Cuối trời hợp tan

Ngay từ đầu, cô luôn hối thúc anh từ bỏ cửa hiệu cũ, dù cửa hiệu cũ đó mang đến cho họ một khoản thu nhập rất khá. Sau đó cô lại muốn có một siêu thị hoàn chỉnh, thắp đèn huỳnh quang, có hành lang rộng, bày đầy hàng hóa. Nhưng Michael biết rất rõ vùng ngoại ô thiếu thứ gì, chính là cửa hiệu tạp hóa kiểu cũ, quy mô không lớn nhưng có thể phục vụ mỗi người. Nhân viên phải gọi tên khách hàng, đặt hóa đơn của họ trên mặt bàn, hơn nữa có thể cung cấp kẹo cho con họ. Giờ anh đã có một lượng khách hàng cố định, nhưng Pauline có từng khen anh một lần không? Không có, mãi đến hôm nay cô vẫn không ngừng khuyên anh mở siêu thị, chỉ cần anh bắt đầu tranh luận, cô lại la toáng lên. “Nếu không phải em, giờ anh vẫn còn ở cái nơi hẻo lánh đó, đúng không?”, cô nói, “Mỗi ngày bán cho ba bà lão 3,5 panh (1 panh bằng 0.473 lít) sữa!”.
Thỉnh thoảng, anh thấy họ giống anh em hơn vợ chồng: không ngừng cạnh tranh, tỵ nạnh nhau. Những đôi vợ chồng khác cũng thế sao? Ít ra dưới mắt người ngoài, họ không phải như thế.
Anh tin rằng, tất cả họ, những thanh niên kết hôn trong thời kỳ chiến tranh đều có chút sai lầm. Anh thấy họ đi dọc theo các con đường trong thành phố, giống như những người anh gặp lúc đi lính, sau đó từng đôi hứa hẹn và cùng nhau thay đổi. Chỉ anh và Pauline vẫn thế, trở thành đôi tuyển thủ nghiệp dư cuối cùng còn lại trên thao trường duyệt binh.
Anh nhắm mắt lại, mong được tâm sự với ai đó về vấn đề này. Nhưng tâm sự với ai đây? Anh mất liên lạc với những anh bạn sống ở nhà cũ rồi. Cuộc sống xã giao của anh đều là những buổi hội họp đã lên kế hoạch trước – tiệc cocktail và bữa tối ở Emlview Acres. Thực tế, anh chẳng muốn tham gia, vì ở đó anh không có bạn bè. Anh từng thích ai đó sao? Có ai từng thích anh sao? Lẽ nào anh là người lạnh lùng, vô tình?
Thế nhưng, một lúc sau, cửa chắn gió mở ầm một cái, rồi đóng nhẹ lại. Có người đi chân trần qua các phiến đá lót sân tiến đến chỗ anh. Michael thấy an ủi hơn, có thể nói Pagan luôn là người bạn thân của anh, chính Pagan giúp anh xóa bỏ những đè nén và cảm giác cô độc ngột ngạt.
Đứa bé ra sức bò lên ghế. Michael mở mắt ra, anh đưa tay xoa nhẹ đầu Pagan, rồi hai ông cháu ngồi nhìn bầu trời đêm đầy các vì sao trầm mặc.

Chương 5
Ngày 26 tháng 9 năm 1972, Michael và Pauline mừng kỷ niệm 30 năm ngày cưới, người thân đến nhà họ dùng bữa cơm thân mật. Đấy là ngày thứ ba, George và Karen đều bảo không phải lúc tốt để họp mặt. Nhưng Pauline kiên quyết làm theo ngày thực tế. Cô thích tuyên bố với người thân: “Ngày này 30 năm trước, bố mẹ đang trên tàu hỏa, đến Washington hưởng tuần trăng mật!”, cô thích nói thế hơn, chứ không phải nói, ngày này mục sư tuyên bố bố mẹ là vợ chồng. Các con của họ đều không thể tan sở sớm. George đang làm một công việc quan trọng liên quan đến việc sát hợp các công ty, Karen đang học năm hai đại học Luật.
Trên bàn ăn tối có bảy người: Pauline và Michael ngồi hai đầu bàn, Karen và Pagan ngồi phía cửa sổ, George và Sally ngồi phía tủ ăn, con trai JoJo ngồi giữa họ trên một chiếc ghế cao. Pauline để trống một chỗ dành cho Lindy, cô cho rằng Lindy sẽ về bất cứ lúc nào.
Chính vì JoJo, nên 6 giờ tối họ dùng bữa. Nó vừa tròn 20 tháng, có lúm đồng tiền dễ thương, là niềm hy vọng của Pauline. George nói nên tìm bảo mẫu chăm sóc nó, Pauline thẳng thừng phản đối. Lúc mọi người nói lời chúc mừng Micheal và Pauline, muỗng của JoJo phát ra tiếng động, Sally vội xin lỗi, Pauline liền nói: “Nếu không có cháu, tiệc kỷ niệm ngày cưới của bố mẹ đâu còn ý nghĩa gì?”, sau đó cô đi qua và nựng má Pagan. Pagan cũng là niềm hy vọng của cô, giờ nó đã 7 tuổi, cũng ngày càng không thích người khác ôm. Nó cười một cái, né cô và bắt đầu ăn miếng bánh mì đã trét bơ.
Những món ăn chẳng có gì là ngon. Cô vẫn chế biến những món cũ: thịt bò nướng, khoai nướng, rau diếp trộn và bánh kem sôcôla tráng miệng. Đấy là sự nhượng bộ của cô dành cho Michael. “Vì anh đấy, anh yêu”, cô nói và nâng ly lên, “không có những lời tán thưởng, cũng không thấy nấm, trứng cá hoặc atisô, chẳng có gì cả, rất đơn giản, chính là thứ anh muốn”.
Michael ngừng nhai thức ăn, nâng ly của mình: “Đúng thế, cám ơn, em yêu”. Trong ly là sâm panh, nhưng anh không phản đối. Khi cuộc hôn nhân đã kéo dài 30 năm, bạn không thể uống rượu ủ lâu năm.
Bây giờ, tóc Michael đã ngã màu xám, mặt anh cũng có nếp nhăn, nhưng trông anh rất dẻo dai. Tóc Pauline lại chẳng biết là màu gì, có lẽ là vàng xen lẫn trắng chăng. Cô giữ dáng mình rất đẹp, nhưng bụng hơi to. Tóm lại, cô cho rằng họ vẫn là một đôi vợ chồng rất xứng. Hơn nữa, cô cũng hãnh diện trước cảnh tượng này: mỗi người đều mặc bộ trang phục đẹp nhất, đầu tóc chải ngay ngắn, bóng mượt. Thậm chí Karen, bình thường chẳng màng sửa soạn, tối nay cô cũng diện lên, mặc chiếc váy ngắn cắt may công phu, còn bỏ cả kính ra, thay vào đó là đôi kính sát tròng mà cô luôn than rằng ngứa mắt.
Hôm nay Karen thay mặt mọi người tặng quà cho họ. Cô và George nhìn nhau vài cái, George viện cớ ra ngoài một lúc, khi anh mang một chiếc hộp dẹt hình chữ nhật gói giấy vào, Karen hớn hở nói: “Chào, mời mọi người nhìn bên này!”.
“Ồ! Gì thế?”, Pauline hỏi, “A, con yêu, các con chẳng cần tặng quà cho bố mẹ đâu”.
“Vâng”, Karen nói vẻ châm biếm, sau đó mọi người đều cười, vì Pauline thường thích dùng quà đánh giá thành ý của ai đó. Karen nói tiếp: “Thưa bố mẹ, đây là món quà chúng con tặng bố mẹ. Chúng con muốn tặng món quà giúp bố mẹ nhớ đến cuộc sống 30 năm qua”. Cô lấy món quà trên tay George, đặt trên tay Pauline.
Đấy là một khung hình, nhìn bốn góc cạnh và chỗ lõm chính giữa, Pauline đã đoán ra được. Cô nghĩ chắc chúng phóng lớn một tấm ảnh cưới, hoặc lấy một tấm trong số đó làm thành tranh vẽ. Khi xé bỏ lớp giấy gói, cô phát hiện hai khung bầu dục song song trong tấm vải lanh màu ngà, cô sững sờ. Khung đầu tiên là tấm ảnh chụp Michael lúc trẻ, mặc chiếc áo jacket carô xù xì, nghiêng mắt nhìn trời. Tấm thứ hai là Pauline, cũng rất trẻ, vịn nón mỉm cười. Hai tấm ảnh này cô đều rất quen thuộc – tấm ảnh của Michael do mẹ chồng để lại trong một hộp giày, tấm của cô trong album ảnh cưới của Donna – nhưng đặt nó cạnh nhau, đồng thời khảm viền vàng, bên dưới còn phủ thứ gì đó, điều này làm cô rất bất ngờ, cô vẫn không hiểu nó liên quan gì đến kỷ niệm ngày kết hôn của cô. “Tuyệt quá!”, khi Pauline đưa nó cho Michael, anh mỉm cười rất tươi, nhưng thật ra Pauline biết anh cũng không hiểu ý nghĩa món quà.
Sally giải thích: “Đấy là bố mẹ trước lúc gặp nhau”. “Trước lúc bố mẹ gặp nhau?”, Pauline hỏi.
“Lễ cưới của dì Donna là ngày 8 tháng 11 năm 1941;
phía sau tấm ảnh của bố có người viết: ở nhà chú Bron, Lễ tạ ơn năm 1941. Thế nên ảnh này chụp khoảng vài tuần thậm chí là vài ngày trước khi bố mẹ gặp nhau ở cửa hiệu tạp hóa”.
“Hay nhỉ!”, Michael nói.
Pauline cũng ngạc nhiên không nói nên lời. Thật tình cờ, hai tấm ảnh này là bằng chứng sau cùng cho khoảng thời gian trước khi họ giã từ cuộc sống độc thân… Ồ, nhìn Pauline xem, ngây thơ biết nhường nào! Thậm chí trên mặt Michael cũng lộ vẻ ngây thơ và bình yên!
“Bố mẹ chẳng biết gì cả”, cô nói, “bố mẹ không ngờ có chuyện như thế! Không có sự kiện Trân Châu cảng, không có chiến tranh, bố mẹ cũng không thể gặp nhau, bố mẹ cũng không có con cái, cháu của bố mẹ lại càng khó tưởng tượng nó sẽ như thế nào!”.
“Phải đó! Chúc mừng kỷ niệm ngày cưới!”, George xen vào.
“Còn nhớ lúc anh băng vết thương cho em không?”, Pauline hỏi Michael. “Em thấy lúc đó anh rất tuyệt vời. Giờ đây mỗi lần em ngửi thấy mùi băng keo đều nhớ đến lúc đó!”.
“Em đội mũ đỏ”, Michael nói, “lúc em tham gia diễu hành, có một thoáng anh không thấy em, sau đó anh thấy một mảng màu đỏ hiện ra trước mắt, tựa như tất cả máu đều chảy về huyết quản anh vậy”.
“Còn cả những lần cãi nhau điên cuồng của chúng ta”, Pauline có vẻ tươi tỉnh, “một lần em nhảy từ trên đu quay ở khu vui chơi xuống, vì anh đến dự sinh nhật Katie Vilna mà không dẫn em theo, còn nhớ không?”.
“Lúc đó đu quay đang quay đấy!”, Michael nói với những người khác, “Bố mẹ cách mặt đất ít nhất 4 feet!”.
“Nhân viên phục vụ sợ hoảng hồn”. Pauline nói tiếp, rồi cười rộ lên.
“Còn trong khoảng thời gian huấn luyện đặc biệt, anh gởi trả tất cả thư của em”. Michael nói.
“Hồi em mang thai tám tháng, anh bảo em béo, làm em tức chết được”.
“Em mặc đồ ngủ về nhà bố mẹ, còn nhớ không nào?”. Bỗng nhiên Michael không nói nữa, Pauline nhìn theo ánh mắt anh, thấy hầu như những người khác đều không hứng thú với trò tiêu khiển của họ. Chỉ có Sally ngồi vừa cười vừa nghịch yếm của JoJo.
“Dù thế nào”, Michael nói, “các con đều rất ngoan”. “Phải đấy, cám ơn các con!”, Pauline xen vào.
Mọi người đứng dậy nâng ly chúc mừng.
“Lúc này 30 năm trước”, Pauline nói, “em và anh đang làm thủ tục đăng ký trong khách sạn President Lincoln ở Washington!”.
Cô cởi áo, run run treo lên giá. Trên cổ áo có một đốm nhỏ màu hồng, nhưng nếu che bằng đồ cài áo, cô còn có thể mặc thêm một lần, sau đó đưa đến tiệm giặt ủi.
“Một nhóm các anh lính và thủ thủy đi lại trong sảnh lớn, anh nhớ không?”, cô hỏi Michael. Anh đang lấy đồ đạc trong túi áo khoác để lên bàn, không trả lời. Cô nói tiếp, “em ngồi trên ghế, chờ anh đăng ký phòng cho chúng ta. Em cầm ví tiền ở tay trái, thế nên mọi người đều biết chúng ta kết hôn rồi”.
Cô luôn nhớ những hướng dẫn trong cuốn sách “Kim chỉ nam hôn nhân cho các bạn nữ” mà mẹ đưa cô. “Thư giãn”, cuốn sách dạy, “tin tưởng chồng và để anh ấy chỉ dẫn bạn”. Nhìn từ chỗ cô ngồi, trông Michael hơi thập thò và rất vụng về. Nhìn từ phía sau cổ anh thon dài như một đứa trẻ.
