Cuối trời hợp tan

“Em đang nghĩ có nên mang theo hồ sơ bệnh lý của Lindy không”. Pauline nói.

“Hồ sơ bệnh lý gì?”. Anh hỏi.

“Chắc nó ở trong tập hồ sơ của bác sĩ khoa nhi”.

“Ồ…”, Michael trả lời, nhưng anh không nói con gái họ đã quá tuổi khám bác sĩ khoa nhi từ lâu rồi.

Sau đó, Pauline không trò chuyện nữa. Khi anh nhìn lại, mắt cô gần như híp chặt. Mấy lần cô ngồi thẳng người, chớp mắt, nhưng chẳng bao lâu sau đầu cô lại nghiêng sang cửa sổ. Michael không ngủ được, dù họ dậy rất sớm để kịp chuyến bay. Anh tập những điều cần thiết khi gặp tình huống khẩn cấp tìm thấy trong túi phía sau ghế, đọc lướt tờ tuần san cô tiếp viên hàng không đưa cho anh. Pauline phát ra tiếng ngáy nhỏ, miệng cũng há mở. Nếu cô biết được, chắc chắn sẽ rất ngại ngùng. Vì chuyến đi vội lần này, cô tô màu son đỏ đậm, cả phấn nền vón cục nơi lúm đồng tiền làm cô trông càng già nua hơn. Giờ đây, Michael thấy lúm đồng tiền của Pauline càng giống một vết khô rạn nhỏ – mãi đến giờ anh mới chú ý thấy điều này. Mí mắt cô đã nhăn nhúm, đôi chân mang vớ dài dưới chiếc váy cực ngắn đưa ra tựa như hai cây xúc xích.

Nhớ lại năm 1957, kỷ niệm 15 năm ngày cưới của họ, Pauline đề nghị ăn diện một chút để chụp một tấm ảnh. Cô vừa nói, vừa nhổ bốn sợi tóc bạc trên đầu. Cô đã bắt đầu già đi, không còn xinh đẹp như xưa nữa. Sau khi nghe đề nghị của cô Michael cảm thấy rất vui. Thế nên, họ đến hiệu chụp ảnh chân dung Aronson. Michael mặc bộ com lê, Pauline mặc bộ trang phục lụa màu xám. Thợ chụp ảnh bảo họ đứng trước rèm cửa sổ bằng nhung, bức rèm đó tạo nếp gấp tuyệt đẹp dưới chân họ. “Đứng sát vào nữa nào”, thợ chụp ảnh nói, “chị ngẩng cằm lên một chút, anh quàng tay qua người chị…”. Michael làm theo lời anh ta, quàng tay qua eo Pauline. Làn da cô mềm mại, hay đúng hơn đó là sự mềm mại của vải lụa mà anh không quen thuộc, lúc đó anh có cảm giác như đang đứng cạnh một người xa lạ. Người đàn bà này là ai? Có quan hệ gì với anh? Sao họ lại sống chung dưới một mái nhà, cùng nuôi dạy con cái, nối kết cuộc sống của mình vào nhau?

Tấm ảnh chụp xong, được lồng vào khung hình mạ viền vàng, để trong tủ áo của Pauline. Trong hình, cả hai người họ đều mỉm cười một cách cứng nhắc.

Nhìn từ trên cao xuống, San Francisco trông rất đẹp. Hầu như phần lớn cùng này đều bao quanh bởi các con sông; Pauline chỉ một cây cầu bên ngoài, hình như là cầu Golden Gate. Trên đường ngồi taxi ra khỏi sân bay, họ nhìn thấy nhiều sông hơn, mạch núi hầu như đều nghiêng về hướng này. So với nơi đây, Baltimore nghèo khổ và bình lặng.

Bác tài là người đàn ông có tuổi, đội nón nỉ màu nâu, ít nói. Pauline đưa địa chỉ cho ông và bắt chuyện. “Ông là dân vùng này sao?”, cô hỏi.

“Phải”.

“Ồ, San Francisco quả là nơi rất đẹp”. “Vâng”.

“Chúng tôi vừa từ Baltimore đến, đây là lần đầu tiên chúng tôi đến phía Tây của Mississippi”.

Im lặng.

Sự im lặng này làm Michael dễ chịu vô cùng. Khi nhớ đến cuộc tranh cãi trước lúc máy bay hạ cánh, anh liền khẽ lầm bầm: “Đến bệnh viện trước phiền quá…”, anh nói với Pauline.

“Sao? Michael, em không nghe được anh nói gì”. Cô gào to.

Anh nhắm mắt lại, rồi mở ra, nhắc lại câu vừa nói. “Nếu chúng ta đến bệnh viện trước, phải mang theo tất cả hành lý”.

“Sao thế? Chỉ là một vali nhỏ thôi mà”.

“Đúng thế, nhưng nếu họ cho chúng ta đưa Lindy về, con bé cũng có hành lý chứ…”.

“Michael, con gái em bị bệnh, đang chờ em, em không muốn lãng phí thời gian lấy đồ ngủ trong vali ra”.

“Có ai bảo em lấy đồ ngủ ra đâu, ý anh là…”.

“Con chúng tôi đang nằm trong bệnh viện”, Pauline nói với bác tài, giọng lớn hơn, “hôm qua chúng tôi mới hay tin”.

“Viện điều dưỡng”. Bác tài nói. “Ông nói sao?”.

“Họ gọi đó là viện điều dưỡng, không phải bệnh viện”. Lúc đó Michael còn tưởng bác tài bảo không hề có nơi đó, anh thấy sự hiểu lầm này rất buồn cười.

Pauline hỏi: “Sao ông biết?”.

“Ai cũng biết Nineteen Fleet Street”. “Đấy là… viện điều dưỡng?”.

“Do hai anh em quản lý”. Bác tài nói. “Ồ, anh em ruột hả?”.

“Đại loại như thế…”.

Pauline nhìn Michael, nhưng xem ra anh cũng chẳng hiểu bao nhiêu.

“Khoan đã”, cô hỏi bác tài, “ý ông là, con gái chúng tôi bị bắt sao?”.

“Không phải”, bác tài nói, “có người ra ngoài tìm, đó là nhiệm vụ của họ, sau đó lôi những người vừa tìm được vào và tiến hành quản giáo”.

“Bắt người…”.

“Những con nghiện, dân híp-pi, người lập dị chống lại những quy ước xã hội… đều bị bắt vào đó”.

Michael lập tức ghét cay ghét đắng con người này, anh quay qua nói thấp giọng với Pauline: “Chúng ta có thể đến quán trọ cất hành lý trước. Em chẳng bảo chủ nhà nói đi bộ một đoạn là tới sao”.

“Thực ra, con gái chúng tôi chỉ suy sụp vì căng thẳng tinh thần thôi”, Pauline nói với bác tài, “chúng tôi đến đây để đưa nó về. Trước giờ, chúng tôi luôn là gia đình thân thiết và đầy yêu thương, chúng tôi biết hễ nó về với gia đình sẽ nhanh chóng ổn định lại thôi”.

Bác tài không nói gì, mở đèn xi-nhan.

Giờ họ đang đi xuyên qua thành phố này. Thoạt đầu, Michael thấy nhà cửa ven đường để lại ấn tượng sâu sắc. Đấy đều là những căn nhà cổ rất bắt mắt, hơn nữa còn có căn gác nhỏ hình tháp và ban công viền hoa, cửa sổ bay màu và nóc nhà thì nhọn hoắt. Nhưng dần dà mọi thứ đều trở nên xưa cũ, tựa như chiếc taxi của họ đang đi vượt thời gian, trở về mấy mươi năm trước vậy, sơn đều bong tróc, cửa chính đều tan vỡ, rèm cửa sổ đã bay màu, một số cửa sổ đóng ván, một người con trai tóc dài mặc chiếc áo cũ nát nhắm mắt đứng dựa cột đèn bên đường. Bác tài mở khóa cửa xe, Michael và Pauline bước ra.

Nineteen Fleet Street chính là căn nhà cũ nát này, cả bảng hiệu cũng không có. Pauline hỏi bác tài: “Ông chắc đây là nơi chúng tôi muốn đến chứ?”.

“Đúng vậy”.

Cô lại ngồi vào chỗ, hoảng sợ đến phát khóc. Michael chưa kịp khuyên cô, bác tài đã ra phía sau, bảo Pauline: “Ra ngoài đi”.

Cô lại kéo tay nắm cửa, đứng loạng choạng trên vỉa hè, chiếc váy ngắn của cô nhăn nhúm, dây túi xách vướng vào cửa sổ xe.

“Hy vọng mọi chuyện thuận lợi với anh chị”. Bác tài nói với Michael.

Tuy không thích ông ấy, nhưng Michael vẫn cho ông ấy một ít tiền boa, dù tiền xe đắt đến cắt cổ.

Nghe tiếng chuông, người đàn ông ra mở cửa trông chẳng thành kính chút nào. Anh ta dáng cao, tóc xám trắng, râu cạo rất sạch sẽ, mặc áo flanen carô và quần bò, mang đôi ủng cao bồi nhọn hoắt. “Ai đấy?”, anh ta hỏi.

“Tôi là Michael Anton”, Michael bỏ vali xuống, “đây là vợ tôi, Pauline. Con gái chúng tôi ở chỗ anh”.

Dừng một lúc, người đàn ông đó ngẩng nhẹ đầu lên. “Con gái chúng tôi Lindy, Linnet”. Michael nói.

“Ở đây, chẳng ai có tên đó cả”. Người đàn ông nói.

“Sao?”.

“Họ, tên… những thứ trước đây đều bị bỏ lại khi chúng ta tiếp tục tiến bước”.

Xem ra, người đàn ông đó rất thành kính. Cuộc đối thoại nghiêm túc đã nói rõ sự việc. Michael tỏ ra rất lịch sự. “Điều anh nói quả là có ý nghĩa. Hình như nó được đưa vào đây khoảng ba hôm trước. Tôi biết, ơ, tinh thần nó bất thường. Nó cao độ chừng này, màu da xem xem với tôi, mắt nâu, tóc đen, nhưng tôi không biết nó để kiểu tóc gì…”.

“Serenity”. Một người bỗng nói.

