. Pauline đè mạnh lên người cô bé để ngăn chặn nó cựa quậy hoặc vùng chạy. Từ đầu chí cuối, Karen kêu thét như bị thọc tiết trong nhà tắm. “Đừng kêu nữa”, Pauline gằn giọng, “con sắp làm mẹ điếc tai rồi đó”. Lindy đứng ngoài cửa hứng khởi xem trò, George ngồi trong bồn tắm đầy bọt bong bóng, mở to mắt nhìn mẹ và em. Sau đó, Karen tự bò trở vào bồn tắm, vừa nấc lên, vừa khịt mũi, vì giờ người nó đầy mùi aceton.

Những việc này chiếm cả thời gian rảnh trước giờ ăn tối, bọn trẻ dường như quên mất cơn đói, khi chúng ngồi vào bàn ăn, đứa nào cũng đều ngoan ngoãn thay quần áo ngủ sạch, người chúng ẩm ướt, chẳng đứa nào muốn động đến đĩa thức ăn trước mặt. “Ăn đi”. Cô nói với các con, rồi cầm nĩa lên trước làm gương cho chúng. Áo và váy đều ướt, mặt cũng đầy mồ hôi. Thật ra, cô chẳng thấy ngon miệng, nhưng phải vờ dùng dao cắt miếng thịt ga với vẻ mặt hân hoan. “Món này em học từ Mimi Drew đấy”, cô nói với Michael, “em nghĩ anh sẽ thích”.

Nhưng Michael chẳng phát biểu lời nào, anh đứng dậy đi vào bếp lấy bơ. Theo cô thấy, đây rõ ràng là sự trách móc anh dành cho cô. Anh vốn có thể bảo cô đi lấy, và cô sẽ sẵn lòng làm ngay. Nhưng anh không làm thế, từ từ bước từng bước đi qua phòng khách vào bếp, sau đó bước ra bằng cây nạng sắt. Anh đặt đĩa bơ trước mặt mẹ, rồi lại ngồi trở vào ghế của mình, miệng cứ lầm bầm vẻ bất mãn. Pauline nhìn đĩa bơ mà thấy mình bị tổn thương. Hành động của anh ám chỉ Pauline không quan tâm đến nhu cầu của mẹ anh. Bà Anton liền cắt bơ ra, trát lên bánh mì, trông như đã bị bỏ đói từ lâu. Michael nhét đầy thịt gà vào miệng, nhai ngồm ngoàm. Mỗi lần cằm anh khép lại, một mạch máu nhỏ ẩn hiện trên huyệt thái dương bên trái của anh, với anh ăn cơm giống như là hoàn thành một hoạt động thể lực nặng.

“Ái chà!” Pauline vui vẻ nói, “Trở về thăm hàng xóm láng giềng cũ quả là rất tuyệt vời, anh thì đã quen rồi, vì ngày nào anh cũng đến cửa hiệu làm việc, nhưng với em đó là một niềm vui bất ngờ! Lúc đó em nghĩ: chúng ta từng sống ở nơi đây ư? Mọi căn nhà đều trông chật hẹp thế!”.

“Nếu con muốn mua một cuộn chỉ, có thể đến đó mà không cần lái xe”. Bà Anton sáng suốt chỉ ra.

“Vâng, đúng thế…”.

“Chúng ta chuyển nhà có được cũng có mất”. Michael xen vào.

George nói: “Mẹ ơi, con và Buddy…” nhưng Pauline vội bảo: “Suỵt, George, bố đang nói chuyện đấy”.

Michael chỉ đành nhai nhuyễn thịt gà trong miệng, rồi cố gắng nuốt xuống, sau đó lại uống một ngụm nước. Một bầu không khí yên lặng bao trùm cả nhà.

George thử nói lần nữa: “Con và Buddy…”.

“Sống ở đây có cái lợi mà cũng có cái hại”, cuối cùng Michael nói, “lúc chúng ta quyết định chuyển đến đây anh đã ý thức được điều này. Đúng, giờ không gian của chúng ta rộng hơn trước nhiều, thế nên với bọn trẻ… quả rất tốt”.