“Thú vị thật, chuyện lâu thế, giờ nghĩ lại hệt như ngay trước mắt!”, cô nói, “Em còn nhớ được từng hàng đinh trên tay vịn của ghế! Chúng bằng đồng thau, đóng ở đó, nên lúc em sờ tay vào có cảm giác rất gồ ghề”.
Cô cho anh thời gian nói xen vào, nhưng rất hiển nhiên là anh không muốn.
“Sau đó anh lính bước đến”, cô nói tiếp, “em nhớ hình như là một trung tá. Anh ta hỏi: ‘Cô đi một mình sao?’. Em nói: ‘Không, tôi đang chờ chồng tôi đăng ký phòng!’. Đấy là lần đầu tiên em dùng từ ‘chồng tôi’ ở chốn công cộng. Bỗng nhiên em phát hiện anh đứng trước mặt em và đang rất giận. Em đã giải thích rằng em không cố tình nói thế! Chúng ta vào thang máy, anh vẫn còn giận, em không ngừng giải thích với anh, cuối cùng cả người phục vụ cũng tin lời em”.
“Phải”, Michael nói, “hình như là thế”. Cuối cùng anh quay người lại nhìn cô, “Thậm chí, chúng ta đã đánh nhau ngay đêm tân hôn”.
“Ồ, nói chính xác hơn không phải là đánh nhau. Nó giống hiểu lầm hơn, nhưng rồi chúng ta làm lành ngay. Đấy là đêm tân hôn thú vị! Anh còn nhớ không? Anh yêu!”. Cô hỏi, giờ Pauline rất vui, cô đã cởi hết chỉ còn chiếc váy lót và chiếc áo lót ren trông rất gợi cảm.
Nhưng dường như Michael chẳng thấy gì cả. “Nhảy từ trên đu quay xuống”, anh nói, “chạy đến nhà họ hàng em. Pauline, em có nghe thấy tối nay chúng ta nói gì không? Em có nghe thấy lời chúng ta nói không? Trong ký ức của em chỉ có cãi nhau, trước đây anh chưa từng chú ý đến điều này. Em có thấy vẻ mặt của các con không?”.
“Đâu chỉ có cãi nhau, Michael. Trời ạ!” Pauline nói, đồng thời vội nhớ đến vẻ mặt của các con. Lúc đó chỉ có Michael nhạy bén quan sát những điều này. “Em đang kể anh băng vết thương cho em thế nào”, cô nói, “anh kể về chiếc áo đỏ của em…”.
“Anh đã nhắc đến thời khắc hòa bình duy nhất trong đời chúng ta!”, anh nói.
“Sao?”.
Michael không trả lời, mím chặt môi, ánh mắt anh trông rất u uất.
Cô đứng xa anh một chút, rồi đặt một tay lên cánh tay anh. “Ồ, Michael”, cô nói, “Tại sao? Đó không phải sự thật! Chúng ta luôn sống rất vui vẻ! Khoảng thời gian đó rất lãng mạn, chúng ta cùng nói ra những lo lắng và sợ hãi trong lòng mình và cười vui vẻ. Những chuyện đùa hồi các con còn nhỏ, anh nhớ không? Hồi trước Karen gọi nước ngọt là ‘nước lăng xăng’, thật vui? Chúng ta cùng chia sẻ đau buồn, những rắc rối Lindy gây ra và lúc đầu óc mẹ em dần trở nên… những an ủi anh dành cho em. Chúng ta cãi vã đôi lần thì sao? Em thấy nó chỉ chứng minh chúng ta có một cuộc hôn nhân tràn đầy sức sống và mãnh liệt! Em thấy đây là một cuộc hôn nhân rất thú vị!”.
“Chẳng thú vị chút nào”. Michael uể oải nói. Tay cô buông xuống.
“Chẳng khác gì địa ngục”. Anh lại lầm bầm thêm một câu.
Cô nghe thấy lời anh nói, mong muốn biết bao mình chỉ nghe nhầm! Anh không thể nói thế. Dù lúc cãi nhau kịch liệt nhất anh cũng không thể nói thế!
“Tất cả những lần gào thét, kêu khóc và những hành vi chẳng đoán biết được”, anh nói, “ra ngoài, dập mạnh cửa, đá vật dụng trong nhà, ném quần áo anh qua cửa sổ, khóa anh bên ngoài không cho vào nhà…”.
“Vậy sao anh không bỏ đi?”, Pauline hỏi. Michael không nói nữa.
“Nếu anh đau khổ thế, hãy đi đi! Nếu em làm anh không vui thế, nếu anh đang chịu giày vò, hãy đi đi! Anh còn chờ gì nữa?”.
Anh nhìn cô một lúc, sau đó lấy chìa khóa trên bàn và ra khỏi nhà.
Đấy chính là đêm kỷ niệm ngày cưới. Pauline cởi chiếc váy lót viền hoa, cuộn tròn nó để sáng mai mang đến tiệm giặt ủi. Cô chú ý thấy tay mình hơi run. Cô thấy mình rất yếu, cứ như một thời gian dài không ăn uống, tim cô đập dồn dập. Lúc sợ hãi, cô hay có cảm giác như thế.
Cô cởi áo lót, nhưng không cởi quần lót, rồi mặc vào một chiếc áo ngủ tay dài. Mỗi lần thấy lo lắng, cô đều mặc quần lót với áo ngủ để ngủ. Từ nhỏ cô đã tập thành thói quen này. Cô rửa mặt, đánh răng, tháo hoa tai ngọc trai đặt vào hộp trang sức. Cô đến đầu kia hành lang, xem đèn phòng Pagan tắt chưa, sau đó trở về phòng mình, và leo lên giường.
Anh ấy sẽ về, chắc chắn thế! Anh ấy bình tĩnh rồi sẽ về thôi! Có thể trong lúc cô đang ngon giấc, anh vào phòng đóng rầm ngăn kéo, ném đôi giày nặng trịch dưới đất. Anh thường làm thế, và chưa một lần xin lỗi. Có thể mấy ngày liền anh đều lạnh nhạt, cô nói: “Michael, đừng thế nữa mà!”, anh sẽ gắt gỏng: “Chuyện gì cơ? Anh có làm gì đâu!”, anh hay nói dối, anh không phải người thành thật. Anh chống đối với người khác bằng một cách không thành thật, mức độ thẳng thắn của anh chẳng bằng một phần mười của cô.
Xem anh biểu hiện thế nào trước mặt các con: “Mẹ con nói thế này”, “Mẹ con nói thế nọ”, “Mẹ không muốn các con ra ngoài quá khuya”, “Sau khi con đến đó, mẹ muốn con gọi điện về, con biết mẹ rất nóng ruột”, anh luôn để cô đóng vai người xấu. Anh chưa bao giờ nói “Bố muốn thế nào”, mãi đến hôm nay đối với Pagan anh vẫn thế. “Pagan, chẳng phải bà bảo đến lúc lên giường ngủ rồi sao?”. Sau đó anh làm ra vẻ dễ chịu, ý là mình sao cũng được.
Pauline tắt đèn, nằm thẳng xuống giường, chỉ đắp một lớp chăn. Đây là một đêm ấm áp, giống mùa hè hơn mùa thu. Qua cánh cửa sổ để mở, cô nghe thấy tiếng kêu của côn trùng trong các bụi cây. Một chiếc xe hơi vù một tiếng lái từ phía trước đến, nhưng không giảm tốc độ.
Thỉnh thoảng Michael cố tình gọi cô là “bà già”, về sau cô hết chịu nổi, bảo anh tuổi tác là vấn đề nhạy cảm với cô. Tuy đã hiểu, nhưng anh vẫn cố tình hỏi: “Anh nói gì sao? Anh chỉ muốn chọc em cười, cả lời nói đùa em cũng không chịu nổi sao?”.
Sự thật là anh thiếu tình cảm, nghiêm nghị như viên chánh án.
Lần đó, sau khi họ mất manh mối của Lindy ở San Francisco, Pauline muốn thuê một thám tử tư. Cô từng nghe nói đến một người đàn ông tên Everjohn, do một người bạn giới thiệu. Cô đề nghị Michael hẹn người đó ra gặp, nhưng anh từ chối. “Sao lại phí tiền bạc và thời gian vào việc này”, anh hỏi cô thế, “nó biết chúng ta sống ở đâu, nó biết con trai nó ở chỗ chúng ta. Giả sử anh chàng này tìm thấy nó thì đã sao? Anh ta dùng dây trói nó đưa về Baltimore à? Nó không muốn gặp chúng ta, Pauline. Thế nên, cứ vậy đi, anh cũng không muốn gặp nó”.
Michael nghĩ quá đơn giản.
Một lần, bỗng nhiên anh nói với cô, anh học được một câu của khách hàng: dần dần giết chết con ếch. “Đoán xem cách nói này từ đâu mà có?”, anh hỏi.
“Em không biết nó có nghĩa gì!”, Pauline nói.
“Nghĩa của nó là, dần dần làm một việc mà không ai chú ý đến. Cũng giống như dần thu nhỏ hộp ngũ cốc, giá thành vẫn thế, nhưng cái hộp ngày càng nhỏ. Vị khách hàng đó gọi nó là ‘dần dần giết chết con ếch’. Đoán xem cách nói này từ đâu mà có?”.
“Từ đâu?”.
“Nếu em đặt một con ếch vào trong chiếc lọ đựng nước lạnh, rồi dần đun nóng chiếc lọ, nhiệt độ nước tăng dần, con ếch vốn không ý thức được. Cuối cùng nó chết, nhưng vẫn chẳng cảm giác được gì”.
“Sao anh nói điều này với em?”, Pauline hỏi. “Ơ?”.
“Sao anh nói điều này?”.
“Chẳng sao cả, anh chỉ nghĩ chắc em muốn nghe, em yêu”.
“Anh muốn qua nó biểu đạt một ý khác, đúng không?”. “Sao?”.
“Em biết, anh có ý khác”.
“Anh chẳng biết em đang nói gì!”.
“Anh thấy chúng ta đang dần bị giết chết, chẳng phải thế sao?
Hôn nhân của chúng ta. Hơn nữa, anh cho rằng chính em đang làm thế”.
“Em điên rồi hả?”.
Không phải, cô không điên. Cô và Michael lấy nhau lâu thế rồi, vì vậy cô biết anh ám chỉ điều gì. Cô có thể hiểu thấu tâm tư của anh.
Cuối cùng Pauline ngủ thiếp đi, nhưng do quá căng thẳng, một lúc sau, cô choàng tỉnh dậy, nhìn đồng hồ: 3 giờ 15 phút. Không gian là một mảng đen tối và đặc biệt yên tĩnh. Côn trùng không kêu, không có tiếng xe, chỗ của Michael vẫn trống không. Có lẽ anh ấy gặp chuyện. Đúng, chắc chắn là thế! Bỗng nhiên, cô có linh cảm thế. Chắc chắn anh không chịu bỏ tiền ở khách sạn, anh cũng không có bạn bè để ngủ nhờ. Không, có thể anh lái xe đến bờ sông nào đó, uống say sưa, rồi nằm ngất ở đó… Nhưng cô lại quá sợ, không dám gọi cho cảnh sát. Cô có thể nói gì chứ? “Chồng tôi giận dữ bỏ nhà đi, tôi biết chắc chắn anh ấy gặp chuyện, tôi có thể cảm giác được”. Ngoài ra, cô còn cho rằng lúc Lindy bỏ nhà đi, cô đã gọi điện thoại quá nhiều rồi. “Alô, thưa sĩ quan, tôi là bà Anton…”, cô không thể lại nói thế. Xem ra dường như cô lại để mất một người cô yêu thương.
Michael không có quyền khiến cô rơi vào tình cảnh này. Anh không có quyền. Cô mong mình có thể tiếp tục ngủ.
Sáng sớm, khi chuẩn bị bữa sáng, Pauline chợt nghĩ chắc Michael đến ngủ nhờ nhà các con. Nếu thế anh ấy có đáng hận lắm không! Anh sẽ nói với chúng là bị cô đuổi ra ngoài, chúng sẽ tội nghiệp anh. Karen là có thể nhất, vì nó có một căn nhà ở thành phố, rất tiện lợi, ở ngay cạnh đường cao tốc Jones Falls. Pauline ngừng trét bơ lên miếng bánh mì nướng, quay sang nhìn chằm chằm vào điện thoại. Gọi điện hỏi Karen thử xem? Hay không gọi? Cô nghe phòng Pagan có tiếng radio. Nếu muốn gọi điện, cô phải gọi trước khi nó vào bếp. Cô lại suy nghĩ một lúc, sau đó nhấc máy lên.
“Xin chào!”, Karen nói.
“Chào, con yêu!
Mẹ đánh thức con sao?”.
“Không, không có, con dậy lâu rồi. Con đang viết luận văn, sáng sớm mai phải nộp rồi”.
“Mẹ chỉ muốn cám ơn con, hãy bớt chút thời gian trong tuần về nhà dùng bữa với mẹ nhé”.
“Ồ, có gì đâu mẹ”.
“Mẹ biết con rất bận”. “Không sao đâu ạ”. Dừng một lúc.
“Cám ơn món quà của con”, Pauline nói, “nó thật có ý nghĩa với bố mẹ!”.
“Chị Sally làm đấy ạ”.
“Phải, mẹ cũng đoán được. Sally là đứa nhạy bén, nhưng cũng có công lao của con mà”.
“Mẹ đừng khách sáo”. Karen nói.
“Thế nên…”. Pauline ngắt lời con bé. Tiếng radio trong phòng Pagan lớn hơn, nghĩa là nó sẽ mở cửa phòng. “Nhân tiện cho mẹ hỏi, tối qua bố có đến chỗ con không?”.
“Bố? Đến đây?”.