Nhất thời Michael chẳng hiểu gì. Anh nhìn cậu bé đứng bên cạnh người đàn ông đó – một thiếu niên gầy nhom, mặc áo khoác thắt ngang lưng bằng vải sa-tanh và quần ống loe in hoa.

“Đúng vậy”, người thanh niên cũng đồng ý nói, “là Serenity. Cô ấy đến chỗ chúng tôi hồi thứ hai”.

Pauline hơi gấp: “Chúng tôi có thể gặp nó không?”. “A, không được”, người đàn ông nói với giọng nuối tiếc, “e rằng không thể. Ở đây, mọi người đều không có quan hệ với gia đình”.

“Nếu thế, chỉ gặp một phút thôi cũng không được sao?”, Pauline van nài.

Michael vội hỏi: “Được không ạ?” anh quay sang nhìn người đàn ông, người đó cũng bình thản nhìn anh. “Tôi nghĩ các anh không hiểu”, anh nói, “suốt 7 năm nay chúng tôi mất liên lạc với con gái. Mãi đến trước hôm qua, thậm chí chúng tôi không dám chắc nó còn sống hay không. Chúng tôi chỉ muốn gặp nó thôi, xem nó sống thế nào”.

“Sau đó đưa nó về nhà và giúp nó khỏe trở lại”. Pauline thêm vào.

Michael quay người về phía họ: “Anh xin em, Pauline, để anh xử lý chuyện này”. Anh lại nói với người đàn ông đó: “Chúng tôi chỉ muốn xem thử nó thế nào, nếu nó bằng lòng theo chúng tôi về, thế thì tốt. Nếu nó không muốn, chúng tôi đành về”.

“Rất xin lỗi anh bạn”, người đàn ông đó nhỏ nhẹ nói, “Serenity không thể gặp người khác”.

Pauline nói: “Đây là đâu thế hả, trại giam sao? Anh bắt con chúng tôi sao?”.

“Pauline…”.

“Chúng tôi không làm hại nó! Chúng tôi không phải… là một gia đình tồi tệ! Hãy đi hỏi Lindy xem! Hãy cho nó ra đây nói chuyện với chúng tôi một giây! Anh không có quyền ngăn cách nó với chúng tôi!”.

Người đàn ông lùi một bước, chỉ vào căn phòng sau lưng – đó là sảnh lớn khi vào cửa, chỉ có chiếc bàn tròn nhỏ với tấm khăn trải bàn, chẳng còn thứ gì khác. “Chị có thấy nơi hàng rào không?”. Anh hỏi Pauline với giọng ôn tồn nhất, rồi chỉ cậu thanh niên. “Tarragon đứng ở đó, chỉ cần cậu ấy muốn, cậu ấy có thể rời khỏi đây bất cứ lúc nào. Tarragon, cậu có muốn rời khỏi đây không?”.

Cậu thanh niên lùi về sau một bước, lắc đầu.

Michael nói: “Rất hiển nhiên, chúng tôi không hề có ý trách anh”. Anh cảm nhận được Pauline đang lườm mình, nhưng anh luôn nhìn người đàn ông đó. “Nhưng, anh hãy vào nhắn với con gái tôi là chúng tôi đến thăm, rồi xem ý nó thế nào, hãy cho nó cơ hội chọn lựa”.

“Cô ấy đã chọn lựa rồi”, người đàn ông đó nói, vẫn rất ôn tồn, “cô ấy đã quyết định khi đến chỗ chúng tôi”.

Pauline phát ra âm thanh gì đó trong cổ họng. Michael nói: “Được thôi!” anh có vẻ căng thẳng. “Vậy, trình tự cụ thể là gì?”, anh hỏi, “Khi… nó tỉnh táo, các anh sẽ thả nó ra chứ? Ở đây có thời gian thăm nom cố định không?”.

“Tôi sẽ ‘thả’ họ ra, như anh nói đấy, khi họ quyết định làm lại cuộc đời”, người đàn ông khẳng định, “khi họ mở cánh cửa phía trước, một lần nữa họ được sinh ra trên thế giới này”.

“Ôi, hỡi Thượng đế!”, Pauline gào to.

Người đàn ông nhìn cô với ánh mắt trìu mến, sau đó quay sang nói với Michael: “Anh chị có thể gọi điện đến hỏi xem Serenity sống thế nào. Chỗ chúng tôi chẳng có bí mật gì, anh chị có thể tìm được địa chỉ của chúng tôi trong sổ danh bạ: Viện điều dưỡng Nineteen Fleet Street. Tôi tên Becoming.

Lần thứ hai trong ngày, Michael cảm thấy ngột ngạt, khó chịu.

Quán trọ mà bà chủ nhà giới thiệu cho họ cách Viện điều dưỡng Nineteen Fleet Street chỉ ba con phố, hơn nữa cách nhà bà cũng chỉ hai con phố. Nhưng tiếc rằng, không khí ở đó làm người ta thấy rất chán nản. Nó cho ta cảm giác thê lương vào buổi sáng. Trên vỉa hè có mấy kẻ lang thang; giấy rác làm tắc nghẽn rãnh nước; một đứa trẻ trông rất đói xin tiền họ; một người đàn ông già mặc áo thụng ngồi trước cửa vẻ thểu não; tủ kính cửa hiệu thực phẩm bám đầy bụi bặm: áo Mexico rộng thùng thình, dép Trung Quốc, đồng hồ, từng bó trầm hương, đủ các loại hộp thuốc lá và tẩu thuốc nhỏ, còn có ống điếu Trung Đông.

Michael thấy tất cả những điều này, anh tò mò tìm hiểu còn Pauline chỉ lo vung tay rảo bước nhanh về phía trước. Cô nhắc hai lần bảo mình rất lạnh, nhưng anh chẳng nói năng gì, cuối cùng cô bảo anh dừng lại, lấy chiếc áo len mang theo ra. Quả thật rất lạnh, đấy chính là thời tiết ở San Francisco. “Giờ anh hiểu rồi chứ, em mang theo hành lý bên mình là đúng”. Cô nói thế với anh khi duỗi tay mặc tay áo vào.

Michael thở dài. Cô hỏi: “Sao thế?”.

“Pauline, chúng ta mang theo hành lý vì em nằng nặc đòi đến Nineteen Fleet Street trước”.

“Anh trách em được sao?”.

“Anh không trách em, anh chỉ nói…”.

“Em muốn gặp con!” Pauline khóc òa lên, “Em đã chờ bao nhiêu năm rồi, em đã bay từ bên kia đại lục đến đây, sau anh còn bảo em phải chờ, chỉ vì anh muốn cất hành lý vào căn phòng mà chúng ta đã thuê!”.

“Pau…”.

“Hơn nữa lúc chúng ta đến đây, anh đã làm những gì? Đứng đó như con rùa thụt cổ. ‘Ồ, chào anh, rất xin lỗi,’ anh nói, ‘các anh không thể thả nó ra sao? Các anh không thể để chúng tôi gặp nó sao? Thưa anh. Anh muốn sao cũng được’”.

“Con bé cũng 25 tuổi rồi, Pauline. Tự nó muốn vào đó, theo anh biết, quy tắc của họ là…”.

“Ồ, Quy tắc! Sao em phải bận tâm mấy thứ đó chứ? Em là mẹ nó, những quy tắc đó làm em tan nát cõi lòng! Nó giết chết em! Ăn tươi nuốt sống em! Em chịu hết nổi rồi!”.

Nước mắt chảy dọc theo gò má của Pauline. Cô xoay người, lại cởi áo len ra, lưng cô ưỡn thẳng, vẻ rất phẫn nộ. Michael cầm lấy vali và không nói gì với cô.

Anh có thể nói được gì kia chứ?

Ở góc đường, có một đôi vợ chồng rất giống họ, ngoài 40, người đàn ông mặc áo thể dục, người phụ nữ mặc váy ngắn, họ đang đứng đó ngắm nhìn tờ áp phích sắp rơi khỏi tường. Trên cổ người đàn ông có đeo một chiếc máy ảnh. Bỗng nhiên Michael thấy anh ta rất giống mình lúc đi họp phụ huynh vào mùa thu năm ngoái cho Karen: trong một đám đông các ông già bà lão bị con mình bỏ lại phía sau, anh là người duy nhất gắng hết sức sánh bước bên con.

Pauline mặc chiếc váy cực ngắn trông thật buồn cười, kiểu tóc vàng tựa như lông vũ của cô giống như hai cô gái trẻ đang băng qua đường phía trước họ.

Anh đang nghĩ, đôi vợ chồng mang theo máy ảnh đó có phải cũng đến tìm đứa con lạc mất không? Nhưng trông không phải thế, hình như họ đến đây để nghỉ mát. Nếu họ có cùng cảm giác như anh và Pauline sẽ chẳng còn tâm trạng đâu mà chụp ảnh.

Michael đuổi theo Pauline ven đường phía trước, vỗ nhẹ tay vào lưng cô. “Phía bên trái chắc là quán trọ”. Anh nói.

Đây là một kiến trúc cũ nát thời nữ hoàng Victoria, dưới chân là bậc thang gỗ màu xám, một tờ giấy viết tay treo trên chuông cửa: Chuông hỏng! Người phụ nữ ra mở cửa cho họ trông rất mệt mỏi. Cô ngoài 30, nhưng da chảy xệ, mặc bộ đồ bộ ở nhà. Từ sau khi chuyển đi khỏi nhà cũ, Michael đã không còn thấy bộ trang phục này nữa.

“Tôi là Michael Anton”. Anh nói với người phụ nữ. Cô ta vẫn im lặng, ra hiệu cho họ đến căn phòng phía sau. Căn phòng cuối cùng cửa mở, bên trong có hai chiếc giường gỗ hẹp áp sát vào nhau, trên một chiếc tủ thấp xập xệ để một chiếc ti vi cổ lỗ sĩ. “Nhà vệ sinh ở đầu kia hành lang”, người phụ nữ nói, “trả tiền trước, không nhận chi phiếu. Chín đô la chẵn”. Người phụ nữ đưa tay ra, Michael đếm tiền đưa cô ấy. “Nếu hai người ra ngoài, nhớ cầm theo chìa khóa trên ti vi”. Nói xong, cô đi khỏi.