Nếu anh dùng từ không thích hợp khi nói chuyện sẽ có hậu quả gì? Nếu anh không tìm được cách diễn đạt chừng mực, cuộc sống của họ phải chăng sẽ chấm dứt?

“… Nhưng đôi lúc anh lại bất chợt thấy không gian rộng lớn này, chà, dường như…”, anh nói tiếp, “ý anh là, một… nhân tố bất lợi. Anh thấy với một gia đình, nhất là một gia đình thuận hòa là như thế, nếu em hiểu được ý anh…”.

Pauline đang cắt khoai vào đĩa thật mạnh. George và Lindy cười khanh khách, Michael dừng lại, nhìn cô. “Em xin lỗi”. Cô nói với anh.

Radio đang phát vũ khúc polka mà bà Anton thích, đây là chương trình lúc 8 giờ 30 mỗi tối thứ bảy. Bà ngồi trên ghế salon trong phòng khách, vừa vá chiếc quần ngủ của Karen, vừa gật gù trước tiết tấu bản “Đừng ve vãn con gái tôi” của Frankie Yankovic. Bà không theo nhịp nhạc, đó là cách gật gù chậm rãi, cứng nhắc và trang trọng.

Đầu bên kia ghế salon, Michael đang ngồi đọc báo. Đó là tờ báo thứ bảy, mỏng hơn mọi khi, các tít in trên đó rất nhỏ, từ chỗ Pauline chẳng nhìn thấy rõ là chữ gì. Cô ngồi ở bên kia phòng, đọc lướt cuốn “Tạp chí phụ nữ”. Cô chỉ thấy ngón tay cầm báo của Michael, hai chân dài khẳng khiu với quần màu xám và đôi giày màu nâu đậm.

“Có lẽ mẹ nên may bằng cây kim to hơn”, bà Anton nói với Pauline, “gấu quần này may hai lớp, luồn kim mệt quá”. “Mẹ muốn con lấy cây kim to hơn không?”, Pauline hỏi, cô không thể tập trung chú ý vào cuốn tạp chí.

“Không cần đâu, à, chờ chút đã, để mẹ xem nó ra sao”. Michael ngáp một cái sau tờ báo, cô biết anh chỉ giả vờ thôi. Anh gấp báo lại, đặt sang một bên, vươn vai. “A”, anh nói, rồi lại ngáp thêm cái nữa, “Ôi, con mệt quá, buồn ngủ rồi”.

Pauline lật một trang báo, thấy một cô gái mặc chiếc tạp dề tai bèo đang bưng một đĩa thịt hầm lớn.

“Pauline, em không ngủ sao?”. “Lát nữa”. Cô trả lời.

Nói xong, cô lại lật tiếp một trang báo.

Michael đứng dậy, chần chừ, cô cảm giác được anh đang nhìn mình. Theo thường lệ, tối thứ bảy là ngày quan hệ chăn gối, rõ ràng anh đang ám chỉ điều này. Anh luôn thích làm việc theo một cách cố định. Cô vẫn chuyên chú xem cách chế biến món khoai tây nấu gratin (vỏ bánh mì vụn giòn hoặc phó mát thái vụn).

“Thôi được”, cuối cùng Michael nói, “nếu thế, ồ, chúc mẹ ngủ ngon”.

“Chúc con ngủ ngon”. Mẹ anh nói.

Nhưng anh vẫn đứng yên một chỗ, cuối cùng Pauline ngẩng đầu lên.

“Một phút sau con sẽ vào chứ?”, anh hỏi. “Vâng”.

Nói xong, cô lại dán mắt vào cuốn tạp chí. Anh quay người, thọt từng bước ra khỏi phòng khách.

Lúc này radio đang phát bài “Ngủ ngon, polka”, tức kết thúc chương trình, chắc cũng 9 giờ rồi. Bà Anton cắn đứt sợi chỉ, ghim kim vào tay vịn ghế salon. “May xong rồi sao mẹ?”, Pauline hỏi.

“Hệt như cái mới”. Bà Anton đáp.