“Mẹ đoán là không”.
Pagan vào bếp, đeo ba lô ở một bên vai. “Sao bố lại đến đây?”, Karen hỏi.
“Ồ, không có gì, thật đấy!”.
“Con nghĩ bố phải ở nhà với mẹ chứ!”.
“Phải, nhưng bố mẹ… con biết đấy, có chút rắc rối…”. Pagan buông ba lô xuống đất ầm một tiếng – chiếc balô ấy nặng biết chừng nào! Sau đó, ngồi vào ghế nhìn cô với ánh mắt chờ đợi.
“Sao?”, Karen la lên, “bố mẹ đánh nhau vào đêm kỷ niệm ngày cưới?”.
“Không phải…”.
Cô không thể nói từ “đánh nhau” trước mặt Pagan. “Không có gì, thật đấy”, Pauline nói tiếp, “Trời ạ, mấy giờ rồi! Mẹ phải đưa Pagan đi học”.
“Ý mẹ là bố bỏ đi đến chỗ khác sao?”.
“Ơ? Ồ, phải. Giờ bố không ở đây, nhưng…”.
“Cháu ăn Cheerios được không ạ?”, Pagan hỏi cô. “Không được, Pagan, bà nướng bánh mì rồi. Xin lỗi con yêu, mẹ phải đi đây!”.
“Khoan đã”. Karen rói, nhưng Pauline đã dập máy. “Cháu không muốn ăn bánh mì nướng”, Pagan nói, “hôm qua cháu ăn bánh mì nướng rồi, cháu không thể ăn Cheerios sao ạ?”.
“Được rồi, cháu cứ ăn”. Pauline lấy hộp Cheerios trong tủ bếp ra, đặt trước mặt nó. Sau đó lại nhấc máy gọi cho George.
“Nhưng, chén đâu ạ? Cả sữa nữa?”, Pagan hỏi, đồng thời nghe thấy tiếng Sally: “Xin chào?”.
“Chào buổi sáng, Sally!”, Pauline nói. “Ồ, chào mẹ”.
“Mẹ chỉ muốn cám ơn tối qua các con đã đến dùng bữa và cả tấm ảnh dễ thương đó!”.
“Mẹ thích là con vui rồi. Mẹ thấy khảm viền vàng có lòe loẹt quá không?”.
“Khảm viền vàng. Ồ, không! Không đâu, nó rất dễ thương, Sally”.
“George bảo để nền trắng bình thường được rồi”. “Nếu mẹ muốn con làm lại nó…”.
“Trời ạ, không cần đâu! Mẹ thích khảm viền vàng! Mẹ thấy viền vàng là đẹp nhất đấy!”.
“Ồ”, Sally nói, “ý mẹ là… muốn khảm viền vàng cả khung bên ngoài sao?”.
“Dĩ nhiên là không”, Pauline nói vẻ chắc chắn, “bố mẹ đều thích dáng vẻ hiện giờ của nó. Giờ bố không ở đây, bằng không chắc sẽ đích thân nói với con điều đó. Trời ạ, mẹ chẳng biết ông ấy đi đâu! Các con có gặp bố không?”.
“Gặp… bố? Chẳng phải bố đang làm việc sao?”. “Phải, bố về mẹ sẽ bảo ông gọi cho các con”.
“Ồ, không cần đâu ạ… Bố sẽ đến chỗ con sao? Con không hiểu”.
“Theo mẹ biết thì không”, Pauline nói, “được rồi, cám ơn con lần nữa. Chào con!”.
Cô gác máy, rồi đứng bên điện thoại một lúc, dùng ngón cái và ngón trỏ bóp nhẹ môi dưới.
“Bà ơi”, Pagan nói, “cháu cần có chén”.
“Ồ, Pagan, cháu lớn rồi, phải tự lấy chứ!”, Pauline nói. Nhưng dù thế, cô vẫn đi lấy chén cho nó, rồi đặt cái ầm xuống bàn, hành động của Pauline làm Pagan chớp mắt lia lịa.
Lái xe từ trường Pagan về, Pauline ghé qua cửa hiệu tạp hóa, nằm ngay trên đường về nhà. Đấy là căn nhà gạch hẹp chỉ có một tầng, nằm giữa hiệu thuốc và văn phòng địa ốc, phía trên treo bảng “Cửa hiệu thực phẩm Anton” viết bằng thứ chữ nghiêng màu vàng. Cây cối chiếm phần lớn bãi đậu xe, Michael luôn đậu xe ở phía sau, giữa Dumpsters và thùng rác, thế nên cô không tài nào biết được anh có ở đây không. Cô lái xe đến bãi đất trống gần hiệu thuốc, cố gắng cách xa cửa hiệu tạp hóa, sau đó tắt máy, rồi ngồi trong xe chờ một lúc. Sau một hồi đấu tranh tư tưởng kịch liệt, cô quyết định bước xuống xe.
Cửa hiệu mới của nhà Anton trông rất thú vị, thông thoáng và sáng hơn cửa hiệu cũ. Trên kệ bày đầy thực phẩm đắt tiền. Ở đây có một quầy hàng bán thịt, thậm chí còn có quầy chuyên bán hoa. Ở khu trái cây, Pauline nhìn thấy vị quản lý mà Michael thuê. Một người đàn ông mặt trắng bệch, dáng béo tròn, tóc bóng loáng, anh ta luôn đeo một sợi dây chuyền, hơn nữa còn có mặt cây thập tự giá, vì dây chuyền quá chật nên trông như thắt trên cổ anh vậy. Cô đi đến chỗ anh và nói: “Xin chào, Bart! Tôi nghĩ chắc anh ấy trong văn phòng”. Pauline hỏi với giọng điệu ung dung.
“Vâng, thưa bà”, Bart nói, “hoặc ở đâu đó gần đây, vừa nãy tôi có thấy ông ấy”.
Thế là chẳng có sự cố gì cả, xe cũng không rơi xuống sông, sự lo lắng của cô là dư thừa, cô càng giận anh hơn. “Được rồi, cám ơn anh”, cô nói với Bart, “tôi vào tìm anh ấy”. Cô ra phía sau cửa hiệu, gặp hai người phụ nữ có kiểu tóc giống nhau, họ đang hẹn cùng đi chơi tennis.
Cô thấy cửa văn phòng mở. Michael dựa người trên khung cửa, quay lưng về phía cô, đang nghe một cô gái nói chuyện. Sau khi bà Bird kế toán cũ nghỉ hưu, Letitia – tên cô gái – tiếp nhận công việc sổ sách trong cửa hiệu. Letitia ngồi nghiêng trên ghế trò chuyện với Michael. Michael gật gật đầu, anh chẳng biết Pauline đến. Cô bước đi rất nhẹ, chân mang đôi giày vải đế mềm. Nhưng bỗng nhiên Michael ngoảnh người lại, dường như anh có cảm giác cô sẽ đến. Cô thấy mình có chút hối hận, lo lắng. Khoảnh khắc này, cô nhận ra Michael không muốn cô đến anh, anh lo lắng cô sẽ tìm thấy anh.
“Chào”. Michael nói. Letitia thì cười thật tươi: “Ồ, chào bà Anton!”, sau đó quay sang máy tính của mình.
Pauline nói: “Tối nay anh có về ăn cơm không”. Michael nhìn Letitia một cái, sau đó tiến đến vài bước, cách Pauline gần hơn, giọng nói nhỏ đến gần như không nghe thấy, “Có lẽ không về, Pauline”.
Lúc nói chuyện, anh thêm cả tên cô vào, cô thấy rất buồn. Anh nói rất khẩn thiết và cũng rất ân cần, dường như anh muốn từ từ nói ra tin xấu này. Cô thấy mình bị sốc, nhưng lại nói với vẻ chẳng màng bận tâm: “Được!”.
Vẻ mặt Pauline thư giãn hơn một chút, cô nói: “Hay quá! Tốt thật! Anh ở ngoài cả đời đi!”. Giọng cô nghe như là giọng của người phụ nữ điên, háo hức, ngang tàng. Cô xoay một vòng, sau đó đi ra khỏi cửa hiệu.
Pauline chẳng kể với ai chuyện này cả.
Cô dọn dẹp tủ và ngăn kéo. Cô chuẩn bị bữa tối, nhưng chỉ mình Pagan ăn. Pauline hỏi. “Ông đâu ạ?”.
“Ông họp”. Cô trả lời.
Nó có vẻ tin câu trả lời này, tuy trước giờ Michael chưa từng đi họp.

Ăn tối xong, Pagan xuống dưới nhà xem ti vi. Pauline ngồi trên ghế salon ở phòng khách nhìn về hướng cửa kính. Lúc cô ngồi đó, màn đêm đã buông xuống, nhưng cô không mở đèn. Cô dùng ngón tay quấn một góc áo len, vòng này đến vòng khác, rồi nhìn hàng cây bên kia đường. Ti vi phát ra tiếng bò con kêu gào lẫn tiếng pháo súng. Cô biết mình nên xuống nhà hỏi xem Pagan có bài tập không, đọc truyện hoặc chơi vài ván cờ với nó, nhưng cô không làm thế.
Khi đèn xe phía trước rọi vào nhà, cô cảm giác tim của mình đang đập mạnh. Cô nhớ đến lời Michael nói tối hôm qua, “Tựa như tất cả máu đều chảy về huyết quản anh vậy”. Cô mở một cuốn tạp chí ra, khi anh bước vào, trông cô như ngồi đọc sách trong bóng tối. Michael mở đèn, nhìn Pauline. Cô nheo nheo mắt trước ánh đèn.
“Anh về lấy quần áo”, Michael nói. “Ồ”.
“Còn nữa, anh muốn sắp xếp chuyện Pagan”. “Sắp xếp?”….
“Anh sẽ không bỏ nó. Chúng ta nên bàn xem lúc nào có thể gặp Pagan”.
“Ồ!” cô nói: “Anh muốn gặp nó lúc nào cũng được! Nuôi nó suốt đời đi, nếu anh muốn! Em có thể thu dọn đồ đạc cho nó chỉ trong một thoáng”.
“Được”, Michael nói rồi nhún vai, “thế thì tốt quá”. “Không, chờ đã! Không thể như thế!” cô đứng dậy, ôm cuốn tạp chí trước ngực. “Ồ, Michael”, cô la lên: “Sao chúng ta cứ phải thế chứ?”.
Anh nghĩ một lúc, rồi nói: “Anh không biết”.
Cô thấy được đây là sự thật. Với họ, đây đều là sự thật. Cô lại lún mình trong ghế salon, anh hơi do dự, nhưng cuối cùng vẫn quay người đi về phòng.
Mỗi âm thanh anh phát ra cô đều biết là chuyện gì mà không cần đến đó xem. Cầu thang gác xép thông thẳng đến cửa sập ở nóc đại sảnh, anh loạng choạng đi lại hai lần, vụng về va chiếc vali vào cầu thang gỗ. Ngăn kéo trong phòng ngủ mở ra lại đóng vào, móc áo trong tủ kêu cọt kẹt, tủ đựng thuốc trong phòng tắm cũng mở ra đóng vào, sau đó anh đến phòng khách. Ti vi vọng ra tiếng kêu của bò con, nhưng cô vẫn nghe thấy tiếng lầu bầu. Pagan chẳng nói gì, có lẽ nó nói quá nhỏ, nên không nghe thấy. Michael bộc lộ tình cảm với cháu ngoại nhiều hơn với con mình. Lúc này từ phòng khách vọng đến tiếng bước chân, ngày càng nặng nề, sau đó lại leo lên cầu thang. Khi Michael xuất hiện ở hàng lang phòng khách lần nữa, tay phải anh cầm một chiếc vali, vai trái đeo một cái balô, dưới cánh tay trái còn kẹp một chiếc túi nhựa.
“Anh muốn cuối tuần đến đón Pagan”, Michael nói, “sáng thứ bảy anh đón nó, tối chủ nhật đưa nó về, nếu em đồng ý”.
“Đưa nó đi đâu?”, cô hỏi.
“Anh thuê một căn hộ trong chung cư mới đối diện cửa hiệu”.
Thật buồn cười, cô mất vài giây suy nghĩ xem đó là chung cư nào.
“Thứ sáu anh dọn đến đấy”, Michael nói, “trước lúc đó, anh ở khu Hilton trên đường Colts, nếu em cần liên lạc với anh”.
“Hilton!”, cô gần như kêu lên, “tốn mất bao nhiêu tiền!”. “Tốn bao nhiêu tiền có liên quan gì sao em?”, anh hỏi.
Câu này làm cô hiểu chồng mình thật sự muốn rời khỏi mình.
Sau bao nhiêu năm chung sống với nhau, cô thực sự chẳng biết họ chia tay nhau vì vấn đề gì!
Michael lại tần ngần một lúc, sau đó quay người ra sảnh lớn. Cô nghe tiếng khóa cửa. Một lúc sau xe anh bật đèn, lái đi. Cô có cảm giác mất cân bằng, sắp trượt ngã. Thậm chí trong khoảnh khắc đó, cô chẳng biết vừa xảy ra chuyện gì.
Hết thứ năm, đến thứ sáu. Cô vẫn chẳng kể với ai: bạn bè cũng như con mình, thậm chí cả người thân. Dù thế nào, họ đều bận rộn với cuộc sống của mình. Cô nhớ đến những ngày Lindy bỏ nhà đi: tốt nhất đừng nói những điều đó, nói ra nó sẽ trở thành sự thật.
Cô nhìn thấy mỗi người xa lạ đều như thấy Michael, lúc Lindy bỏ nhà đi cô cũng có cảm giác này. Cô nghiệm ra rằng, khi bạn tìm kiếm một ai đó, bạn sẽ tưởng tượng mọi người là người bạn đang tìm.