Ra ngoài ư? Điều Michael muốn làm nhất bây giờ là ngả lưng xuống chiếc giường gần nhất, dù chưa tới buổi trưa. Anh quá mệt mỏi, thế nên căn phòng lạnh lẽo trơ trọi này cũng tựa như thiên đường với anh. Nhưng Pauline lại nói: “Trước khi chúng ta ra ngoài, anh có muốn đi vệ sinh không?”.

“Đi đâu chứ?”.

“Michael! Chúng ta phải ra ngoài tìm đứa cháu ngoại!”. “Bây giờ sao?”, anh hỏi.

“Nó đang chờ chúng ta đấy! Lẽ nào anh không muốn gặp nó sao?”.

Không muốn, quả thật anh chẳng muốn chút nào. Đứa trẻ này đến quá đột ngột. Phần lớn ông bà đều có 9 tháng chuẩn bị, hay ít ra là lời cầu hôn, lễ đính hôn và hôn lễ chính thức của con gái họ… Thế mà Pauline quá hăm hở thời khắc này, cô lau nước mắt, bỗng nhiên mặt cô tràn đầy sức sống. Thế là anh nói: “Được rồi, em yêu”.

Khi ra khỏi quán trọ, họ có sự bất đồng ý kiến về việc nên đi theo hướng nào. Michael nói chắc như đinh đóng cột rằng đường Height ở bên phải họ. Anh hầu như đã nắm rõ bản đồ. Nhưng Pauline lại cho là không phải, chủ nhà bảo với cô là bên trái. Thế nên họ đứng trên bậc thang trong khi cô tìm trong túi xách mảnh giấy mình đã viết. Cô xổ hết xách tay ra, mỹ phẩm, hộp mắt kính… còn cả một chiếc xe cứu hỏa đồ chơi màu đỏ để trong một hộp giấy. Michael vờ như không thấy, nhưng khi cô nói: “Đúng rồi, rẽ phải. Lẽ nào em không nói rẽ phải sao?” anh bảo: “Dĩ nhiên thế, em yêu”, sau đó vịn tay cô khi bước xuống bậc thang.

Không khí lan tỏa mùi cay nồng của ớt. Nó làm Michael nhớ đến bữa sáng trên máy bay – chiếc bánh ngọt trông chẳng ngon lành và lon nước cam ướp lạnh. “Này, Pauline?”, anh nói, “Có lẽ chúng ta nên đưa thằng bé ra ngoài ăn hot-dog”.

“Ý hay đó”.

“Chắc chủ nhà bằng lòng cho nó rời khỏi vài giờ”.

“Vài giờ?”, Pauline hỏi. Cô dừng lại nhìn anh. “Anh nói gì thế? Chăm sóc nó không phải trách nhiệm của chủ nhà, mà là trách nhiệm của anh và em”.

“Đúng thế, nhưng…”.

“Michael, chúng ta phải chăm sóc nó suốt đời. Chúng ta phải thu dọn hành lý cho nó, đưa nó về với chúng ta, vì chúng ta là tất cả của nó”.

Dĩ nhiên Michael cũng biết thế, nhưng anh vẫn sẵn sàng. Anh nói: “Từ giờ chúng ta bắt đầu chăm sóc nó sao?”.

“Anh nghĩ gì thế?”.

“Chỉ là… anh biết, anh đang nghĩ, chúng ta nên chờ đưa cả Lindy về”.

“Nhưng phải chờ đến bao giờ?” Pauline hỏi, “Chúng ta không thể để đứa trẻ trong căn phòng trống chẳng ai chăm sóc! Chúng ta phải đón nó đi ngay. Nhưng sau đó thì sao… em không biết, em không biết nữa”. Họ tiếp tục tiến về phía trước. “Người đàn ông ở Viện điều dưỡng chẳng tiết lộ điều gì cả, rốt cuộc Lindy phải ở lại đó bao lâu chứ”.

“Tối nay anh sẽ gọi điện cho anh ta”, Michael nói. Anh đã quyết định làm thế, Pauline nói đúng: anh bỏ cuộc quá sớm. “Baltimore có nền y học tiên tiến nhất! Nếu anh ta vẫn không chịu cho chúng ta gặp nó…”.

“Đến nơi rồi”. Pauline nói.

Cô đang nhìn một căn nhà cũ nát hơn xung quanh, nhưng trước đây chắc chắn nó là tốt nhất. Trên hai cánh cửa trước có khảm khung kính hình bầu dục, phía trên một bên là tấm kính vân xéo bị ăn mòn, còn bên kia là tấm bìa cứng. Lindy từng đi trên những bậc thang này, vòng qua bậc tam cấp bị hỏng. Nó cũng từng mở cánh cửa bị hỏng khóa này. Trên tấm ván gỗ có một cái lỗ, tay của nó cũng từng đặt trên cái lỗ này.

“Đây chính là số nhà bà ấy nói với em, đúng rồi”. Pauline nói, hiển nhiên cô rất mong không phải căn nhà này.

Họ bước lên bậc thang, Michael nhấn vào cái nút cao su đã hỏng ở bên trái.

“Trông em thế nào?”, Pauline hỏi anh. “Được lắm, em yêu”.

Anh lấy làm lạ, chỉ gặp một đứa bé thôi, cô ấy cũng đâu cần sốt sắng thế.

Một cô gái tóc rất mù ra mở cửa, ngẩng đầu nhìn họ. Cô mặc một chiếc đầm carô màu xanh, tay áo rất dài, đầm thì dài đến mắt cá chân, đó là một bộ trang phục rất xưa cũ. Pauline hỏi: “Destiny đúng không?”.

“Vâng?”.

“Xin chào! Tôi là Pauline, đây là chồng tôi Michael”. “Ồ, hay quá”, cô gái nói, “cuối cùng ông bà cũng đến”. Pauline vào nhà, nhưng Michael thấy cần một ít thời gian thích ứng. Trong tưởng tượng của anh, “nữ chủ nhà”

khác hẳn với những gì anh thấy trước mắt.

“Nếu có cách khác, tôi không muốn gọi điện cho người ở tổ chức phúc lợi xã hội”. Destiny nói khẽ với Pauline.

“Tổ chức phúc lợi xã hội ư!”.

“Tôi chẳng tin tưởng họ chút nào, nhưng tôi biết mình phải làm gì đó. Thằng bé chỉ nhốt mình trong phòng, không chịu ra ngoài. Thỉnh thoảng tôi nghe nó rón rén đi vệ sinh, nhưng tôi vừa bước lên gác, nó liền chạy vội vào phòng đóng cửa lại”.

Cô vừa nói vừa dẫn họ lên gác, giấy dán tường màu vàng cuốn trên tường. Trong phòng có mùi chuột, tay vịn cầu thang trông nhầy nhậy, Michael ra sức né tránh.

“Tôi có mang cơm cho nó, nhưng tôi không nhìn lúc nó ăn”, Destiny nói, “dĩ nhiên, tôi cũng không biết đứa trẻ độ tuổi này nên thế nào. Tôi nói: ‘Này! Cháu có muốn ăn đậu cô-ve không?’, nhưng nó chỉ nhìn tôi chằm chằm, thế nên tôi để bát xuống rồi ra ngoài. Quả thật tôi nên cho nó chút không gian, đúng không?”.

Lên đến gác, Pauline xoay người, nhướng đôi lông mày rõ nét của mình, hai chiếc hoa tai màu vàng đồng gần như trĩu xuống đến vai.

“Thằng bé tên gì?”, Pauline hỏi.

“Pagan”.

“Pagan?”, Michael và Pauline cùng lên tiếng.

Cô nhún vai, hoa tai lắc lư. “Tôi có thể cho ông bà biết điều gì?”, cô nói, “Mẹ nó vô trách nhiệm quá”.

Cô lại quay người, đi vào đại sảnh tối mờ, sau khi đi qua hai cánh cửa khép kín, cô dừng lại ở cánh cửa thứ ba, gõ lên đó hai cái, sau đó gọi: “Có ai ở nhà không?”.

Không có tiếng trả lời.

“Vậy vào thôi!”, cô xoay nắm đấm cửa.

Căn phòng chẳng lớn hơn phòng chứa đồ bao nhiêu, có một cửa sổ âm u, trên bức tường trắng còn có những vệt nước. Trên sàn nhà trống rỗng có tấm đệm, đống chăn và quần áo để lộn xộn. Ngay khi Michael quan sát căn phòng này, một chiếc áo nhúc nhích và có một cậu bé ngồi dậy ở đó, chớp mắt nhìn họ, rồi nó vội chui vào một đầu của tấm đệm.

“Chào cháu, Pagan”. Pauline nói dịu dàng.

Cậu bé nhìn cô không nói gì. Mắt nó màu nâu, long lanh, tóc màu đen, nhưng rối bù. Mắt cậu bé âm u, vẻ chán đời, nó chừng 3 tuổi.

“Bà là bà ngoại cháu!”, Pauline nói, “Bà là mẹ của mẹ cháu. Còn đây là ông ngoại! Ông bà tới từ Baltimore, bang Maryland, ông bà đến thăm cháu đấy!”.

Cậu bé vẫn không nói gì.

“Tôi thu dọn đồ cho nó”, Destiny nói, “nó cũng chẳng nhiều quần áo lắm”. Quả thật cô muốn họ đưa thằng bé đi, Michael biết bây giờ anh nên đón nhận điều này, nhưng anh vẫn thấy rất bất ngờ. Anh nhìn Destiny đi qua đi lại, chỗ này lấy chiếc áo thun, chỗ kia lấy chiếc áo len, rồi đặt những thứ này lên một cánh tay. Khi cô đến bên tấm đệm, Pagan co rúm người lại, ôm lấy một chiếc chăn nhỏ. Trang phục của thằng bé truyền thống đến bất ngờ. Áo thể dục đỏ sọc vằn, quần bò, giày thể thao đỏ, nhưng đều rất bẩn, cả móng tay của nó cũng đen ngòm. Vì tấm đệm to bằng cả mặt tường, Michael chẳng còn cách nào, đành lùi đến giữa phòng. Đứa bé tỏ ra sợ hãi, đứng ở đó mà chẳng có chút khả năng phòng bị, anh thấy đau lòng vô cùng. Theo bản năng, anh lùi về sau, gần như ra đến hành lang. Nhưng Pauline lại chạy đến trước mặt. “Cháu yêu!”, cô nói, sau đó quỳ trước mặt đứa bé choàng tay ôm lấy nó, “Ôi, cháu yêu của bà, ôi, đứa cháu tội nghiệp, đáng yêu của bà!”.