Bà đặt đồ của Karen lên bàn cà phê, chuẩn bị đứng dậy. Lúc này Pauline bỗng nhiên cảm thấy muốn ngồi lại đây mà không muốn vào phòng. Hơi thở của cô trở nên gấp rút, toàn thân run lên. Nhưng, sao lại như thế? Cô chỉ muốn ra ngoài đi dạo vào buổi tối thôi, thế đâu có tội gì. “Chà!” cô nói, “Cám ơn mẹ!” giọng cô yếu lạ thường, nhưng bà Anton không hề chú ý điều này.

“Đừng khách sáo”. Bà đáp.

Bà nhổm dậy, chuyển đổi tư thế ngồi trên ghế salon, sau đó dùng tay chống lên tay vịn của ghế, lấy sức đứng dậy. Nhưng Pauline vẫn tiếp tục trò chuyện với bà: “Mong Karen có thể mặc tiếp, gần đây con bé lớn rất nhanh. Trời trở lạnh, chắc bộ đồ này đã quá nhỏ rồi! Mẹ thấy sao?”.

“Phải đấy, con bé đang phát triển chiều cao”. Bà Anton trả lời mà hồn để đâu đâu, rồi tiếp tục đi ra hành lang.

“Thế thì tiếc quá, uổng công mẹ may lại cho con bé rồi”.

“À, không sao”.

“Dù gì chúng con cũng chẳng còn đẻ thêm đứa nào để mặc tiếp quần áo của chúng nữa!”.

Cuối cùng bà Anton cũng bị lời nói của cô thu hút. Bà dừng một lúc, quay người lại, hỏi với giọng tò mò không biết chán: “Ồ?” bà nói, “Giờ con không thể khẳng định thế”.

“Nhưng ba đứa đã nhiều lắm rồi”, Pauline nói với bà, “mẹ không nghĩ thế sao? Chỉ toàn phụ nữ nuôi dạy con cái, chúng ta phải gánh trách nhiệm đó, đàn ông chẳng màng gì cả.”.

Bà Anton nghiêng đầu suy nghĩ vấn đề này, “Con biết đấy”, bà nói, “mẹ nghĩ John chẳng biết gì về nỗi cực nhọc gian nan của mẹ. Còn nhớ một lần cả Danny và Michael đều mắc bệnh đậu mùa, mẹ chẳng biết làm thế nào, chỉ muốn chết cho xong! Một đêm, mẹ không thay quần áo đã lăn ra ngủ, lúc tỉnh giấc đã là sáng hôm sau, phát hiện John đứng trước mặt mẹ, ‘Em yêu!’ ông nói với mẹ, ‘Em yêu! Anh không thấy bữa sáng!’”.

Pauline cười rộ lên. “Nói thế là mẹ hiểu ý con rồi”. “Ừ, con có ba đứa! Còn mẹ chỉ có hai”.

Sau một hồi, dường như bà nhớ ra điều gì, “Chà, mẹ nên ngủ thôi”. Nói xong bà liền xoay người bước ra hành lang. “Ngủ ngon, con yêu”. Bà nói với Pauline.

“Chúc mẹ ngủ ngon”.

Pauline gấp cuốn tạp chí lại, đặt sang một bên, rồi chồm người tắt radio. Cô nghe tiếng bước chân mẹ chồng lê qua hành lang, cảm giác run sợ lại ùa đến trong cô lần nữa.

Chỗ nước vấy trên áo đã khô từ lâu, nếu phủi thẳng một chút, cô thấy cũng được, nhưng quả thật cô rất muốn trang điểm nhẹ, đánh ít phấn, rồi thoa chút son.

Nhưng, cô lại ngồi bất động tại chỗ.

Trong nhà im lặng đến lạ thường, có thể nghe được tiếng gió vù vù của quạt trần thổi hơi nóng ở cửa sổ gần đó vào. Cô nghe tiếng một chiếc xe hơi chạy qua, radio nhà bên cạnh đang phát khúc nhạc “Mang hành trang bước đi” nghe thật ngân vang.

Bỗng nhiên điện thoại reo.