Không khí trong nhà im lặng đến lạ kỳ, mọi âm thanh đều bị đè nén, Pauline thấy căn nhà này chỉ thích hợp với những người cô đơn. Cô cố gắng không ở nhà, mỗi ngày đều tìm gì đó để làm, mãi đến lúc đón Pagan tan học. Cô chưa từng tận tâm tận lực với những chuyện vụn vặt như thế, chẳng hạn: thay vòi sen; quét dọn những thứ chất đống dưới gốc cây; tìm một miếng gạch men vuông thay cho miếng đã nứt trên bếp. Lúc đến Safeway mua bữa tối, cô phát hiện trước đây mình quen với việc Michael mang thức ăn từ cửa hiệu về nhà, bản thân cô không ý thức được thức ăn lại đắt đến thế.
Giờ tan trường, cô đi đón Pagan. Khi cả hai cùng bước vào cửa, căn nhà như lại có sinh khí. “Cháu đói rồi!”. Pagan nói, “Cháu khát nữa!”, “xem cháu làm những gì trong giờ mỹ thuật! Chúng ta có thể lồng nó vào khung không?”, “Bánh quy của ai thế ạ?”.
Có một đôi lần, cô thử nói với Pagan, Michael không sống ở đây nữa. Nhưng cậu bé chỉ “dạ” một tiếng, sau đó tiếp tục tìm đồ trong hộc tủ để công cụ.
“Cháu biết đấy, ông muốn ở một mình một thời gian”. “Bà có thấy ống hút dài cong cong của cháu không?”, Pagan hỏi.
“Trong máy rửa chén bát. Cháu biết mọi người thường làm thế, đi nghỉ một mình, nhưng điều đó không có nghĩa là ông không yêu cháu”.
“Giống như bố của Beth Ann”. Nó nói. “Beth Ann?”.
“Bố của Beth Ann lại tìm một mẹ mới”.
“Một mẹ mới… Ồ, ông không bao giờ…”.
“Máy rửa chén bát ở đâu ạ? Sao tìm mãi mà không thấy ống hút của cháu!”.
“Pagan, tìm ở cái giá phía trên cùng xem”. Pauline trả lời. Cô đã từ bỏ việc giải thích với nó.
Pagan là đứa trẻ rất đáng yêu, làn da màu ô liu, mái tóc đen sáng bóng như thủy tinh, mắt màu đen láy, Pauline rất yêu nó! Nhưng đôi lúc nó quá trầm lặng, trong lòng như luôn chôn giấu điều gì đó, lại thường khép kín bản thân, cô thấy hơi thất vọng. Thậm chí cô mong nó suy sụp, khóc lóc trong vòng tay của cô, để cô an ủi nó.
Tối hôm đó, sau khi Pagan lên giường, Michael gọi điện đến. “Em khỏe không?”, anh lịch sự hỏi.
“Khỏe, cám ơn anh. Còn anh?”, Pauline hỏi.
“Anh vẫn khỏe. Mai khoảng 8 giờ anh đến đón Pagan được không?”.
“8 giờ, được”. Cô nói. “Vậy tạm biệt em”. “Tạm biệt”.
Cô gác máy.
Giờ cô đã nhớ ra tối hôm đó, cô nói rất nhiều, và còn lớn tiếng đuổi anh ra khỏi căn nhà này.
Nên anh ấy ra đi! Anh còn lựa chọn nào chứ? Tự nhiên anh ra ở bên ngoài! Tất cả đều là lỗi tại cô, cô phải tự cứu vãn tình thế này.
Sáng thứ bảy cô dậy rất sớm, mặc một chiếc áo xanh cổ tròn mua trong đợt hàng giảm giá. Nhìn trong gương, chiếc áo này trông quá nổi bật. Thế rồi cô đổi sang mặc quần đen và chiếc áo rộng màu đỏ tươi. Cô chải tóc, trang điểm, ngắm nghía mình trước gương hết lần này đến lần khác. Chiếc áo đỏ tươi là ý hay, chẳng những rất hợp với màu son của cô, hơn nữa còn giúp sắc mặt cô trông tươi tắn hơn. Đây là màu cô mặc vào lần đầu họ gặp nhau.
Mỗi khi thấy chán ngán Michael, Pauline đều ép mình nhớ đến anh vào lần đầu gặp mặt. Anh băng vết thương cho cô, làn môi mím chặt. Vấn đề của họ là giờ đây họ quá hiểu nhau, chỉ khi nhớ đến dáng vẻ của Michael trước đây, cô mới nhớ được tại sao mình lại yêu anh.
Cô đi vào ở đầu kia hành lang, dừng lại một lúc tại phòng Pagan hỏi: “Cháu dậy chưa?”.
“Cháu dậy ngay đây”. Pagan lầu bầu dưới đống chăn mền lung tung.
“Mau lên, cháu yêu. Nửa giờ nữa ông đến đấy”.
Trong bếp, cô lăng xăng với bình lọc nước, lấy bánh mì trong lò nướng điện ra, rót nước cam cho Pagan. “Pagan!”, cô gọi, “Ra ăn sáng đi!”.
“Cháu đến ngay”.
Pauline đi xuyên qua bếp đến đại sảnh, cô mở cửa, đặt miếng nệm lót lên trường kỷ. Khi trở vào bếp, cô thấy món quà mừng kỷ niệm ngày kết hôn của họ dựa trên tủ. Cô lấy nó mang vào đại sảnh, đặt trên chiếc bàn ở đó, góc độ đặt làm mọi người vào nhà đều thấy. Dưới ánh nắng ban mai, màu sắc hai tấm ảnh càng nhạt hơn, vả lại, Pauline lúc trẻ trông khá xinh đẹp. Cô lại có vẻ kiên cường hơn anh.
“Bà ơi, bà đâu rồi?”, Pagan ở trong bếp gọi to.
“Bà đến đây, Pagan”. Cô nói, nhưng lại trở vào phòng ngủ. Cô lấy lược chải đầu, mãi đến khi tạo được kiểu tóc trông rất trẻ trung.
“Hôm nay là thứ bảy đấy, bà ơi! Thứ bảy cháu phải uống Coca!”.
“Ồ, ừ nhỉ, để bà lấy cho cháu”.
Nhưng, cô đang cởi khuy thay áo, rồi lại lấy một chiếc áo mềm mại hơn có in hình những búp hồng.
Michael đến, trễ hơn 7 phút so với thời gian anh hẹn. Cô lại thay chiếc áo đỏ lúc nãy, những dịp thế này mặc chiếc áo có in hình búp hồng là một sai lầm. Cô đứng ở cửa, mỉm cười mở màn che khi anh bước vào.
“Chào anh!”, cô nói. “Chào em!”.
“Pagan đang thu dọn đồ đạc!”.
“Được”. Michael nói. Anh bước vào, mặc chiếc áo sơ mi màu xanh đã lâu không mặc, trông anh gọn gàng năng động hơn, giống như một doanh nhân.
“Anh cần túi ngủ không?”, cô hỏi.
“Không cần đâu, ở đó có giường cho khách”.
“Nhà anh sửa sang rồi à?”.
“Ừ”, anh nói, “chỉ sửa sang những thứ cơ bản nhất thôi”.
Michael không nhìn vào mắt cô, anh nhìn chỗ khác, tay đung đưa chùm chìa khóa, Pauline cũng cố tránh đi đến trước tầm mắt của anh.
“Trong khi chờ thằng bé, anh uống cà phê không?”, cô nói.
“Không cần đâu, cám ơn. Anh thấy chúng ta nên hoán đổi tập chi phiếu”.
“Tập chi phiếu?”, cô nói.
“Ý anh là, chuyện này em đóng tiền. Anh chắc không có gì là em không làm được. Anh đã viết mấy tờ chi phiếu phải lưu giữ, bao gồm tiền cọc nhà và những thứ khác”. Anh đưa tay vào túi áo, lấy ra một tờ giấy. “Em cầm lấy, anh viết ra cả rồi”.
Cô cầm tờ giấy đó, nhưng mắt cứ nhìn anh chằm chằm.
“Anh dùng tiền lương tháng sau mở một tài khoản mới, nhưng phải mấy hôm nữa mới có thể rút được tiền”. Anh nói.
“Em biết rồi”.
“Còn chuyện gì cần thảo luận không?”.
Pauline trầm lặng vài giây, nói: “Xin lỗi, em đuổi anh đi, thật ra…”.
Cả hai lại im lặng một lúc, rồi Michael nói: “Anh hiểu”. “Em không phải có ý đó. Sao anh lại nghĩ em có ý đó kia chứ? Chỉ vì anh làm tổn thương em. Anh nói cứ như chúng ta bên nhau chưa từng vui vẻ, anh biết tại sao em lại thế mà!”.
Anh cố đứng lại đó nghe cô nói hết, nhưng không trả lời. Cuối cùng anh cũng dừng không đung đưa chùm chìa khóa nữa. Hành động này cho Pauline một cảm giác thắng lợi, cô thấy mình chực khóc: “Chúng ta lấy nhau 30 năm rồi, Michael. Chúng ta cùng trải qua nhiều chuyện thế! Anh không thể vì một chuyện nhỏ mà vứt hết tất cả sang một bên!”.
“Không phải tại những lời đó”, Michael có vẻ kiên định, “mà là cảm nhận của anh khi em nói những lời này”.
Cô chờ anh nói tiếp.
“Khi em bảo anh ‘rời khỏi’, anh thấy mình được… giải phóng. Anh nghĩ, tại sao chứ? Phải, anh có thể đi, chẳng phải sao? Đấy là ý hay! Với anh tựa như vừa trút được gánh nặng”.
“Gánh nặng?”.
Nước mắt cô ngừng chảy, nhưng mặt vẫn còn ướt. Michael chẳng thấy gì cả, anh đang nhìn về bên trái cô.
Trầm tư một lúc, anh nói: “Anh không biết sao mình lại có được quyết định này. Nhưng giờ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Anh quá già rồi, không thể làm lại cuộc đời. Nhưng cuộc sống bi thương của chúng ta cũng là một sự lãng phí, muộn vẫn hơn mãi không làm, cũng như mẹ anh thường nói, đưa tiền giả rồi thì chẳng cần phải đưa tiền thật nữa, sau khi sống không tốt cũng chẳng thể sống tốt được…”.
“Vâng, chắc chắn em không muốn làm gánh nặng cho anh”. Pauline nhấn mạnh từng chữ một.
Bây giờ, Michael nhìn Pauline.
“Thượng đế ơi, anh chẳng có chút tinh thần trách nhiệm gì sao? Không, quả thật anh nên ra đi, Michael, em chẳng mong anh sẽ quay về nữa. Đi đi!”.
Pagan gọi: “Bà ơi?”.
Nó đang đứng ở cửa bếp, ôm một túi chất đầy đồ. Michael nói bằng giọng ôn tồn: “Ồ, cháu ông vẫn khỏe chứ?”.
“Bà sao thế ạ?”.
“Không có gì, cháu ạ. Chuẩn bị lên đường rồi chứ?”. Pagan nhìn Pauline. Cô gượng cười một cái, nói: “Tạm biệt, cháu yêu”.
Sau khi hai ông cháu rời khỏi, cô thất thần ngồi xuống trường kỷ. Rõ ràng chân cô đang run, hơn nữa mặt cũng nóng bừng.
Cuối tuần, cô kể sự việc với mọi người. Điện thoại là sự sống, cũng là nguồn oxy duy nhất của cô. Xem ra, nếu hai phút không liên lạc với người khác, cô sẽ khó thở. Cô bắt đầu gấp quần áo, nhưng bỗng nhiên, chẳng biết tại sao, cô lại gọi điện cho chị cả. “Em không biết phải làm sao, Donna. Em sống sao đây? Những ngày tháng này em biết sống sao? Anh ấy là cuộc sống của em!”.
Donna bảo mọi chuyện sẽ dần nguôi ngoai thôi: “Pauline, chớp mắt chị sẽ quên ngay những gì em nói với chị, vì sáng sớm mai hai đứa lại trở về bên nhau như trước đây”.
“Chị nghĩ thế sao?”, Pauline hỏi. Cô vui lên, sau khi cúp điện thoại, cô thu dọn máy rửa chén bát. Nhưng cô lại bắt đầu gọi điện cho Katie Vilna trong bếp, kể cho cô ấy nghe sự việc.
Katie nói: “Ồ, Poll. Sao anh ấy lại như thế?
Ồ, đúng là kẻ xấu xa! Hai bạn kết hôn rồi mà!”.
“30 năm rồi!”, Pauline vừa nói vừa vén tay áo lau nước mắt.
“30 năm! Tưởng tượng mà xem! Đến nước này, bạn không nên nói thế, anh ấy luôn giả nhân giả nghĩa. Bạn biết không? Ôn hòa, bình tĩnh và tốt bụng, chẳng còn ai trông tốt hơn anh ấy đâu. Mình không hiểu sao bạn chịu đựng được lâu thế. Lần kết hôn lâu nhất của mình chỉ có 4 năm, lần thứ hai với Harold, ba lần cuối và nửa lần gần đây mình có thể đếm trên đầu ngón tay!”.
“Nhưng… Harold…”, Pauline gần như khóc thành tiếng. Harold và Michael là hai người khác nhau, cô muốn nói như thế nhưng không đủ can đảm.