Pagan đứng sững người một lúc trong vòng tay của Pauline, sau đó vùi đầu vào vai cô rồi dùng một bàn tay nhỏ dơ bẩn vỗ nhẹ lên lưng Pauline.

Michael gần như muốn khóc, đành quay mặt sang hướng khác.

“Tôi nghĩ nên cho ông bà một cái túi đựng đồ đạc của thằng bé”. Destiny nói. Cô bỏ tất cả những gì tìm được vào trong đó, phần lớn đều là màu xám chứ không phải màu trắng. “Mẹ nó lấy chiếc túi duy nhất đi rồi. Sau khi cô ấy đi, tôi giúp cô ấy thu dọn đồ đạc, rồi nhờ chồng tôi mang đến Viện điều dưỡng”.

Destiny có chồng? Dù thế nào, Michael cũng không ngờ. Anh nhìn cô mở một tấm trải giường ra, khom người lấy một chiếc vớ đỏ. “Cho hỏi”, Michael bỗng nhiên tràn đầy hy vọng, “cô có biết, Lindy, con gái chúng tôi, nó có kết hôn không?”.

“Tôi không nghe nói chuyện này”. “Tôi chỉ muốn biết… bố Pagan”.

“Ồ, ông hiểu chuyện gì đã xảy ra mà”.

Nhưng Michael không biết, anh nghĩ rằng nếu cô có thể giải thích thì hay quá. Pauline quỳ dưới đất khẽ nói, “Ổn rồi, mọi chuyện ổn cả rồi, cháu yêu, mọi chuyện sẽ tốt thôi”.

Michael nói: “Cô có thể cho chúng tôi biết thêm chuyện xảy ra ở đây không?”.

Destiny liếc nhìn Pagan một cái, “Tôi thấy giờ không tiện nói chuyện này”.

“Ồ, được”.

“Dĩ nhiên, dù thế, cô ấy cũng ở một nơi rất tốt. Viện điều dưỡng đó quả rất tuyệt, cô ấy rất may mắn”.

Michael nói: “Chuyện thế này, chúng tôi định đưa con gái về nhà. Khi chúng tôi đến đó, mới phát hiện ra rằng không làm sao gặp và nói chuyện được với nó. Tôi lo nó bị nhốt ở đó và bản thân nó cũng không muốn thế”.

“Vậy, tốt quá rồi. Chắc ông bà không muốn làm phiền cô ấy vào lúc này chứ?”.

Michael đang định nói gì đó, nhưng bỗng nhiên lại thôi. Anh nhớ đến một bộ phim khoa học viễn tưởng, mọi người trong đó đều bị người ngoài hành tinh kiểm soát bộ não.

“Vì vậy, dù thế nào”, Destiny nói trong khi đưa áo gối cho Michael, “đây là đồ đạc của thằng bé. Tôi thấy chỉ thế thôi. Vì mẹ thằng bé từng gọi điện thoại đường dài, nên tôi sẽ không trả lại tiền thuê phòng còn dư”.

“Điện thoại đường dài?”, Michael hỏi.

“Tạm biệt nhé, cậu bé”, Destiny nói với Pagan, “rất vui được làm quen với cậu, sống tốt nhé!”.

Pauline đứng dậy, nắm tay Pagan. Nó vẫn ôm chiếc mền nhung màu xanh đã bạc màu. Cô hỏi Destiny: “Chiếc mền này của cô sao?”.

“Không phải, của nó đấy”, Destiny trả lời. Không cần phải hỏi nữa, vì Pagan đã giật khỏi tay Pauline, ôm chiếc mền chặt hơn.

“Được rồi, cháu yêu”, Pauline nói với Pagan, sau đó dẫn nó ra khỏi phòng, đến bên cầu thang, theo sau là Destiny và Michael. “Ông bà đưa cháu về nơi ông bà ở! Cho cháu tắm rửa, thay quần áo sạch cho cháu…”.

Lúc xuống cầu thang, chỉ mình Pauline nói chuyện, giọng nhỏ nhưng rất dịu dàng, ngay cả khi Destiny đứng trước cửa vẫy tay tạm biệt, cô vẫn nói với giọng điệu nhỏ nhẹ đó. “Cám ơn cô liên lạc với chúng tôi, cám ơn những gì cô đã làm!”.

Michael thấy Pauline bước xuống bậc thang trước, xuống đến nơi lại quay người chờ Pagan, thấy cô rất yêu quý đứa bé này, bất chợt lòng tràn đầy cảm giác yêu thương.

Dẫn theo đứa bé đi đường quả rất vất vả. Michael đã từng nghĩ thế khi con anh còn nhỏ. Chỉ có Thượng đế mới biết được chúng đang nghĩ gì và muốn làm gì – chẳng hạn như đi đến một chiếc xe đang chạy như bay trước mặt; nổi cáu trước mặt biết bao người hoặc nhặt mẩu thuốc lá trong sọt rác. Đứa bé này thì sao? Nó đi giữa họ, chẳng nói một lời, chẳng chút tò mò, tay ôm lấy chiếc mền cuộn thành một khối. Khi đến ngã tư đầu tiên, nó buông một tay khỏi chiếc mền, chủ động nắm tay Pauline, nhưng không hề nhìn cô, hơn nữa hình như nó cũng chẳng nghĩ gì nhiều, biểu hiện này làm Michael thấy rất yên tâm. Anh có thể tưởng tượng được rằng, từng có người chăm sóc thằng bé, nó không phải luôn tự làm mọi việc.

Còn một số biểu hiện khác, Michael đang quan sát – điều này có thể phản ánh cuộc sống trước đây của nó. Chẳng hạn, nó rất quen với việc ra ngoài dùng bữa. Trong quán “Pizza ngon tuyệt” cách nhà trọ nửa con phố, nó thành thạo vắt chiếc mền lên lưng ghế, rồi leo lên ghế ngồi, chờ thức ăn được dọn ra. Nhưng hình như trước đây Pagan chưa từng thấy bánh hot-dog, vì khi bưng món này ra, nó nhìn với vẻ ngờ vực. Sau khi biết cách ăn, Pagan liền ăn ngấu nghiến, cắn từng miếng từ trái sang phải. Dường như Pagan cũng chẳng mấy quen thuộc với thức uống có gas, vừa uống một ngụm pepsi nó đã nhăn mũi, nhưng sau đó nó nhanh chóng uống hết chỗ còn lại. Michael cảm thấy trước đây nó toàn ăn những món híp-pi, không có đường, thịt cũng rất ít. Pagan có cách ăn khoai tây riêng. Nó ăn hết phần của mình, rồi hầu như ăn cả phần của Pauline, sau khi ăn xong một que khoai thì vội liếm đầu ngón tay của mình. “Ngon không?’, Pauline hỏi, nó gật đầu.

Có lẽ Pagan không biết nói, nhưng Destiny bảo rằng trước đây nó từng nói chuyện. Giờ Michael cũng chẳng còn nhớ bọn trẻ bắt đầu nói chuyện từ năm mấy tuổi. “Cháu bao nhiêu tuổi rồi?”, anh hỏi nhưng chẳng hy vọng nó trả lời.

Điều làm anh ngạc nhiên là Pagan nhìn thẳng mặt anh. Lông mày của nó mỏng như sợi chỉ, đậm hơn màu tóc nhiều. Nó chau mày tựa như một ông lão. Cuối cùng, Pagan tìm được câu trả lời. “Bốn tuổi”, giọng thâm trầm đến lạ kỳ, chẳng giống tiếng trẻ con chút nào.

Pauline khẽ khóc. “Bốn tuổi rồi! Đứa bé thông minh ghê!”, cô nói, “Nó bốn tuổi rồi”. Cô thì thầm với Michael.

“Anh biết”. Michael có vẻ lạnh lùng.

Pagan tự bảo bốn tuổi, chứ không đưa ra bốn ngón tay, có lẽ mẹ nó rất thông minh và thường nói chuyện với nó. Anh rất muốn nghĩ tốt về Lindy.

“Bà đoán chắc cháu từng đi học”, Pauline nói, “lớp 1, bạn bè chơi chung, mẫu giáo…” gần như cô nói hết những danh từ có thể. Nhưng hình như Pagan cảm thấy lạ lẫm với hai từ “đi học”.

“Ăn ngon chứ ạ?”, cô nhân viên hỏi, “Thêm khoai không ạ?”.

“Không, cám ơn”. Michael nói.

Cô là một nhân viên vui vẻ, dịu dàng và cho ta cảm giác như một người mẹ, trước đây Michael thường thấy những nhân viên như thế ở Baltimore. Anh rất mong cô hiểu được rằng, cháu ngoại của họ bẩn thế không phải lỗi tại họ.

Nếu Pagan không biết chơi chiếc xe cứu hỏa đó thì sao? Pauline lấy chiếc xe trong xách tay ra, vừa vào phòng đã đặt nó dưới chân giường. “Hụ!” cô nói, “Xem gì đây nào?”, nhưng thằng bé đứng từ xa nhìn nó với ánh mắt ngờ vực suốt mấy phút mới dám bước tới dùng đầu ngón tay sờ cửa kính trên thân xe. Khi Michael đi lấy một chiếc giường nhỏ về, dường như tình hình có chút tiến triển: Pagan gói gọn chiếc xe cứu hỏa lại, bỏ vào trong chiếc mền của nó.

Pagan chưa từng thấy ti vi. Nó ngồi cạnh Pauline nhìn chằm chằm màn hình, người dựa vào gối há mồm to. Sau loạt phim nhiều kỳ trên truyền hình là chương trình game show, sau đó là bản tin buổi tối, mỗi hình ảnh chớp qua đều thu hút sự chú ý của nó. “Nói xem nào”. Lúc này, Michael hỏi, “cháu có nơi nào muốn đi không? Công viên? Sân chơi?” nhưng Pagan vẫn nhìn chăm chú màn hình ti vi. Lúc này, Michael thấy rất mệt nên cũng không hỏi nữa.

Chắc đứa bé này mắc chứng trầm cảm, cũng có lẽ nó chưa từng xem ti vi, bởi vì trong một mẫu quảng cáo xe second-hand, một chàng hề ngã đập mông xuống đất, nhưng Pagan chẳng chút phản ứng.