Phản ứng đầu tiên của cô là Alex gọi đến, cô liền đứng phắt dậy, chạy như bay vào bếp, hồi hộp vô cùng. Cô muốn tiếng chuông ngừng reo trước khi Michael bắt máy, nhưng một lúc sau cô liền ý thức được Alex sẽ không gọi đến vào lúc này. Cô lò mò trong bóng tối tìm ống nghe, rồi nhấc máy: “Alô?”.

“Pauline?”, mẹ cô hỏi. “Mẹ?”.

“Sao con không gọi điện!”. “Mẹ nói sao?”.

“Con không gọi điện cho mẹ, cũng chẳng gọi cho chị con…”.

“Con không hiểu mẹ nói gì!”.

“Mẹ có nhắn lại”, bà càu nhàu, “Michael không nói con biết sao? Donna sinh rồi”.

“Chị ấy sinh rồi?”.

“Con gái đấy, tên Jean Marie. Nặng hơn 7 pound”. “Anh ấy chẳng nói gì với con cả!”.

“Mẹ tròn con vuông. Michael hứa nhắn lại với con mà”. “Khoan đã, chị ấy sinh hồi nào hả mẹ?”, Pauline hỏi. “2 giờ trưa. Sinh 2 tiếng rưỡi, nhanh hơn lần trước, hóa ra sinh…”.

“Vậy mẹ gọi đến vào lúc nào? Khi đó con ở đâu?”. “Michael bảo con đến nhà Katie chơi bài”.

Bỗng chốc, Pauline nói không nên lời, chỉ thấy toàn thân nóng ran.

“Pauline?”.

Lúc đó cô nói gì với Michael? Có phải cô nói là mình về nhà bố mẹ không?

Đúng thế, hầu như cô có thể khẳng định mình đã nói thế.

Lúc đó phản ứng của anh… cả sắc mặt của anh nữa… “Pauline, con sẽ gọi cho Donna chứ? Chắc giờ chị con ngủ rồi, nhưng…”.

“Sáng sớm mai thức dậy con sẽ gọi cho chị ngay”, cô nói, “cám ơn mẹ, tạm biệt”.

Cô cố gắng gác máy “cạch” một tiếng thật nhẹ.

Tiếng nhạc từ nhà bên cạnh không còn ngân vang nữa, hoặc chí ít không còn nghe thấy ở trong căn nhà này, chỉ còn nghe được tiếng quạt trần quay vù vù.

Cô nhìn đồng hồ dạ quang: 9 giờ 22. Cô lại quay người, nhìn ra ngoài cửa sổ, bên ngoài sáng hơn trong nhà nhiều, tối nay chắc là đêm trăng tròn. Cô có thể nhìn thấy lùm hoa tú cầu ở nhà Swensons đối diện đường – trên thùng thư ngoài cửa, áng mây trắng xanh lấp lánh ánh ngọc trai cuộn về phía trước như những con sóng – còn một tia sáng le lói rọi trên nóc xe nhà cô. Cô thấy một người đàn ông luẩn quẩn quanh đấy, thỉnh thoảng dừng lại trước nhà cô, vài phút sau lại thấy anh ta đi từ hướng ngược lại, rồi dừng một lúc, rồi lại đi qua. Nhưng Pauline vẫn đứng yên tại chỗ.

Phòng ngủ tối om, rèm cửa sổ dày nặng đã che mất ánh trăng sáng bên ngoài. Cô lần mò trong bóng đêm đến đầu giường, rồi lại lần qua tủ áo, sau đó mặc chiếc áo ngủ móc trên giá. Chiếc áo như vừa mới ủi, có mùi vị thân thiết của gia đình. Cô lên giường, rồi nằm cạnh Michael, giờ cô có thể thấy chập choạng mọi thứ xung quanh.

Anh nằm quay lưng về phía cô, hơi thở đều đặn. Cô không biết anh đã ngủ chưa, bèn lắc nhẹ, rồi ôm anh từ phía sau và áp sát mặt vào lưng anh. Nhưng anh vẫn nằm yên không cử động, hơi thở vẫn đều đặn, một trái tim đập nhanh liên hồi trong cơ thể bình lặng như mặt nước lạnh và sâu như không thể nào dò được.