Wanda muốn biết tại sao họ cãi nhau, Pauline nói: “Ơ… chẳng liên quan gì đến chuyện này. Thực tế, thỉnh thoảng chúng mình cãi nhau không có lý do. Có một lần, chúng mình cãi nhau chỉ vì trời quá lạnh. Mình nói, đó là câu chuyện của các bà cụ kể. Anh ấy bảo chẳng biết mình đang nói gì. Mình bảo anh ấy không có quyền. Cuối cùng chúng mình đánh nhau, mấy ngày liền không nói chuyện!”. “Trước đây mẹ từng nói hôn nhân giống như những cái cây”, người chị thứ hai nói với Pauline. “Còn nhớ mẹ nói sao không? Cái cây này gả cho một cái cây khác, một khoảng thời gian sau, chúng sẽ dung hòa với nhau, dù tổ hợp này phi lý thế nào, cây đào lấy cây táo hoặc cây anh đào lấy cây mận. Dù thế, nếu em nhất quyết chia cắt chúng sẽ làm chúng chết khô”.
“Megan, sao chị nói với em chuyện này? Sao chị không kể với anh ấy? Chị nghĩ em muốn chia tay thế sao? Em chẳng liên quan gì đến chuyện này! Chính anh ấy bỏ nhà đi! Anh ấy lại có một căn hộ mới! Chính anh ấy gây tổn thương cho hôn nhân của chúng em, vậy mà anh ấy chẳng màng gì cả!”.
Dù thế, sau khi cúp máy, đầu óc cô vẫn nghĩ đến việc chị cô nói. Cô cảm thấy mình bị tổn thương, lòng cô giờ đây rất đau đớn.
Cô tưởng tượng họ là hai cây già héo khô trên vực thẳm chịu mưa chịu gió, hơn nữa đất ở đó lại rất cằn cỗi.
Mimi Drew nói: “Rất xin lỗi, nhắc đến chuyện này, tôi thấy đau lòng, Pauline, nhưng tôi thấy cô hơi… nắng mưa thất thường. Thỉnh thoảng mọi người nghĩ đây là một sự khiêu chiến. Nhưng có lẽ Michael chỉ muốn tạm thời nghỉ ngơi thôi”.
“Tạm thời nghỉ ngơi! Vậy còn tôi? Phải chăm sóc căn nhà và đứa cháu! Chẳng lẽ tôi không cần tạm thời nghỉ ngơi sao?”.
“Dĩ nhiên, chị cũng cần, tôi biết, Pauline”.
Pauline gác điện thoại trong bếp cái rụp, trở về phòng. Cô định lên giường ngủ, nhưng quần áo mới xếp một nửa, cô lại tiếp tục công việc. “Cô ấy biết gì chứ?”. “Người vợ lý tưởng của đàn ông là thế nào! Không được ngủ lúc tức giận, mỗi ngày đều phải khen chồng đôi lần…”.
Sally thì bảo: “Con không hiểu, bố ở đâu? Sao bố tìm được nhà nhanh thế? Mẹ có biết vợ chồng anh con mất bao nhiêu thời gian mới thuê được một căn nhà trong khả năng chi trả không?”.
“Mẹ không biết, mẹ không quan tâm chuyện này!”, Pauline vừa khóc vừa nói, “Chuyện bố xử lý nhà cửa làm mẹ yên tâm nhất!”.
“Ồ, đúng thế, con xin lỗi mẹ, con vô tâm quá. Con chỉ nghĩ… mẹ biết đấy, đây chỉ là chuyện tạm thời. Đâu còn là lần đầu của bố mẹ… George đi công tác rồi, con sang chơi với mẹ chút nhé?”.
“Không cần đâu, mẹ không sao. Dù vậy, mẹ vẫn cám ơn con”. Pauline nói. Giờ cô không muốn người khác thấy mình khóc đến mắt sưng húp, nhất là cô con dâu mình.
“Con có thể dắt bé JoJo theo, nó giỏi làm bà nội vui nhất!”.
“Thời gian sau hãy qua chơi nhé”. Pauline vội gác máy. Sau đó Sally gọi cho Karen. 5 phút sau, Karen gọi cho Pauline. Lúc đầu Pauline không nói gì với cô bé, vì cô thấy trong chuyện này chắc chắn Karen đứng về phía Michael. Nhưng thực tế Karen chẳng đáng về phía ai, cô nói thẳng: “Sally bảo bố mẹ lại cãi nhau”.
“Không phải cãi nhau, Karen. Bố mẹ chia tay rồi, hôn nhân của bố mẹ đã kết thúc”.
Kể sự việc lại làm Pauline rơi lệ, tuy cô mong muốn mọi người trông mình như chẳng có chuyện gì xảy ra. Cô sụt mũi một cái, Karen thở dài nói: “Được rồi, mẹ cứ nghĩ thế đi!”, sau đó, cô bé đổi sang đề tài một cách vô tình.
“Bố con không nói chuyện này sao?”, Pauline hỏi, “Lẽ nào ông muốn giấu các con?”.
“Bố không nói với con”, Karen nói, “một giờ trước bố gọi cho con, hỏi con có muốn cùng bố và Pagan đi xem phim không, con còn tưởng bố gọi từ nhà!”.
Sherry gọi điện thoại đến, cô là em út của Pauline, thế nên, chuyện gì cô cũng biết sau cùng. Vừa nhấc máy cô liền nói: “Em biết hết rồi. Em nghe Megan kể? Chị kể với Donna, Megan, còn em thì sao chứ?”.
“Điện thoại của em bận”. Pauline nói dối.
“Ồ, phải, chị hiểu mà, phải không?”. Sherry có vẻ ngán ngẫm, “Chúng ta đều không có anh em, chúng ta chẳng biết đàn ông nghĩ gì, chúng ta mãi không thể đoán được lòng của đàn ông”.
“Chúng ta có bố”. Pauline nói.
Nhắc đến bố làm cô thấy đau lòng, vì cô sợ ông biết tin này. Trong số các con rể, bố quý nhất là Michael.
“Nhưng ngày nào bố cũng đi làm”, Sherry nói, “chúng ta không thể nhìn rõ mọi chuyện”.
“Có lẽ em nói đúng”, Pauline buồn bã nói, “chị không hiểu đàn ông. Chị cũng chẳng thích họ. Em có thể cho chị biết tại sao Michael làm thế không? Hơn nữa tại sao lại là lúc này? Sao không phải nhiều năm trước đây, nếu anh ấy bất mãn thế? Lúc đó, chị còn trẻ, còn xinh đẹp, còn có thể tìm người khác!”.
“Chúng ta cũng chịu ảnh hưởng cuộc hôn nhân hạnh phúc của bố mẹ”, Sherry nói, “hôn nhân của họ quá đơn giản. Nó chẳng ích gì cho chúng ta, chị hãy tin lời em! Bố mẹ chẳng giúp chúng ta chuẩn bị gì, trong khi thực tế thì hôn nhân quá phức tạp”.
“Ồ, Sherry, hôn nhân của em cũng rất khó khăn sao?”. “Không sao tưởng tượng nổi! Nó là nỗi giày vò cả cuộc đời!”.
“Thử nghĩ xem”, Pauline nói, “chị kiên trì lâu thế, cả bản thân chị cũng thấy bất ngờ”.
“Giờ chị khỏe rồi, chị rất may mắn”.
“Chị may mắn?”, Pauline ngậm nước mắt mà cười.
Khi George gọi điện đến hỏi: “Chuyện con nghe nói rốt cuộc là sao thế mẹ?”, giờ đây Pauline đã có thể bình tĩnh hơn. “Mẹ rất ổn, thật đấy”, cô nói, “lúc gọi cho Sally chắc giọng mẹ nghe rất thảm, nhưng giờ đã bắt đầu bình tĩnh lại rồi, thế này có lẽ cũng tốt”.
“Bố mẹ chỉ cãi nhau thôi, chứ không phải chia tay thật chứ”.
“Không phải cãi nhau, bố con thuê một căn hộ mới, mở một tài khoản riêng, hơn nữa còn muốn cuối tuần đón Pagan qua đó chăm sóc”.
“Trời, hoang đường quá… con thấy mình nên nói chuyện với bố”.
“Ồ, George, con làm thế thật sao? Con thấy con có thể làm thế sao? Mẹ biết bố nghĩ là mẹ đuổi bố đi, quả thật mẹ có làm thế, nhưng đó chỉ là lúc nóng giận nhất thời thôi”.
“Con muốn bố hiểu một số việc, sau 30 năm kết hôn”. George nói với giọng nặng trịch làm Pauline hơi buồn cười.
Cô nghĩ Michael chắc rất giận, vì cô kể rắc rối của họ với mọi người.
Giờ cô thấy mình đã sai, cô không nên ví hôn nhân của mình là một cái cây. Nhưng nó giống gì? Cái gương vỡ nát? Tờ báo xé rách?
Chủ nhật, Pauline không gọi điện thoại. Cô đến nhà thờ, Michael không đi với cô như trước nữa. Cô về nhà, ăn trưa, rồi thay một bộ đồ thoải mái, ra bón phân cho cây đỗ quyên. Người hàng xóm Mamie Smith vẫy tay với cô, chào: “Cô khỏe chứ?”.
“Tôi rất khỏe!”, Pauline trả lời với giọng vui vẻ.
Tiếp đó cô quét dọn nhà cửa, rồi bỏ những thứ Michael không mang đi vào một chiếc thùng giấy: số quần áo ở tiệm giặt ủi; quần áo của anh rải rác ở các tủ, áo thể dục, giày đi tuyết; số giấy anh để trên bàn vào tối hôm đó; còn có trứng gà, chanh, tương đậu phộng, hambuger… Cô bỏ đồng tiền anh để trong đĩa vào túi mình, trông có vẻ đắc ý, tựa như cô may mắn lấy lại được thứ lẽ ra thuộc về mình.
Đó không phải chiếc thùng to, bởi vì quần áo của đàn ông đơn giản hơn phụ nữ nhiều. Thử nghĩ xem, nếu cô dọn đi, cô có bao nhiêu đồ đạc chứ! Khi nghĩ đến căn hộ mới của Michael, cô rất đau lòng, chỉ có những vật dụng cơ bản nhất và một tủ áo, ngoài ra chẳng có gì cả, nếu đi du lịch, mọi thứ trong đó có thể chứa trên một chiếc xe.
Thế là đủ.
Cô nhắc nhở mình, anh thất bại: Khi cô đưa ra những ý kiến tuyệt đối có lý, chẳng hạn, về muộn hơn giờ anh đã hứa một tiếng, anh sẽ nói “Tại em ăn kiêng, nên dễ cau có, chứ không phải tại anh”. Mỗi khi họ thay quần áo chuẩn bị ra ngoài, anh luôn hối thúc cô, nhưng sau khi cô chuẩn bị xong, anh lại biến mất. Còn lúc cãi nhau, anh luôn vờ rất bình tĩnh, khác hẳn với “sự xốc nổi” và “nóng nảy” của cô.
Điện thoại reo, cô chạy qua nghe. Nhưng đấy chỉ là Sarah Vine gọi thông báo sẽ đến muộn. Pauline trả lời: “Dĩ nhiên là được, thời gian của tôi rất linh hoạt”. Nhưng sau khi nói tạm biệt, cô lại muốn từ bỏ công việc tình nguyện này, mà tìm một công việc có thu nhập. Tình hình tài chính của cô thế nào? Michael còn cấp dưỡng cho cô không? Anh còn cho cô… ôi, trời ạ, phí sinh hoạt không? Cụm từ “phí sinh hoạt” nghe kinh khủng thế, cô chưa từng nghĩ có lúc mình lại nói tới điều đó.
Pauline đang nhìn ra ngoài qua cửa kính, thấy bố cô lái xe đến. Chiếc xe Buick đen bóng bẩy của ông chạy dọc theo con đường, sau đó rẽ từ từ vào nhà, tựa như một chiếc du thuyền to lớn ì ạch. Ông dừng xe bước xuống, vỗ nhẹ vào túi áo com lê, sau đó đóng cửa xe, bắt đầu đi nhanh về hướng cô. Suốt bao năm nay, ông luôn bước đi với tốc độ này, tuy đã ngoài 80 tuổi, lưng hơi khom, vóc người nhỏ, hơn nữa còn bị viêm khớp, nhưng tất cả đều vì cô – vì sự việc xảy ra trong hôn nhân của cô làm ông thất vọng. Chắc chắn ông nghe chuyện này từ chị hay em của cô. Nếu chẳng có chuyện gì, ông tuyệt đối không đến mà không báo trước.
Nhưng khi Pauline mở cửa, ông chỉ nói: “Con khỏe không, con yêu?”, cứ như chẳng có chuyện gì xảy ra vậy. Ông đi lướt qua cô, bước chân nặng nề chậm rãi, tay buông ở hai bên, hướng về phòng khách.
“Sao hôm nay bố đến đây?”, cô đi theo sau ông, vừa đi vừa hỏi, cô nghĩ có lẽ tốt nhất nên nói toàn bộ sự thật.
Ông ngồi trên chiếc ghế tay vịn, kéo thẳng quần. Sau đó ngẩng đầu, nhìn cô với ánh mắt ôn hòa và thẳng thắn: “Ồ, bố chỉ muốn ghé thăm con gái của bố, lẽ nào không được sao?”.
“Dĩ nhiên là được”, cô nói, “bố uống cà phê nhé?”. “Không cần đâu, cám ơn con. Dạo này bố đang giảm cân, lại ngủ không ngon”.
Cô xem đây là những lời trách móc, nên vờ như không hiểu. “Nước hoa quả nhé?”, cô nói, “Hay nước ngọt?”.
“Bố giờ chẳng muốn uống gì cả”.
Ông lại thở dài một tiếng, cô ngồi đối diện bố mình, chờ nghe ông nói.
“Pagan đâu?”, ông hỏi.
“Nó đi xem phim với Michael”.