Lúc phát tin tức, toàn những tin về chiến tranh, Michael ngồi đó ngủ thiếp đi, nghiêng đầu dựa trên song sắt của giường. Lúc anh tỉnh dậy, thấy miệng khô khốc, đầu óc cứ mơ mơ màng màng, dù biết mình chỉ mới ngủ có vài phút, vì trong ti vi đang chiếu cảnh một toán binh lính đầu đội nón cối đang vượt qua một khu rừng rậm cây cối um tùm. Căn phòng hầu như bao trùm một mảng tối mờ, duy chỉ có ánh sáng ti vi phản chiếu làm căn phòng có màu xanh. Anh nhìn đồng hồ, rồi nói: “Ông mua ít pizza ăn tối được không?”.

Pagan bỗng nhiên tỉnh người, gật mạnh đầu.

Lại là một manh mối! Nhưng khi hỏi thằng bé muốn ăn nhân gì, nó lại không nói gì, “Bình thường? Nấm? Xúc xích cay kiểu Ý?”, Michael hỏi, nhưng nó vẫn im lặng.

“Bánh ếch thì sao?”, Pauline kiến nghị, nó miễn cưỡng cười, Pauline cũng cười rồi dương dương tự đắc nói với Michael, “Ông ngoại, hãy mua cho bà cháu tôi một chiếc pizza ếch”.

“Dĩ nhiên!”, Michael vừa vui mừng trả lời vừa bò ra khỏi giường đi mua pizza.

Anh muốn cháu ngoại gọi mình là “Ông” – vì hồi trước anh gọi ông của mình như thế. Nhưng, nếu Pagan gọi anh là “ông ngoại” thì cũng được.

Khi chờ pizza ở “Quán ngon”, Michael gọi một cú điện thoại. Anh tìm thấy số điện thoại ở quầy thông tin, bỏ đồng xu vào, điện thoại reo mười tiếng hoặc mười hai tiếng, một người phụ nữ nghe máy.“Có phải viện điều dưỡng Nineteen Fleet Street không?”, anh hỏi.

“Xin chào, tôi có thể… gặp Becoming không?”.

Đầu dây bên kia phát ra một chuỗi tiếng soàn soạt, sau đó chẳng ai nói gì. Phía sau quầy hàng, đầu bếp đang rưới sốt cà lên pizza.

“Tôi là Becoming”, Michael nghe có tiếng người nói, “tôi giúp được gì cho ngài?”.

“Tôi là Michael Anton. Anh nhớ chứ, tôi là bố của Serenity”. “A”.

“Anh xem, chúng tôi đã đặt vé chuyến bay về Baltimore vào sáng mai cho con bé rồi. Cả mẹ nó và tôi sẽ cùng về với nó, còn cả con trai nó nữa. Chắc anh tán thành cho nó ở cạnh con trai chứ!”.

“Tôi không biết cô ấy có con”. Becoming nói.

Lẽ nào con bé không nói sự thật sao? Lúc thế này, Michael thấy lòng mình rối bời, nhưng anh liền trấn tĩnh lại: “Vậy giờ anh hiểu rồi chứ…”.

“Quả thật, chuyện này cũng làm tôi rất khó xử. Có đứa trẻ thì rắc rối đây”.

“Chắc giờ anh hiểu tại sao tôi phải đưa cả nó về rồi chứ?”.

“Anh bạn thân yêu”, Becoming nói với giọng thân thiết, “tôi nghĩ anh chưa hiểu rõ chuyện chúng tôi đang làm”.

“Phải”, Michael nói, “hãy cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra”.

“Cô gái này đuối sức vì hút ma túy, ý chí suy sụp, giống như say rượu vậy, hơn nữa lại hay kích động bất ngờ…”.

“Hút ma túy!”.

“Anh bạn, chắc chắn cô ấy không thể lên máy bay. Cả bậc thang trước mặt cô ấy cũng bước không nổi”.

“Ý anh là… thứ thuốc gây tê sao?”.

“Tất cả các loại thuốc viên, thuốc bột và thuốc nang có trên đời. Các thuốc làm ta phấn chấn, trấn tĩnh, bán trực tiếp cho khách hàng không qua giao dịch và cả loại buôn bán trái phép…”.

Michael choáng váng dựa người vào tường.

“Thậm chí cả chỗ này cô ấy cũng không bước ra nổi, hai vị sao trông chừng cô ấy được? Hai vị sao có thể để con trai cô ấy thấy bộ dạng cô ấy bây giờ?”.

Michael không tài nào trả lời được. Dường như cổ họng anh bị cái gì đó chặn nghẹn lại.

“Anh bạn? Anh vẫn còn nghe tôi đấy chứ?”. Anh gác máy.

“Quán ngon” không bán mang về, Michael đành phải cầm chiếc pizza bọc giấy bạc rất nóng tay. Nhưng không sao, cơ thể anh đã lạnh thấu xương. Hai hàm răng của anh đang đánh bò cạp, bước chân cũng nặng nề.

“Đuối sức”. Trong đầu anh không ngừng vang lên hai từ này. “Ý chí sa sút”, “hưng phấn” và “kích động” – với anh những từ ngữ này hoàn toàn mới lạ, cả cụm từ “vô trách nhiệm” của Destiny cũng lạ lẫm vô cùng. Khuôn mặt Destiny lại hiện ra trước mắt anh, hoa tai của cô lắc nhẹ chạm vào cái bớt màu xanh nhạt ở một bên cằm của cô. Lúc đó, anh không chú ý đến cái bớt, nhưng giờ nó lại khắc sâu trong trí nhớ anh tựa như một vết sẹo.

Khi về đến phòng, Michael không nói chuyện này với Pauline. Trong đầu anh nghĩ, chắc phải nói cho Pauline biết thôi, nhưng quả thật bây giờ anh không tài nào mở miệng được. Anh chỉ nói: “Anh có gọi cho Becoming, hình như phải một thời gian nữa Lindy mới được ra ngoài”.

Anh gắng gượng mình chuẩn bị trả lời những chất vấn của vợ, nhưng may mắn thay Pauline chỉ nói, “Ồ”, đồng thời ngồi yên một lúc, có lẽ cô đã đoán biết, “Thế nên em thấy tốt nhất chúng ta về trước, sau đó lại đến đón nó, được không?”.

“Xem ra giờ chỉ còn cách này thôi”. Michael nói. Pauline thẳng hai vai đứng lên mở đèn.

Pizza hơi ướt, hơn nữa chẳng mùi vị gì, Michael thấy dù thế nào họ cũng chẳng còn tâm trạng ăn uống. Anh cũng không nhớ phải mua nước uống, Pauline cầm ba ly nhựa đến nhà vệ sinh ở đối diện hành lang lấy ít nước lạnh. Lúc đưa ly cho mọi người, Pauline còn nói: “Cạn ly!” nhưng trông cô cứ như đang suy nghĩ chuyện gì khác. Mấy lần cô nói được nửa chừng thì giọng trở nên nhỏ. “Ồ, cháu ngoan, Pagan, bà lau cho nào… ở đây thoải mái đấy chứ… ai muốn ăn thêm nào? Có ai muốn ăn thêm… không?”.

Pagan thờ ơ cắn vài miếng pizza của mình, chỗ còn dư thì vẫn để đó, mắt dán chặt vào ti vi. “Ăn ngon không?”, Michael hỏi nó. Pagan không trả lời, dưới ánh đèn chói lóa trên đầu, nó híp mắt lại, người khom xuống, trông bộ dạng cứ lén la lén lút.

Đối diện với hiện thực đi nào, đứa trẻ này chỉ là vật thay thế. Nó không phải đứa con thật sự của họ – đứa con mà họ bay xuyên lục địa để đến tìm.

Pagan không đánh răng, không chải đầu, cũng không có thói quen đi tắm. Lúc đầu nó mặc chiếc quần lót mòn rách màu xám trốn ở góc tường, toàn thân xương xẩu, người không ngừng run lên. Quả thật nó có quần áo ngủ, không cần người khác giúp, nó tự mặc vào – bộ quần áo ngủ dài đến gót chân có in hình phi thuyền, không sạch sẽ lắm. Mỗi chiếc áo chiếc quần trong túi đều có mùi vị ngòn ngọt như đường caramen, trên người nó cũng thế.

Lúc tắt đèn và kéo rèm cửa sổ che ánh đèn ở ngoài đường, Pagan không phản đối, mà bò lên giường Pauline, cuộn tròn trong chiếc mền, chỉ để lộ mỗi cái đầu. Chiếc xe cứu hỏa vẫn để trong hộp. Nó ngủ ngay, hơi thở gấp rút và đều đặn, Michael thấy như tiếng thở nhẹ của mèo con. Nó không mút ngón cái, không bực bội cũng không ngáy, nhưng nó lại tè dầm.

Suốt mấy năm nay, từ sau khi Lindy bỏ nhà đi, Michael luôn nghĩ rốt cuộc họ đã làm gì sai. Họ quá nuông chiều nó sao? Quá nghiêm khắc sao? Họ chưa một lần đánh nó. Pauline luôn nghĩ gì nói nấy – Ồ, mỗi khi bọn trẻ chọc giận cô, cô luôn lải nhải không ngừng. Anh không thể không trách Pauline, Lindy hầu như “sở hữu” lại mọi khuyết điểm của Pauline: nóng nảy, cực đoan, không thể đoán biết trước. Nhưng dù thế, chẳng phải Pauline đã nhiều lần than rằng biểu cảm khó đoán biết của Lindy rất giống với anh sao? Có lẽ do họ chú ý quá nhiều đến Lindy và kỳ vọng quá cao ở nó. Tại sao lại như thế? Tại sao?

Michael ngủ thiếp đi, dường như anh đã thừa nhận thất bại của mình vậy, trong mơ anh đã nói: “Quên chuyện này đi, tôi bỏ cuộc rồi”.

“Chào mừng Lindy về nhà”. Sally viết thế trên tấm bảng nhỏ; George tay cầm một bó hoa, loại mua trong các cửa hiệu dọc đường; Karen đứng ở chỗ gần cổng nhất, làm hành khách mới phải đổi hướng để tránh cô bé. “Chúng con ở đây! Bên này nè!”, cô bé vui mừng đến nhảy cỡn lên. Cô bé mặc chiếc váy ngắn in vân tròn, dù ngày thường cô bé chỉ toàn mặc quần bò và áo thun, tóc búi tròn, trông như người mẫu quảng cáo tạp chí. Chắc hẳn cô bé đã sửa soạn từ khi trời vừa sáng. Michael nhìn thấy khuôn mặt quen thuộc của cô bé đang tìm lối bước đến trong đám đông. George đang vươn cổ nhìn hành khách bên cạnh anh. Sally chẳng biết gì cả, vẫn nhanh miệng thế, nhưng nụ cười trên mặt hai người kia dần tắt đi. “Chị ấy đâu?”, George hỏi bố mẹ.

Pauline không trả lời, mà đẩy Pagan ra trước. “Xem bố mẹ đưa ai về nè!”, cô nói với chúng. “Đây là Pagan, con trai Lindy. Pagan, đây là dì Karen, mợ Sally, còn đây là cậu George…”.

“Lindy đâu mẹ?”, Karen hỏi.

“Ồ, chị con phải ở lại San Francisco một thời gian, nó sẽ về sau”.

“Tại sao? Chị ấy vẫn khỏe chứ ạ? Bố mẹ có gặp chị ấy không?”.

“Nói chính xác, không được gặp trực tiếp, nhưng…”. “Đoán xem mợ có gì nào, Pagan!”, Sally nói, “tèng… teng!” và lấy ra một con chuột túi bông màu nâu, trong túi nó còn có một con chuột con.“Cho cháu nè”. Sally nói với nó.

Pagan đưa tay nhận con chuột túi, ngẩng đầu buồn bã nhìn vào mắt của Sally.

“Cháu phải nói cám ơn đi chứ?”, Pauline nhắc nó. “Cám ơn ạ”. Nó nói với giọng trầm thấp nhưng rõ ràng. Pauline ôm Pagan khóc nấc lên, tựa như nó vừa tạo ra một kỳ tích vậy.

Trên đường về nhà, Michael ngồi phía trước, Pauline ngồi phía sau, Pagan ngồi trên chân cô. Giờ Pauline bắt đầu bịa một câu chuyện về Lindy, làm Michael thấy chán ngắt. “San Francisco đẹp tuyệt vời”, cô bắt đầu nói, “chúng con cũng nên đến đó du lịch. Lindy ở nơi tuyệt diệu thế. Bố mẹ có nói chuyện với chủ quản nơi đó, dĩ nhiên bố mẹ cũng muốn đưa con bé về ngay lúc đó, nhưng con biết đấy, họ có quy tắc riêng, họ có thể dùng cách hiệu quả giúp con người giải tỏa áp lực và trạng thái căng thẳng. Về mặt đó, họ tiến bộ hơn Baltimore nhiều! Thế nên thời gian sau chị con mới về. Nhưng, giờ chúng ta có Pagan đây! Chẳng phải rất tốt sao? Cháu trai Pagan của chúng ta! Chúng con không thấy mắt nó rất giống Lindy sao?”.

Thỉnh thoảng, Michael cũng thấy bất mãn trước sự thật mà Pauline kể, vì anh hay nghĩ đến sĩ diện của mình.

Nhưng giờ đây, anh lại thấy cảm động. Anh phát hiện trong vợ anh ẩn chứa một sức mạnh to lớn, cũng chính những người phụ nữ như Pauline đã giúp cuộc sống có thể tiếp tục.

Tình yêu cháy bỏng và sự kiên trì không biết mệt mỏi của Pauline dành cho Pagan đã làm Micheal nể phục cô. Dĩ nhiên Michael cũng góp sức, mỗi tối sau bữa ăn anh đều đọc truyện cho Pagan nghe, hoặc cùng nó chơi trò bóng chày dành cho trẻ con ở sau vườn. Pauline luôn có những thay đổi mới lạ, nhưng bất hạnh thay, hình như đều không có hiệu quả. Pagan cảm thấy hơi nghi hoặc và sợ hãi trước những thay đổi này. Dường như phản ứng của nó hơi chậm và vẻ mặt luôn u buồn. Nó thường dùng ánh mắt xoi mói nhìn người khác, mắt nó chẳng chớp lấy một cái, hơn nữa trông có vẻ ngờ nghệch. Nó rất ít nói, hầu như không hề trả lời câu hỏi của ai và luôn cảnh giác, đề phòng người khác. “Cháu yêu của bà… Pagan!” lúc sáng, Pauline gọi tên và hôn vào trán nó. Nó ngủ trong phòng Lindy, giống như một vị khách tạm trú luôn ngại ngùng, mãi đến khi có người gọi mới chịu dậy. “Bé Pagan ngoan! Đến xem bà chuẩn bị bữa sáng ngon tuyệt cho cháu đây!”, Pagan chỉ nhìn một cái mà chẳng có phản ứng gì. Nhưng Pauline chẳng chút nản lòng. “Trứng đấy, cháu yêu, cả nước cam tươi nữa!”.

Quả thật Pauline là người tốt, Michael thấy mình cũng vậy, có điều hai người họ ở chung với nhau thì chẳng mấy tốt. Có lẽ… ý anh muốn nói, họ không mấy thân thiện. Bản thân anh cũng không biết tại sao.

Mỗi tối khoảng 7 giờ, Michael đều gọi điện đến Viện điều dưỡng. Anh nghĩ lúc đó là thích hợp nhất. “Tôi có thể gặp Becoming không?”, anh hỏi thẳng. Cái tên đó cũng chẳng còn kỳ lạ với anh nữa, thậm chí anh có thể gọi cái tên mới của Lindy chẳng chút do dự. “Tôi muốn hỏi thăm tình hình của Serenity, tôi là bố của con bé”.

Michael thấy cái tên “Serenity” chẳng có ý nghĩa gì với Pagan. Nhưng những việc này lại cảnh tỉnh anh, vì lúc anh gọi cú điện thoại thứ ba, anh phát hiện Pagan đang đứng dưới chỏ tay của anh, im lặng lắng nghe, chẳng hề cử động thậm chí là nín thở. “Cô ấy khỏe hơn nhiều rồi”, Becoming nói, “giờ cô ấy biết hai vị đã mang con cô ấy đi, chúng tôi có nói với cô ấy”.

“Nó bảo sao?”, Michael hỏi.

“Ơ, giờ cô ấy vẫn rất ít nói. Nhưng chúng tôi tin rằng sẽ khỏi thôi!”.

Sau khi gác máy, Michael nói với Pagan bằng giọng rất thoải mái: “Xem ra cũng tốt, chỉ cần thêm một ít thời gian”. Anh cố tình nói mơ hồ, để tránh Pagan nghe được gì đó, nhưng thằng bé bỗng nhiên buông rũ vai, Michael hiểu rằng nó đã biết. Nó còn biết những gì? Nó hiểu được bao nhiêu?

Ông bác sĩ già khoa nhi Amble vẫn chưa nghỉ hưu. Sau vài tuần Pagan về đến nhà, họ đưa nó đi kiểm tra sức khỏe. Họ nghĩ rằng, có thể trước đây Pagan chưa từng khám bác sĩ, vì lúc đầu nó chẳng chút nghi ngờ, chẳng thích thú gì với đồ chơi và kiểu bày trí như mẫu giáo trong phòng chờ khám bệnh. Nhưng trong quá trình kiểm tra bỗng nhiên Pagan lại rất ngang ngạnh, cũng không chịu nghe lời. Nó không lên tiếng, nhưng kiên trì không cởi áo, rồi vội chạy xuống khỏi chiếc cân. Khi ống nghe của bác sĩ vừa chạm vào ngực, nó liền hất ra. “Ừm”. Bác sĩ Amble nói với họ, dường như Pagan chỉ có 3 tuổi. “Nó bảo 4 tuổi rồi”, Michael nói, “lẽ nào nó nhỏ hơn tuổi đó sao?”, nhưng bác sĩ Amble nói không phải, ông dám khẳng định bằng danh dự nghề nghiệp của mình rằng đứa bé chỉ mới 3 tuổi. Điều này làm Michael có suy nghĩ khác. Giờ anh nhớ lại, lúc đó thằng bé dừng hồi lâu, mày chau lại, dường như chuẩn bị nói quá tuổi mình để người khác tin phục hơn. Michael toét miệng cười, đây là lần đầu tiên anh cảm thấy cháu mình còn có hy vọng… Ồ, anh thấy đấy là biểu hiện ý thức của cái tôi.

Kiểm tra xong, bác sĩ Amble gọi Michael đến phòng làm việc của mình, lúc đó Pauline đang mặc quần áo cho Pagan. “A”, bác sĩ ngồi xuống ghế, sau đó nói, “dĩ nhiên, chúng tôi có thể đoán biết rất nhiều điều. Tôi dám nói cậu bé chưa từng tiêm chủng phòng ngừa, tôi sẽ bảo y tá xử lý”. Ông cầm cây viết bi lên, sau đó cúi đầu nhìn tờ giấy, nói: “Không có ngày tháng năm sinh, nơi sinh, tên lót… thậm chí cả họ của nó cũng không xác định, theo lời vợ anh”.

“Tôi dám khẳng định, nó họ Anton”, Michael nói.

Anh không muốn nhắc nhở bác sĩ Amble, tất cả chuyện này đều không phải do anh hay Pauline làm ra. Họ chỉ đưa Pagan đến kiểm tra, sau đó tiêm chủng cho nó!

Sau đó bác sĩ Amble nói: “Có tin tốt”. “Sao?”.

“Anh xem, quả thật nó có quan hệ máu mủ với anh chị, anh xem lúc đau nó dựa dẫm vợ anh thế nào!”.

“Phải đấy, nhưng… nó chẳng mấy nói chuyện với chúng tôi, gần một tháng nay rồi. Tốc độ thích ứng với chúng tôi của nó quá chậm”.

“Đấy cũng là chuyện tốt, điều này chứng tỏ quan hệ hai mẹ con nó rất mật thiết”.

Tội nghiệp quá, Michael cũng không ngờ mình dễ mủi lòng đến thế.

“Tôi có thể gặp Becoming không?”.

“Tôi nghe”.