“Ồ? Hai ông cháu đi xem phim rồi ư?”. “Bố biết đấy, con cũng chẳng hỏi”, cô nói.
Cô không muốn nhắc đến chuyện này trước.
“Hôm qua bố ngủ không được dù chỉ hai tiếng”. Ông nói với cô.
“Con rất tiếc khi nghe bố nói thế”.
“Tối hôm trước, có lẽ bố ngủ được ba tiếng. Vừa ngủ nhưng lại thức dậy ngay”.
“Hình như con cũng chẳng ngủ được nhiều”. Bỗng nhiên cô nói. Cô nghĩ, ông là người bố rất hiểu lý lẽ, luôn ủng hộ và thông cảm cho cô.
“Lúc không ngủ được, con làm gì?”, ông hỏi, “Con ngồi dậy, hay vẫn nằm đó?”.
“Ơ… con vẫn nằm đó”.
“Bố cũng thế. Bố nằm đó, rồi bắt đầu suy tư”.
“Ồ, đúng thế, suy tư”.
Pauline nói nghe chua chát. “Suy tư là tệ nhất”. Ông khẳng định.
Cô im lặng không nói nữa, cuối cùng đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật rồi.
“Bố nhớ lại những lời nói làm mẹ con đau lòng. Mỗi khi mẹ con bất giác lặp lại lời bố nói, bố đều rất giận”.
“Nếu có ai đó tin rằng trong hôn nhân cả đời không nói một câu làm đối phương đau lòng thì quả họ là thần thánh”. Pauline nhún vai vẻ chán nản.
Trông ông hơi bối rối.
“Sao?”, cô nói, “Bố mong con là thánh nhân sao? Bố biết mà, những chuyện này còn có thể nhìn ở góc độ khác. Nếu không bị tác động, họ sẽ không tức giận”.
“Phải, nhưng mẹ con luôn không kiểm soát được bản thân, đó là bệnh của bà ấy”.
Pauline tần ngần. “Bệnh?”, cô nói.
“Con biết đấy, trước đây mẹ con hay đi lung tung, bố rất lo lắng. Hàng xóm cứ phải đưa mẹ về. Bố nói: ‘Doris! Bà đi đâu thế hả? Rốt cuộc bà bị cái gì chi phối thế?’. Sau đó, bố nhìn sắc mặt mẹ con. Trông bà ấy rất xấu hổ, giống như một đứa trẻ bị trách mắng, nước mắt giàn giụa.
Bà nói: ‘Xin lỗi, xin lỗi,’ sau đó bố thấy mình rất tệ hại. Có lúc mẹ liên tục hỏi bố 15 lần cùng một vấn đề, bố nói:
‘Bà à, tôi đã nói với bà…’, nhưng dĩ nhiên, đấy không phải nhẫn nại thật sự, đó là biểu hiện của sự cố tình. Bố biết mình đã làm mẹ con khó chịu”.
“Như thế là bố đã cố hết sức rồi”. Pauline nói với ông. “Tối hôm qua, bố nhớ ra, có một lần mẹ làm đổ sữa”, ông nói tiếp, “đó là ngày khó chịu vô cùng, khi bố mang cơm ra bàn, chờ mẹ ngồi vào ghế, cầm nĩa lên và… mẹ làm đổ ly sữa. Khắp nơi đều là sữa, đĩa thức ăn của bố, trên bàn, chân mẹ và cả sàn nhà nữa. Bố mím chặt môi không nói gì, vào bếp lấy miếng giẻ, sau đó trở ra, thở một hơi dài. Ngay khi bố lau sữa trên váy mẹ, mẹ đưa tay xoa đầu bố, nói: ‘Ông đúng là người chồng tốt của tôi’”.
Bố không nói nữa. Mắt ông nhìn xa xăm, hướng ra cửa sổ.
Pauline nói: “Ồ, bố”.
“Bố lo chết đi sẽ phải xuống địa ngục”. Ông nói, giọng nhỏ đến mức không nghe thấy.
“Bố không bao giờ xuống địa ngục đâu!”.
Pauline đứng dậy ôm lấy ông, nhưng ông tỏ ý bảo cô ngồi xuống. Ông vẫn còn nhìn ra cửa sổ, “Bố rất lo khi bố lên thiên đường, mẹ con sẽ nói: ‘Ông! Ông đối xử tệ với tôi thế, ông đến đây làm gì?’”.
“Chuyện đó tuyệt đối không xảy ra đâu”, Pauline nói, “không bao giờ. Con dám bảo đảm. Bố biết sự việc sẽ thế nào mà?”.
“Thế nào?”. Ông hỏi, nhưng giọng rất lạnh lùng.
Cô nói: “Bố ở đó, trên cầu thang dẫn đến thiên đường, bố nhìn lên trên, bất ngờ khi thấy cửa mở, mẹ đang chờ đón bố! Mẹ không già, cũng không đau bệnh, mẹ chính là cô gái bé nhỏ lần đầu bố gặp. Mẹ cũng rất phấn chấn, mẹ sẽ cười nói:
‘Anh đến rồi! Anh đến rồi! Mau vào đây!’. Bố sẽ hỏi: ‘Lẽ nào anh chẳng cần đến trình diện với ai đó hoặc vượt qua thử thách nào sao?’. Mẹ sẽ cười: ‘Ồ, trời ạ, không cần đâu. Anh đã vượt qua thử thách khó nhất ở đây!’. Sau đó mẹ nắm tay bố, đưa bố bước vào cổng. Con bảo đảm thế”.
Giờ ông đang nhìn thẳng vào cô. Ông nói: “Con là đứa con gái ngoan, Pauline”.
Lúc đó, cô thấy tim mình ấm áp.
Tối chủ nhật, Pauline chuẩn bị cháo lúa mạch nho khô cho bố, đây là món truyền thống của những gia đình Baltimore. Sau bữa ăn, ông tạm biệt con gái và về nhà. Rõ ràng ông vẫn chưa biết nhà cô xảy ra chuyện. Cô tiễn ông ra ngoài cửa, chờ ông lên xe, lái ra đường, rồi vẫy tay rất lâu, sau đó trở về phòng.
Chiếc thùng đựng đồ của Michael đặt trên trường kỷ ở sảnh lớn. Cô ôm chiếc thùng vào trong phòng khách. Sau đó cô quét dọn bếp, vừa làm việc vừa hát ngân nga. Cô thấy tâm trạng của mình rất tốt. Cô tưới nước cho chậu cây trên bệ cửa sổ, phơi giẻ lau trên vòi nước, sau đó tắt đèn trong bếp.
Khi chuông cửa vang lên, cô đang đi vào phòng khách. Cô biết đó là Michael nhưng sao anh ta lại làm thế nhỉ? Vì trong túi áo anh có chùm chìa khóa, chắc anh cố tình đây mà. Cô chậm rãi đi qua đại sảnh mở cửa.
Nhưng chỉ mình Pagan đứng đó, ôm balô căng phồng. “Đoán xem nào, bà ngoại!”, nó nói, “Nhà ông có một bể bơi đấy!”.
Khi Pagan vào nhà, Pauline nhìn qua nó thì thấy xe Michael đã lái đi, tựa như một chiếc tàu cũ không có màu sắc trong bóng đêm.
“Leo cầu thang lên sân thượng, bà sẽ thấy một bể bơi hoàn hảo, có ván nhảy và đủ mọi trang thiết bị”, Pagan nói, “nếu cuối tuần sau tiết trời ấm áp, cháu phải mang theo đồ bơi”.
Sau khi nó vào nhà, Pauline đóng cửa lại.
“Trong phòng ngủ còn có cả ti vi. Ông cho cháu xem thỏa thích trước khi đi ngủ”.
“Thế thì tốt quá”. Cô nói mơ màng. “Chúng ta có kem không ạ?”.
“Ở chỗ ông không có cho cháu ăn sao?”. “Ơ?”.
“Dĩ nhiên, chúng ta có kem”, cô nói, “nhưng không được vấy bẩn quần áo, nghe chưa cháu yêu?”.
Pagan đặt chiếc ba lô căng phồng xuống đất, rồi vào bếp. Pauline không đi cùng nó mà vào phòng khách. Cô không mở đèn, mà ngồi xuống ghế salon trong bóng tối, hai tay chống cằm nhìn thẳng về phía trước.
Từng hình ảnh xuất hiện trong đầu cô, xa vời nhưng cũng rất rõ nét. Cô mường tượng thấy Michael trong chiếc áo jacket carô mà anh mặc vào chiều hôm họ gặp nhau; cô thấy buổi sáng đầu tiên sau khi họ kết hôn, anh đang cạo râu trong nhà vệ sinh của khách sạn, đưa tay áp chop mũi sang một bên, sau đó cạo râu ở bên kia, động tác đó làm cô cười ha hả; cô thấy tay anh cầm một bó hoa lớn đi vào bệnh viện sau khi Lindy chào đời, nhiều hơn tất cả hoa trước đây cô thấy, cả một núi và hầu như che khuất khuôn mặt mắc cỡ, trẻ trung, gầy nhỏ và đầy vẻ sốt ruột của anh.
Trong trí nhớ của Pauline, những hình ảnh này tràn đầy ánh nắng, chúng làm tổn thương cô sâu sắc. Nhưng cô không khóc mà chỉ nghĩ về những ngày tháng đã qua. Có lẽ Michael nói đúng, trời lạnh quá nên tuyết sẽ rơi dầy.

Chương 6
Chớp mắt Pagan đã 13 tuổi, tháng 9 này là nó vào lớp 8 rồi. Không ngờ nó yêu thích thể dục thể thao thế, suýt chút nữa là vào được đội tuyển bóng đá Virginia. Pauline vốn định đưa Pagan tham gia trại hè nội trú, nhưng bỗng nhiên nó đòi học ghi-ta, nên cô đành cho nó ghi danh lớp bồi dưỡng nhạc hè ở “Trường nghệ thuật Maestro” trên đường Falls.
Lớp hè bắt đầu lúc 10 giờ sáng, nhưng 9 giờ Pauline đến văn phòng rồi. Lúc này cô đang làm nhân viên tiếp tân bán thời gian nên Pauline đành gọi điện cho Michael, hỏi anh có thể đưa Pagan đi học mỗi sáng không.
“Chiều em có thể ghé đón Pagan, nhưng mỗi sáng em cần anh đưa nó đến trường. Trên đường đi làm em sẽ đưa nó ghé qua nhà anh”.
“Đưa đến cửa hiệu tốt hơn, vì 8 giờ sáng anh ra đó rồi”. “Được! Vậy thì đưa nó đến cửa hiệu. Cám ơn anh!”, Pauline cúp máy.
Dường như giờ đây, cuộc trò chuyện của Michael và Pauline ngày càng đơn giản ngắn gọn. Với Michael, đây quả là một sự giải thoát. Vì anh chẳng dám nhớ đến những lúc cãi nhau trước đây. Nhưng không hiểu sao đến giờ Michael vẫn không tài nào thích ứng được những thay đổi này, nên anh cầm ống nghe đứng thừ người ở đó một lúc.
Lớp hè bắt đầu vào thứ hai. Với Pagan, sự việc tiến triển thuận lợi hơn nó nghĩ. Tối chủ nhật nó có thể ngủ lại nhà Michael, chứ Pauline không rước nó về. Như thế, sáng thứ hai, Michael ra cửa hiệu trước, 9 giờ rưỡi về bãi đậu xe trong chung cư đón nó. Pagan đứng chờ ở đó từ sớm, nó dựa nghiêng người trên ghế dài, tay gảy chiếc đàn ghi-ta mới toanh và mắt nhìn nó tràn đầy hy vọng. Mùa đông năm ngoái, bỗng chốc cậu phát triển chiều cao rất nhiều, giờ dáng cậu lêu nghêu, mái tóc vừa dày vừa nhiều hầu như che cả khuôn mặt. Sau khi nhìn thấy Michael, nó đứng dậy ngay, rồi chào anh bằng từ “Hi” mà nó rất thích. Nó mặc quần jeans màu xanh và một chiếc áo thun cực to, trên quần áo còn có rất nhiều lỗ, lúc này Michael cầu mong “Trường nghệ thuật Maestro” đừng có yêu cầu nghiêm khắc về trang phục.
Trong xe nóng đến phát bực dưới cái nắng oi bức. Dù mở máy lạnh tối đa vẫn chẳng thấm vào đâu, thế là họ mở luôn hai cửa sổ phía trước.
“Cụ thể trường ở đâu?”, Michael lớn tiếng hỏi. “Cháu không biết!”.
“Đi về hướng Nam hay hướng Bắc đường Falls?”. Pagan nhún vai, rồi lại gãy đàn. Thực tế, nó cũng chẳng biết.
“Trước đây cháu chưa từng đến trường đó sao? Hay…”. “Cháu chẳng biết gì cả!”.
“Vậy ai nói cháu biết về trường này?”.
“Hình như là bạn của bà”.
Michael đành đi thử, anh rẽ về hướng Bắc, đi ngang qua rất nhiều căn nhà cũ nát và một hàng cây um tùm.