“Tôi là Michael Anton. Tôi muốn hỏi thăm tình hình của Serenity”.

“A, vâng”. Michael chờ đợi.

“Serenity chẳng còn ở chỗ chúng tôi nữa”. Becoming nói.

Tim Michael như ngừng đập. Anh hỏi: “Anh nói sao?”. “Tối hôm qua, lúc chúng tôi kiểm tra phòng cô ấy, phát hiện cô ấy biến mất rồi”.

“Tôi không hiểu”.

“Xem ra, cô ấy quyết định từ bỏ mọi giúp đỡ của chúng tôi”.

“Nhưng… ý anh là, nó bỏ đi? Anh từng nói với tôi cả bậc thang trước mặt nó cũng không bước nổi mà!”.

“Ồ, nhưng khoảng thời gian mới đây cô ấy không ngừng tiến bộ. Cô ấy nói muốn bắt đầu lại với con trai mình. Chúng tôi đều cho rằng cô ấy có tiến bộ! Nhưng giờ cô ấy lại cố tình từ chối làm lại cuộc đời. Chuyện thế này thỉnh thoảng cũng xảy ra, chúng tôi không biết phải làm sao”.

Giọng Becoming tỏ ra rất bi ai, thâm trầm hơn bình thường. Nhưng Michael đã nổi lửa giận. Lindy từng nhắc đến con trai mình!

Dĩ nhiên, nó đã bỏ đi. Nó lại trở thành người tự do có thể nó sẽ về Baltimore đòi lại con trai.

Anh hỏi Pauline còn nhớ cách liên lạc với Destiny không. Nhưng cô bảo không nhớ. Anh luôn nằng nặc đòi giữ lại những hóa đơn điện thoại cũ, phải, giờ chắc cô hiểu tại sao anh làm thế. “Em gọi đi, em nói chuyện với cô ấy tốt hơn”, anh nói với Pauline, “hỏi xem Lindy có ở đó không. Nói với Destiny, nếu Lindy đến, con bé có thể ở lại đó, cho đến khi chúng ta gởi tiền vé máy bay sang cho nó”.

Pagan ra ngoài chơi bóng chày với George và Sally, đây là điều may mắn, nó không ở nhà để chứng kiến cảnh hỗn loạn này. Ngăn tủ bàn tựa như bị gió bão tấn công, Michael dùng tay túm lấy tóc mình, Pauline cũng hoảng hốt, cô thử bấm số điện thoại, nhưng lại bấm nhầm. Destiny nói với Pauline rằng chẳng thấy Lindy đâu. Dĩ nhiên, nếu Lindy đến chỗ cô ấy, cô ấy sẽ nhắn tin lại. Nếu có tin gì cô ấy cũng gọi điện đến báo, dĩ nhiên nhà Anton phải trả tiền điện thoại. Nhưng nói thật, cô chẳng hy vọng nhiều.

Sau khi gác điện thoại, Pauline trông rất ủ rũ. “Bây giờ, anh xem đấy! Chúng ta lại trở về trạng thái ban đầu”, cô nói, “con gái chúng ta lại bỏ đi nơi khác, hơn nữa chúng ta chẳng biết nó đi đâu!”.

Lần này Michael lại rất lạc quan. “Em biết bọn trẻ giờ thế nào mà. Quá giang xe hoặc đi xe bạn dễ dàng thôi, chắc nó đang trên đường về nhà, hơn nữa đã đi được nửa đường rồi! Anh thấy… lúc nào, hôm nay là thứ bảy, anh chắc chắn thứ hai nó sẽ về, không chừng sớm hơn”.

Khi Pagan chơi bóng trở về, nó hoàn toàn không đoán được có chuyện gì khác thường xảy ra. Pauline vẫn vui vẻ như mọi ngày. Michael vẫn bình tĩnh thế, lạc quan cho rằng Lindy đang dần trở về bên họ. Anh dường như đang thấy Lindy đi giữa con đường cao tốc, cô bé cũng đang nhìn anh, môi nở nụ cười. Anh thấy như cô bé không phải độ tuổi này. Dù sự thật thế nào, nhưng anh vẫn muốn nghĩ thế này: Lindy là một cô bé khoảng tám chín tuổi, thắt hai bím tóc, mặc chiếc quần ngắn bên trong chiếc váy, như thế nó có thể lộn nhào và trồng chuối khắp nơi. Đầu gối Lindy đã đóng mày, cô bé chính là Lindy nhí nhảnh, hoạt bát và nghịch ngợm của anh, giờ cô bé sắp về nhà rồi.

Có một khoảng thời gian ngắn nhà Anton nuôi một con chó chăn cừu. Nó được gọi là quý bà. Nó thích kêu la, hơn nữa lại hay phấn khởi khác thường. Bất kỳ lúc nào, chỉ cần có đứa trẻ ra khỏi nhà, nó đều chạy đến chỗ cửa kính, đứng bằng hai chân sau, dùng chóp mũi vén màn cửa sổ lên. Nó không ngừng sủa vào ban đêm, mình rung lên, nhưng chưa từng giơ vuốt nhe nanh.

Mấy ngày này gia đình Anton đang chờ Lindy. Michael luôn nhìn về phía cửa, dõi mắt ra đường. Mỗi chiếc xe hơi, mỗi người đi ngang đều làm tim anh đập thình thịch. Mãi đến chủ nhật, anh luôn ngồi trước cửa sổ, gần như bất động, dù thỉnh thoảng anh né tránh Pauline, không muốn để cô nhìn thấy. Pauline luôn chờ điện thoại, hơn nữa cô cố tình không nghe điện thoại của ai đó quá lâu.

Tối chủ nhật George và Sally đến ăn tối, nhưng Michael không ngừng rời khỏi bàn ăn. Đêm đó anh cũng thức dậy nhìn ra cổng mấy lần, còn vờ như đi vệ sinh. Thứ hai anh ở nhà không đi làm, anh bảo đã nhờ quản lý trông nom cửa tiệm. Nhưng sau đó, Michael không ngừng gọi điện thoại hỏi tình hình ở đó, Pauline luôn nói: “Đủ rồi đấy, Michael, đừng gọi điện nữa được không?”. Cháu trai của Wanda Lipska nhà hàng xóm mời Pagan đi chơi, nhưng khi Pauline bảo Michael lái xe đưa nó đi, Michael lại nói tốt nhất không nên làm thế, vì có lẽ cửa hiệu đang cần đến anh. Pauline gào lên, sau đó tức giận lấy chìa khóa xe đi. Sau khi cô đi, Michael luôn đứng trước cửa kính dù chẳng thấy một ai đi ngang qua đấy. Ngoài xe tải, cũng chẳng có chiếc xe nào cả, mãi đến khi Pauline lái xe về, Michael mới kéo màn cửa sổ lại.

Thứ ba anh cũng không đi làm, anh bảo đau cổ họng. Thứ tư anh đi làm như mọi ngày.

Họ không nhắc đến chuyện này, chẳng ai nói với ai một câu. Họ chỉ im lặng.

Có một khoảng thời gian, dù Michael gọi điện lúc nào đều phát hiện Pagan đang đứng bên cạnh. Nhưng dần dà không thế nữa, Pagan bắt đầu đến bể bơi, còn kết bạn với mấy bé gái nhà hàng xóm. Phòng nó chất đầy mọi thứ: đường ray xe lửa, tập tô màu, xe hơi nhỏ làm bằng hộp diêm, xe cứu hỏa đã lấy khỏi hộp từ lâu, con chuột túi bông màu nâu và chuột túi con, bánh quy bẻ vụn, khủng long nhựa, cánh tay và con mắt của “Mr Bean”.

Michael nghĩ, một ngày nào đó, có lẽ Pagan sẽ kể về cuộc sống trước đây của nó và Lindy. Tuy trong trí nhớ bất chợt của trẻ con chỉ là những chuyện vụn vặt, nhưng vẫn có ích, điều này có thể cho họ chút manh mối. Dường như, Pagan đã quên hết mọi chuyện trước đây, thỉnh thoảng Michael nghĩ rằng nó không biết chuyện gì đã xảy ra với mình.

Một sáng nọ, Michael lái xe đưa Pagan tham gia cắm trại, Pagan bỏ quên chiếc mền ở nhà, lại phải chạy về lấy, tuần này đã là lần thứ hai nó quên rồi. Michael chẳng còn nhẫn nại: “Có lẽ cháu không có nó cũng được, chỉ lần này thôi đấy”. Anh nói. Nhưng Pagan bảo: “Cháu cần nó, ông ngoại, cháu cần mang theo nó”. Thế là Michael đạp mạnh thắng, trở ngược đầu xe, ngay chính lúc đó, bỗng nhiên anh nhớ đến cuốn sách trước đây cho các con đọc, có tên là “Heidi”. Heidi là một bé gái, nó được đưa lên núi Alps sống chung với ông ngoại. Michael nhớ rằng, trong sách chủ yếu miêu tả khả năng thích ứng môi trường mới của Heidi. Nhưng giờ anh nghĩ, ông cô bé sẽ thế nào? Có ai nghĩ đến cảm nhận của người ông đó về việc phải thích ứng cuộc sống với một cô bé không?

Bây giờ, Michael thấy vừa sùng bái vừa ngưỡng mộ ông.

Ngày Quốc tế lao động, họ nướng thịt và bày tiệc ngoài trời như mọi năm. Hầu như đây đã là truyền thống của gia đình. Số khách mời cũng rất đông: Karen trở về sau khi kết thúc năm học, dĩ nhiên có cả George và Sally, bố và vợ chồng chị em gái của Pauline, cả con của họ cũng đến. Pauline và Michael lấy ghế trong nhà xe ra, sau đó bắt đầu bận rộn chuẩn bị. Pauline sợ không đủ rau, cô trộn thêm một ít xà lách. Lúc gọi điện bảo George về, cô dặn nó nhớ mang thêm ít thịt bò xay, ít phút sau lại gọi bảo nó mua bánh mì hamburger. “Em không hiểu sao chúng ta cứ mãi làm thế”, cô nói với Michael, “hình như chúng ta đều không thích thế này, em sắp mệt chết rồi!”, quả thật trên mặt cô hiện đầy nếp nhăn, trông rất mệt mỏi.