Nhanh hơn dự đoán, chẳng mấy chốc họ thấy một bảng đường màu trắng chỉ về hướng ngược lại, viết bằng phấn màu đỏ xanh cam: “Trường nghệ thuật Maestro, lớp 9 – 12, thành lập năm 1974”. Michael thốt lên “Chết tiệt”, sau đó quay xe ngược trở lại ngã tư lúc nãy. Họ lái thẳng về trước mấy trăm mét, đến một tòa nhà rộng lớn nhưng lại rất cũ, trên mái nhà có biển hiệu: “Trường nghệ thuật Maestro! Chào đón các bạn!”. Sau khi bước vào, họ nhìn quanh một vòng, trong sân đậu vài chiếc xe hơi, một người phụ nữ khoảng 60 tuổi ngồi thổi sáo trên hành lang. Dáng vẻ bà rất chăm chú, mái tóc vàng xõa dài vén sang một bên, chiếc váy dài rũ xuống chân. Michael bị thu hút bởi tiếng sáo tuyệt diệu của bà. Họ cẩn thận bước đến trước hành lang, vì không đành lòng cắt ngang tiếng sáo đó. Michael khẽ nói với Pagan: “Chúng ta có thể hỏi người khác xem ai phụ trách việc ghi danh”. Nói xong, anh đẩy cửa bước vào, Pagan theo sát phía sau, còn nghịch ngợm gảy cây đàn bằng ngón cái.
Họ đến sảnh, bên trong rất tối cũng chẳng bài trí gì, chỉ đầy hoa hồng khô héo, khắp nơi còn lan tỏa mùi dầu thông. Khi dừng lại xác định hướng, họ thấy xa xa phía trước có một người đứng dựa tường, đến gần mới thấy người này có râu quai nón, mặc bộ đồ đen, tay cầm một đống tài liệu, miệng không ngừng lầu bầu. “Xin chào!”. Michael nói. Anh ta ngẩng đầu, mặt đầy vẻ bối rối. Lúc này anh mới thấy rõ, một tai anh chàng đeo chiếc hoa tai vàng, nó làm anh hơi khó chịu, nhưng anh vẫn rất lịch sự: “Cho hỏi, học sinh học nhạc đăng ký ở đâu?”.
“Ngay trước đại sảnh, căn phòng lớn nhất ở cuối hành lang”.
“Cám ơn anh!”.
Michael liếc nhìn những căn phòng đi qua, trong đó để đầy giá vẽ và đàn để tập nhạc. Trên đường đi, anh còn chú ý một người phụ nữ mặc trang phục rất hoa hòe đang nói chuyện với một bà lão, cách ăn mặc của cô mang đậm bản sắc Nam Mỹ.
Michael nhìn qua cửa thấy bên trong có rất nhiều hàng ghế xếp, thế là anh đoán chỗ họ đến đăng ký học có lẽ là một hội trường. Trước khi đến đó, họ ngang qua một căn phòng nhỏ, bất giác Michael dừng bước lẳng lặng lắng nghe những nốt nhạc tuyệt diệu, cuối cùng đứng im lại ở đó, nhưng Pagan chẳng biết gì, nó vẫn đi tiếp. Qua cánh cửa bên trái, Michael thấy một người phụ nữ đang chơi piano, ngón tay của cô lướt nhẹ trên các phím đàn. Anh không thấy rõ mặt cô, chỉ thấy mái tóc nâu đẹp xoăn ngang vai.
“Kiểu tóc xoăn ngang vai” cụm từ này khuấy động hồi ức của anh. Bỗng chốc trong đầu anh sáng lên hình ảnh, một cô gái trẻ đang chậm chiếc khăn tay trước trán cho Pauline. Anh chẳng nghĩ ngợi gì, nói ngay: “Anna?”.
Không ngờ, cô dừng lại, quay người sang, mỉm cười vẻ chẳng chút bất ngờ: “Chào Michael!”.
“Anna? Đúng là cô rồi, sao cô lại ở đây?”.
Cô cười, sau đó dừng đàn. Anh thấy năm tháng chẳng làm cô thay đổi gì nhiều, chỉ để lại trên mặt vài nếp nhăn rất cạn, tuy tóc đã hoa râm nhưng kiểu tóc vẫn không thay đổi, “Tôi là giáo viên dạy piano ở đây!”.
“Thật sao? Trùng hợp ghê!”.
“Cũng chẳng phải trùng hợp, nếu không, ai lại giới thiệu với Pauline lớp hè của trường chứ?”.
“Cô ấy không hề nhắc đến chuyện này!”, Michael quá sức vui mừng, “A, tôi… bất ngờ thật đấy! Tôi còn ngỡ cô sống ở Colorado hay nơi nào đó!”.
“Arizona. Nhưng tôi rời khỏi đó sau khi chồng tôi qua đời”.
“Ồ, tôi rất tiếc”.
“Tôi cũng rất tiếc trước chuyện ly hôn của hai bạn!”. “Ồ, mọi chuyện sẽ ổn thôi, ý tôi là… chà, gặp lại cô tôi rất vui!”.
“Tôi cũng thế! Mong rằng cháu anh thích nơi này!”. “Tôi dám chắc nó sẽ thích, vậy, Pagan…”.
Arizona ngồi ngay đó, mỉm cười đưa mắt tiễn anh bước đi. Michael vẫy tay với cô, sau đó chạy khập khiễng đến sảnh lớn tìm Pagan.
Anna Grant, ồ, đúng rồi, giờ cô ấy đã theo họ chồng, không còn là Grant nữa. Michael không biết tên chồng cô và chưa từng gặp mặt, cũng chẳng nghe tin anh ấy qua đời. Tuy trước đây có lẽ Pauline có nhắc đến những chuyện này với anh, nhưng anh chẳng có chút ấn tượng gì. Bao năm trôi qua, tình bạn giữa Pauline và Anna đã nhạt dần, họ chỉ thỉnh thoảng gởi thiệp mừng Giáng sinh, đôi lúc Pauline rất bất ngờ nói với Michael: “Ồ, anh yêu, Anna gởi đến này, con gái bạn ấy lớn thế rồi kia đấy!”. Mỗi lúc như vậy, Michael luôn lầm bầm gì đó, rồi lại tiếp tục làm việc của mình.
Nhưng…
Tận sâu đáy lòng anh luôn có một suy nghĩ, nếu lúc đó anh chọn Anna, chắc đời anh sẽ khác. Tuy thế, nhưng không có nghĩa lúc đấy anh có khả năng chọn Anna. Vì Anna chưa từng chú ý đến anh, anh hầu như không quen biết cô, nói chi đến cơ hội tìm hiểu. Dù vậy, anh vẫn có ý nghĩ như thế nhiều lần. Nhất là khi Pauline và anh cãi vã luôn. Vì dưới mắt anh, lúc tức giận, Anna không đập vỡ tách cà phê, không xé tờ báo, không khóc lóc ở nơi công cộng, không tiêu tiền anh vất vả kiếm được vào những việc không cần thiết, càng không đánh thức anh chỉ để hỏi anh có yêu cô không?
Thỉnh thoảng anh suy nghĩ, có lẽ Thượng đế muốn cho anh nhìn lại con đường mình đã đi qua vào những khoảnh khắc cuối đời. Nếu lúc đầu nghe lời chị Ursula, có lẽ giờ anh đã là một bác sĩ. Anh còn mơ tưởng cố gắng giành lấy học bổng của một đại học Y danh tiếng nào đó. Hoặc trở thành một kỹ sư, nhà báo. Ồ, anh thường mơ tưởng đến những chuyện thế này hoặc thế khác.
Nếu năm 1941, vào hôm anh và Pauline gặp nhau, người anh yêu không phải Pauline, mà là Anna; nếu lúc đó anh có thể bình tĩnh và sáng suốt hơn, có lẽ anh sẽ không vội vã nhập ngũ.
Nhưng trong cuộc sống không có nhiều cái “nếu” như thế. Lúc đó chính nhờ sự nhiệt huyết mãnh liệt của Pauline nên anh mới nhập ngũ. Giờ nghĩ lại anh thấy mình hơi ấu trĩ, tuy sớm muộn gì cũng phải nhập ngũ, nhưng anh luôn thấy chọn Anna với anh sẽ thích hợp hơn. Họ sẽ tổ chức một hôn lễ rất trang nghiêm, và dĩ nhiên sẽ có mối quan hệ thân thiết với con cái.
Mỗi lần nghĩ thế, Michael đều thấy mình rất buồn cười, thậm chí ngây ngô. Dù vậy, anh vẫn thường chìm đắm trong những ảo tưởng đó.
Cách nói chuyện của Pagan dạo này thay đổi khá nhiều, cứ mở miệng ra là “xin nhanh lên cho”, “bản thân cháu cho rằng không phải như thế”, “bản thân cháu nghĩ là như vậy”.
Một lần Michael hỏi: “Pagan, cháu muốn thêm ít bắp không?”.
Nào ngờ nó trả lời: “Bản thân cháu, không cần ạ!”. Thế là Michael nghĩ ngay đến “Trường nghệ thuật Maestro”, có lẽ mọi người ở đó đều nói chuyện như thế. Vì thỉnh thoảng Pagan còn huyên thuyên “một số người làm thế này; một số người làm thế khác”.
“Tối chủ nhật này cháu đến ở chỗ ông chứ?”.
“Có những người đến, có những người lại không”. “Cháu nói thế là sao? Đến hay không?”.
Pagan chẳng nói gì cả, chỉ nhướng mày. Đây cũng là biểu cảm nó học được gần đây.
Ôi trời, cách ăn mặc của nó cũng làm người ta kinh hãi. Một đứa con trai sao lại để chân trần mang giày sandal chứ! Còn mặc quần rộng thùng thình. Áo thun của nó cũng rất mốt, hiệu gì cũng có, nào là Band, nào là James Taylor… Tuy số áo thun này đều mới mua về, nhưng trông khá cũ. Ngoài ra, hình như nó rất thích chiếc ghế kiệu của Michael, vì nó thường ngồi đó, vừa gảy đàn vừa cố tình kéo âm mũi theo điệu nhạc. Nó còn mua một chiếc hộp in màu đen để đựng ghi-ta, vì lúc đó mọi người cho rằng không dùng vật chuyên dụng đựng nhạc cụ là rất quê mùa. Cây đàn của nó chẳng rẻ gì, nhưng trông rất cũ, bởi vì nó lắp một cái móc sắt trên đó. Dù thế nào, trông Pagan giống một nghệ sĩ dày dặn tuổi đời, từng chơi đàn trong một quán rượu nhỏ.
Nhưng Anna bảo nó rất có khiếu, hơn nữa thầy dạy nhạc của Pagan thường khen nó học rất nhanh.
“Thật ra, tôi cũng chẳng biết nó được di truyền khiếu âm nhạc từ ai. Gia đình chúng tôi chẳng ai có khiếu về âm nhạc cả”.
Lúc nói câu này, Michael và Anna đang ngồi trong hành lang của trường.
Michael vắt óc viện cớ đến tìm Anna. “Chúng ta có nên chào bà Stuart không?”, anh hỏi Pagan. Thực tế, vì không muốn thằng bé nghi ngờ, nên suốt hai tuần qua anh viện không biết bao lý do. Lần đầu, anh viện cớ bảo đến gặp thầy Britt của Pagan, lần thứ hai anh nói muốn tham quan phòng tập nhạc. Lần này anh lại nói muốn đến chào bà Stuart. Hai lần đầu, anh thấy khá ổn, vì hình như Anna cũng rất vui khi gặp anh. Cô hỏi cửa hiệu của anh còn không? Giờ anh sống ở đâu? Có thích chỗ ở hiện nay không? Cô còn chỉ đường chỗ ở của mình cho anh biết. Cô thuê một căn hộ gần đường Falls, và cũng có ý định mua nó. Lần thứ hai gặp nhau, dường như họ càng vui vẻ hơn, đúng lúc con gái Anna về thăm cô. Dường như hễ nói đến đề tài con gái, hai người rất “tâm đầu ý hợp”. “Dĩ nhiên, Lindy, con gái lớn của tôi, giờ nó…”, nhưng Michael dừng lại ngay, vì anh không chắc chắn cô biết bao nhiêu về chuyện của Lindy.
“Giờ cũng chẳng biết nó ở đâu, tôi lo lắng quá!”.
“Phải đấy! Cô chẳng bao giờ quen với nỗi lo lắng này! Cô cũng lo cho con cái, nhưng nỗi lo này cô chẳng bao giờ hiểu được!”.
Cô gật gù, không dám hỏi thêm gì, làm Michael cảm thấy dường như cô chẳng thích xen vào chuyện người khác.
Chẳng biết phải nói gì, Michael đành nhìn những học sinh qua lại. Rất nhiều thiếu niên để tóc dài đều mặc những chiếc quần ngắn rất khác biệt. Còn có một nhóm rất đặc biệt, đó chính là những đứa trẻ học múa, chúng đều mặc quần bó màu đen. Rồi anh quay sang nhìn Anna. Cô mặc một chiếc áo đồng phục tay ngắn màu trắng, lộ ra vùng cánh tay bị phơi đen và một số vết đồi mồi, phối với một chiếc quần rộng màu xám nhạt và một đôi giày da bò hai lớp. “Mai Elizabeth đến chỗ tôi”, hình như Anna lại tìm được đề tài, “tôi đành chờ đến sáng mai mới có thể chuẩn bị một ít thức ăn chay!”.
“Hình như bọn trẻ nhà tôi cũng có một đứa ăn chay! Karen, cô biết đấy, con gái út của chúng tôi”.
“Chẳng phải trước đây nó rất thích ăn hải sản sao?”. “Không bao giờ, nhưng nó vẫn ăn những chế phẩm từ sữa”.
“May Elizabeth còn có thể ăn hải sản, thế nên việc chuẩn bị chẳng mấy rắc rối. Hết giờ làm, tôi có thể tiện đường mua ít thịt cua”.
“Tôi mang đến một ít cho cô chẳng phải tốt hơn sao?”. Anna chần chừ một lúc, vẻ bối rối.
“Cửa hiệu chúng tôi cũng có thịt cua, hải sản mang đến mỗi ngày đều rất tươi. Tôi có thể cân một pound ướp đá lạnh mang đến cho cô”.
“Ừm, cám ơn anh, có điều…”.