Michael không muốn ở đó, thế là anh quyết định đến thăm Eustace. Đấy là thói quen của anh, dù giờ Eustace được trợ cấp bảo hiểm xã hội, nhưng thỉnh thoảng anh vẫn lái xe vào thành phố thăm và cho anh ấy ít tiền. Trước khi đi, anh gào to: “Lát nữa sẽ về!”. Cũng may, suốt mấy tuần nay anh luôn muốn làm chuyện này, chắc cô biết.

Thế nhưng, cô chẳng biết gì cả – hoặc vờ như không biết. Khi anh về đến nhà, cô vừa thấy đã hỏi: “Anh đi đâu đó hả?”.

“Đến nhà Eustace. Anh nói với em rồi mà, sao thế?”. Anh hỏi vặn, sau đó nhìn đồng hồ sau lưng cô, mới bốn giờ rưỡi, buổi họp mặt 5 giờ mới bắt đầu.

Nhưng Pauline càu nhàu: “Anh có nói với em đâu! Em sắp điên rồi! Nửa giờ trước bố đã đến, ngồi một mình trong đó, ngoài Pagan chẳng ai nói chuyện với ông. Karen đi mua đá, nhưng giờ vẫn chưa về, hơn nữa đến giờ anh vẫn chưa nhóm lửa ở giá nướng!”.

“Còn nhiều thời gian mà!”. Michael chống chế, thật ra anh chỉ nói dõi theo sau lưng Pauline, vì cô đã ngoảnh mặt bỏ đi.

Từ lúc đó đến khi buổi họp mặt kết thúc, anh chẳng có cơ hội nói chuyện với cô. Cô cứ đi đi, đi lại, sau khi vị khách cuối cùng rời khỏi, Karen chủ động đưa Pagan đi ngủ, lúc này Michael mới ý thức được Pauline vẫn còn giận anh. Anh mang một chồng đĩa vào bếp, bỗng nhiên cô nói: “Cám ơn! Việc này em tự làm được”. Cô giành lấy chồng đĩa trong tay anh, đặt mạnh xuống, nhưng đĩa không vỡ, đúng là kỳ tích.

“Poll”. Anh gọi.

“Đừng gọi em là Poll!”.

“Pauline, anh xin lỗi, chiều nay anh ra ngoài, nhưng chỉ đến thăm Eustace thôi, em cũng biết mà, nếu anh không đến, anh ấy sẽ rất buồn”.

“Đúng rồi, dù thế nào, chúng ta cũng phải nghĩ đến cảm nhận của Eustace! Người đàn ông già làm thuê cho anh ngàn kiếp trước. Bỏ mặc em chuẩn bị buổi họp mặt lớn thế này, bên cạnh còn có đứa bé ba tuổi, ông bố tội nghiệp của em, chắc ông đang nghĩ sao chẳng ai chào đón mình!”.

“Sao anh biết được bố em đến sớm chứ?”.

“Bố là người nhà, Michael! Bố muốn đến lúc nào chẳng được! Anh chỉ nghĩ đến người nhà anh thôi, bà mẹ hay gắt gỏng của anh, em chăm sóc mãi đến ngày bà mất, cả một câu cám ơn cũng không có. Nhưng khi mẹ em đi lạc, anh chẳng chịu giúp em!”.

“Anh giúp em tìm mẹ mấy lần đấy thôi! Trời ạ, hai năm cuối lúc mẹ còn sống, anh đã tập thành thói quen để mắt tới mẹ em! Có một tối chỉ mình anh, thậm chí chẳng ai đóng cửa hiệu…”.

“Ồ, cửa hiệu, cửa hiệu! Anh chỉ biết cửa hiệu yêu quý của anh thôi!”.

“Con muốn gì?”, Pauline hỏi Karen, cô bé đang đứng trước cửa bếp.

“Không có gì”. Karen hoảng hốt nói, “Con chỉ muốn chúc bố mẹ ngủ ngon”. Cô bé khéo léo né tránh vấn đề.

“Ngủ ngon, con yêu”. Michael nói với Karen, nhưng Pauline lại không, những lúc thế này, cô luôn lẫn lộn mọi thứ lại với nhau, nếu giận ai, cô muốn cho cả thế giới biết là cô đang giận.

“Thậm chí cả khi con gái anh bỏ nhà đi”, cô nói, “anh ở đâu chứ? Ở cửa hiệu! Lúc nào cũng cửa hiệu!”.

“Em nghĩ anh có thể đi đâu chứ? Còn em, ngoài việc chăm sóc ba đứa con, em làm được những gì…”.

“Ồ, thật bất công, Michael. Thật chẳng công bằng gì cả! Lẽ nào anh nghĩ Lindy bỏ nhà đi là lỗi tại em sao? Còn anh? Anh làm bố mà lạnh nhạt, quái gở thế, bọn trẻ sao lại không muốn bỏ đi sớm để tránh xa người bố lạnh lùng như anh? Đấy chính là lý do tại sao con gái lớn bỏ đi với bạn trai, con trai chưa tốt nghiệp đại học đã kết hôn, con gái út nghỉ hè, thậm chí cũng không về nhà!”.

Lúc cãi nhau với Pauline, Michael luôn rất giận, anh không thể không ra ngoài. Pauline gọi đấy là hành động lẩn tránh – qua đó càng chứng tỏ thái độ thờ ơ của anh. Nhưng Pauline không biết rằng, chỉ có như thế, cô mới chịu im lặng.

Anh ra ngoài qua cửa sau và đóng cửa chắn gió ầm một cái. Khu vườn tối om, những chiếc ghế vẫn để thành từng chồng, anh túm lấy một chiếc ghế, xoay một vòng, thế là ghế không hướng vào nhà nữa. Anh ngồi lên đó, ngẩng mặt nhìn trời, đầu trống rỗng.

Sau lưng anh, đèn trong nhà tắt hết cái này đến cái khác. Trời tối hơn, sao cũng sáng hơn. Anh nghe hàng loạt tiếng đóng cửa: cửa bếp, cửa phòng ngủ, có lẽ còn có cả cửa tủ âm tường. Nhưng anh vẫn ngồi đó, hy vọng tim mình có thể bình yên trở lại.

Một người phụ nữ điên cuồng, làm người ta khó chịu, tinh thần bất ổn; khi tâm trạng cô ấy vui, giọng nói lại toát lên sự hưng phấn khác thường, mắt cũng sáng lấp lánh, nhưng sự hưng phấn này của cô thật dễ sợ. Tại sao? Tại sao? Tại sao mình lại chọn kết hôn với cô ấy chứ? Lúc đó mình có thể cưới cô gái Ba Lan dễ thương khỏe mạnh nhà hàng xóm, hoặc là những cô gái trẻ tốt bụng trong căng tin hội chữ thập đỏ ở Virgina! Sao mình lại chọn một người không thể nào nắm bắt được chứ?

Cô không có quyền trách móc quan hệ giữa anh và các con. So với bố anh, anh đã gần gũi với các con nhiều lắm rồi. Còn cửa hiệu, cô ấy nghĩ tiền đi cắm trại, học nhạc, học đại học và du lịch lấy ở đâu ra chứ? Ồ, cô ấy chưa từng nhận thức được sự nghiệp của anh thành công thế nào. Ngay từ đầu, cô luôn hối thúc anh từ bỏ cửa hiệu cũ, dù cửa hiệu cũ đó mang đến cho họ một khoản thu nhập rất khá. Sau đó cô lại muốn có một siêu thị hoàn chỉnh, thắp đèn huỳnh quang, có hành lang rộng, bày đầy hàng hóa. Nhưng Michael biết rất rõ vùng ngoại ô thiếu thứ gì, chính là cửa hiệu tạp hóa kiểu cũ, quy mô không lớn nhưng có thể phục vụ mỗi người. Nhân viên phải gọi tên khách hàng, đặt hóa đơn của họ trên mặt bàn, hơn nữa có thể cung cấp kẹo cho con họ. Giờ anh đã có một lượng khách hàng cố định, nhưng Pauline có từng khen anh một lần không? Không có, mãi đến hôm nay cô vẫn không ngừng khuyên anh mở siêu thị, chỉ cần anh bắt đầu tranh luận, cô lại la toáng lên. “Nếu không phải em, giờ anh vẫn còn ở cái nơi hẻo lánh đó, đúng không?”, cô nói, “Mỗi ngày bán cho ba bà lão 3,5 panh (1 panh bằng 0.473 lít) sữa!”.

Thỉnh thoảng, anh thấy họ giống anh em hơn vợ chồng: không ngừng cạnh tranh, tỵ nạnh nhau. Những đôi vợ chồng khác cũng thế sao? Ít ra dưới mắt người ngoài, họ không phải như thế.

Anh tin rằng, tất cả họ, những thanh niên kết hôn trong thời kỳ chiến tranh đều có chút sai lầm. Anh thấy họ đi dọc theo các con đường trong thành phố, giống như những người anh gặp lúc đi lính, sau đó từng đôi hứa hẹn và cùng nhau thay đổi. Chỉ anh và Pauline vẫn thế, trở thành đôi tuyển thủ nghiệp dư cuối cùng còn lại trên thao trường duyệt binh.

Anh nhắm mắt lại, mong được tâm sự với ai đó về vấn đề này. Nhưng tâm sự với ai đây? Anh mất liên lạc với những anh bạn sống ở nhà cũ rồi. Cuộc sống xã giao của anh đều là những buổi hội họp đã lên kế hoạch trước – tiệc cocktail và bữa tối ở Emlview Acres. Thực tế, anh chẳng muốn tham gia, vì ở đó anh không có bạn bè. Anh từng thích ai đó sao? Có ai từng thích anh sao? Lẽ nào anh là người lạnh lùng, vô tình?

Thế nhưng, một lúc sau, cửa chắn gió mở ầm một cái, rồi đóng nhẹ lại. Có người đi chân trần qua các phiến đá lót sân tiến đến chỗ anh. Michael thấy an ủi hơn, có thể nói Pagan luôn là người bạn thân của anh, chính Pagan giúp anh xóa bỏ những đè nén và cảm giác cô độc ngột ngạt.

Đứa bé ra sức bò lên ghế. Michael mở mắt ra, anh đưa tay xoa nhẹ đầu Pagan, rồi hai ông cháu ngồi nhìn bầu trời đêm đầy các vì sao trầm mặc.