“Cô có thể mời tôi tách cà phê?”.
Cô nhìn anh một lúc, anh thấy rất khó chịu, “Ý tôi là, cô chẳng cần khó xử thế, dù không mời tôi tách cà phê, tôi vẫn mang thịt cua đến cho cô mà”.
“Dĩ nhiên có thể mời anh một tách cà phê, nhưng anh không thể cho không tôi thịt cua!”.
“Tôi đâu thể nhận tiền của cô chứ!”.
“Nếu thế, tôi cũng tuyệt đối không để anh làm vậy”. Hai người đều kiên quyết, chẳng ai chịu nhường ai. Cuối cùng, Michael đưa ra một số thỏa hiệp, “Thế này thì sao? Tôi không nhận tiền, nhưng cô phải mời tôi ăn tối!”.
Anna cười, xem ra cô rất vui. “Thế nào?”.
“Nếu anh muốn ở lại ăn tối, tôi phải ghé ngang cửa hiệu, tiện thể mua cả thịt cua về!”.
“Được rồi, vậy tôi rút lại lời vừa nói. Cô mời tôi uống hai tách cà phê vậy? Tôi không ăn tối”.
Nói xong cả hai đều cười. “Được, ba tách vậy! Nói chắc rồi nhé, anh giao thịt cua cho tôi, tôi không trả tiền, nhưng tôi sẽ đặt một phần ăn trưa”.
“Quyết định thế nhé!”, Michael phấn khởi vô cùng.
Chính ngay lúc này, Pagan bước vào. Nó nhìn thấy Michael, ngạc nhiên hỏi: “Sao ông còn ở đây?”.
Michael cũng lấy làm lạ: “Chẳng phải giờ cháu đang học sao?”.
“Có những người phải học, có những người không cần học!” – Pagan nói xong hiên ngang đẩy cửa bước đi.
Anna sống trên một con đường cách trường khoảng một dặm. Thật ra căn hộ của cô rất bình thường, bờ rào màu trắng, vừa hẹp vừa cao lại có chóp nhọn, hình chữ nhật, sân nhà mọc đầy những khóm hoa cúc dại. Michael không chần chờ được nữa, bấm chuông ngay. Một thoáng sau, Anna ra mở cửa mời anh vào. Tuy cô vẫn mặc trang phục như ở trường, nhưng Michael phát hiện ngay có chút khác biệt, Anna cố tình trang điểm nhẹ một chút.
“Chào, người giao thịt cua đến đây!”, Michael dịu dàng nói, tay cầm một túi thịt cua, bên trong đựng đầy đá cục.
Anna đón lấy, chân thành nói: “Cám ơn anh rất nhiều. Ồ, con cua to ghê! Thật ra không cần phiền anh phải mang đến đâu”.
“Phục vụ phụ nữ cũng là niềm vinh dự của đàn ông mà!”.
Thật ra, được phụ vụ Anna mới là niềm vinh dự của anh!
Anh theo Anna đi xuyên qua phòng khách được trang trí tao nhã và cổ kính để vào bếp. Cách bài trí bếp đã nhiều năm rồi anh không thấy: vải rèm cửa màu xanh da trời, tủ lạnh góc tròn, còn có một bếp điện rất lớn khá thịnh hành vào những năm 40. Căn bếp to đến mức có thể trượt băng trong đó. Khi Anna chuẩn bị bỏ thịt cua vào tủ lạnh, Michael không nén được thốt lên: “Tuyệt thật!”.
Anna còn ngỡ anh đùa về thịt cua, thế là cô cười. Michael vội giải thích: “Ồ không, ý tôi là quầy bar, trên đó chẳng có gì cả, không có thức uống pha chế rượu, không có máy xay, cũng chẳng có lò nướng”.
“Ồ, tôi mới chuyển đến đây không bao lâu, vẫn chưa có thời gian trang hoàng quầy bar”. Nói xong cô đóng tủ lạnh rồi ngoảnh người lại hỏi: “Anh muốn uống gì?”.
“Bia vậy, nếu cô có!”.
“Dĩ nhiên!”, cô mở tủ lạnh lấy bia ra. Đây là bia nhập khẩu, mùi vị ngon hơn nhiều loại Michael uống trước đây. Nhưng lúc đó anh có một suy nghĩ, số bia này chuẩn bị cho ai? Cho cô ấy sao? Hay cho người nào khác? Mẫu đàn ông cô thích là người thế nào? Hai tuần trước đây anh luôn nghĩ Anna sống một mình, nhưng một phụ nữ có sức hấp dẫn như cô sao có thể cô đơn chứ? Anna rót ly rượu sherry cho mình, động tác thật thanh thoát làm Michael nhớ đến những học sinh học múa ở trường nghệ thuật.
Trở vào phòng khách, họ ngồi xuống ở hai đầu ghế salon, Anna lại phá vỡ bầu không khí ngại ngùng: “Ồ, lúc nãy ta quên lấy ly cho anh”.
“Tôi là dân Ba Lan mà, cô quên rồi sao? Tôi quen nốc bia chai rồi”.
Có lẽ bầu không khí trong phòng làm anh bỗng nhiên có cảm giác mình không phải là dân Ba Lan. Bỗng nhiên anh nhớ tới những tấm khăn trải bàn và cây thập tự giá mẹ anh yêu thích, cả những vật dụng gia đình “thời thượng” mà Pauline say mê làm anh thấy bực bội. Anh uống một ngụm bia, từ từ thưởng thức mùi vị khác biệt, sau đó lại khơi chuyện: “Cô ở đâu trước khi chuyển đến đây? Baltimore sao?”.
“Phần lớn thời gian tôi ở phía Tây đất nước. Khi Paul qua đời, Elizabeth mới 10 tuổi, tôi biết mình phải tìm một việc làm, thế rồi tôi trở về bang Idaho, rất nhiều họ hàng của tôi đều sống ở đó, rồi tôi đến làm việc ở một trường học tại Cleveland mãi đến khi nó hết hoạt động, tôi mới xin làm việc ở đây. Tôi thấy mình vẫn rất may mắn, tìm được công việc dạy piano chẳng phải chuyện dễ”.
Michael hắng giọng, hỏi một cách thận trọng: “Chồng cô qua đời đột ngột sao?”.
“Không, anh ấy mắc bệnh bạch cầu từ lâu!”.
Câu trả lời này thỏa mãn sự tò mò của anh, nhưng không phải là câu trả lời anh muốn. Thật ra, anh muốn biết có phải cô rất yêu chồng? Cô còn nhớ chồng không? Anh lại hắng giọng, nhưng chẳng nói gì, chỉ uống vài ngụm bia.
“Chúng tôi quen biết nhau trong trận chiến đó, hình như là một dạo sau khi anh và Pauline kết hôn. Tôi còn nhớ lúc đó Pauline mang thai, nên không thể đến dự hôn lễ của chúng tôi”.
“Ừm, đúng thế”. Tuy Michael trả lời vậy, nhưng trong đầu chẳng hề nhớ đến những chuyện này.
“Vậy giờ anh và Pauline vẫn giữ liên lạc mật thiết chứ?”.
Câu hỏi này tương tự câu anh muốn hỏi Anna, nào ngờ cô ấy hỏi anh trước. Anh thấy dường như có một tia hy vọng. Anh ngừng một chút rồi nói: “Không! Nhưng dĩ nhiên, chúng tôi vẫn giữ liên lạc vì con cái và những chuyện khác. Thỉnh thoảng thấy cô ấy, tôi có cảm giác thế này: đấy là người phụ nữ mà trước đây tôi từng kết hôn sao? Cảm giác đó rất lạ. Tôi cũng thấy mình trở lại là mình trước đây. Tôi hầu như chẳng còn nhớ ai là người đã kết hôn với Pauline”.
Lời anh nói đều là lời thật lòng, anh cố gắng bày tỏ nó cho Anna hiểu được. Nhưng không hiểu sao trong đầu anh lại lóe lên một ý nghĩ, Pauline không xấu, và chưa từng lừa dối anh, cũng chưa từng ngược đãi các con, càng không bê tha cờ bạc. Thực tế, từ góc độ nào đó, tính cô tốt hơn anh nhiều. Cô hiền lành tốt bụng, tư tưởng rộng rãi, có rất nhiều bạn bè, có lẽ vấn đề của họ chỉ xuất phát từ phía anh?
Dường như Anna đọc được tâm tư của Micheal: “Thật ra, hồi trước tôi rất ngưỡng mộ Pauline”.
Michael nghiêm túc suy nghĩ hàm ý của hai chữ “ngưỡng mộ”.
“Tuy học chung trường, nhưng lúc đó tôi không hề hiểu cô ấy. Nhưng tôi rất thích sức sống và sự nhiệt huyết của Pauline. Cô ấy chưa từng ngó lơ bất cứ một ai trong nhóm chúng tôi”.
“Hôm tôi quen cô ấy, hình như cũng có cô bên cạnh?”, Michael nói.
“Ồ, phải, sự kiện Trân châu cảng! Lúc đó, luôn có một điều gì lôi kéo chúng tôi lại với nhau, cũng trong trận chiến đó tôi mất đứa em trai mãi mãi”.
“Xin lỗi, trước đây tôi chưa từng nghe điều này”.
Anna đưa mắt nhìn xuống ly rượu. Bỗng nhiên, Michael chú ý thấy trên mặt cô có rất nhiều điểm hình bầu dục. Cô có đôi mắt hình bầu dục, cái miệng hình bầu dục, hơn nữa đầu cô cũng là hình bầu dục, mái tóc dài là kiểu uốn lọn ngang vai. Trước đây, anh chưa từng chú ý thấy những nét này.
Anna trầm lặng hồi lâu rồi nói tiếp: “Tôi nhớ hôm đó có Pauline, Wanda Bryk, cả… cô gái đó tên gì nhỉ?”.
“Katie Vilna”.
“Ồ, phải, Katie. Cô ấy cùng Wanda ở lại chăm sóc Pauline”.
“Giờ Pauline vẫn thường gặp họ”. “Vậy còn anh?”.
“Tôi?”.
“Phải, anh còn liên lạc với hàng xóm trước đây không?”. “Ồ, rất ít. Chỉ thỉnh thoảng tôi đi thăm anh bạn cũ Leo và bà hàng xóm già Serge. Cô biết đấy, tôi không giỏi xã giao”.
“Tôi cũng thế”.
“Trông cô không phải thế?”.
“Thật ra, sau khi chuyển đến đây, anh là vị khách đầu tiên đến chơi”.
“Thật sao?”. Bỗng nhiên Michael có sự phấn chấn đến khó hiểu, anh đưa mắt nhìn xung quanh, sau đó nói: “Cô trang trí nhà cửa tuyệt lắm! Cô xem, tôi sống ở đó 6 năm rồi, nhưng nhà chẳng có lấy một bức tranh ra hồn!”.
“Anh muốn treo tranh trong nhà sao?”. “Phải, nhưng chẳng biết nên treo tranh gì!”.
Anna nghiêng đầu nhìn anh, Michael đoán được cô nghĩ gì. Nếu là Pauline, chắc cô ấy đã nói ra rồi. Cô luôn tự tin có thể sắp xếp tốt cuộc sống của người khác. Nhưng Anna thì trái lại, cô giữ ý kiến của mình mà không nói ra. Michael lại hỏi: “Cô có thể cho tôi vài ý kiến không?”.
“Ừm, chắc được! Nhưng tôi cũng không biết có hợp ý anh không?”.
Michael cười rất dịu dàng, Anna không hiểu sao anh cười và nụ cười đó có ý gì.
Chiều thứ bảy tiếp đó, Anna chờ con gái đi rồi mới đến nhà Michael, giúp anh xem thử nhà nên treo bao nhiêu bức tranh. Sau đó họ đến một cửa hiệu chuyên bán tranh giá khá mềm. Pagan cũng đi theo, vì có thể nó nghĩ một cô giáo dạy nghệ thuật giúp ông ngoại trang trí tranh trong nhà là chuyện rất bình thường chăng! Anna quả rất tỉ mỉ, cô không hề quên cảm nhận của Pagan: “Pagan, cháu thấy sao? Cháu thích treo gì trong phòng ngủ?”.
“Một poster của James Taylor. Cháu thấy một tấm rất lớn ở tiệm băng đĩa trong siêu thị. Ông ơi, cháu có thể có một tấm không ạ?”.
“Dĩ nhiên là được!”.
Thật ra, Michael rất ngưỡng mộ Pagan, nó luôn biết mình muốn gì. Bản thân anh mỗi lần xem một bức tranh đều liếc nhìn vẻ mặt của Anna, sợ mình phải mua những thứ tầm thường như một tên ngốc. Nhưng cô luôn nhìn anh và mỉm cười khó hiểu, làm anh chẳng biết làm sao. Cuối cùng, Michael buộc miệng hỏi: “Sao cô không chọn? Quả thật, tôi chẳng biết mình thích gì, tôi chẳng có ý tưởng gì cả”.
“Chiều nay khoan vội quyết định, dù sao chúng ta cũng chẳng gấp dùng mà!”.
Họ rời khỏi cửa hiệu với hai bàn tay không. Khi Michael mở cửa xe cho Anna, rất tự nhiên, anh đặt nhẹ tay lên eo cô. Sau đó khi sắp đến bãi đậu xe ở khu chung cư, Michael hỏi cô muốn lên nhà uống chút gì không, cô viện cớ còn bận việc, vội về nhà.
Chiều thứ hai, Michael lại một mình đến cửa hiệu đó, quan sát số tranh một lượt. Sau quầy tính tiền là một người phụ nữ tóc vàng, sắc mặt hồng hào, Michael tin rằng hôm chiều thứ bảy Anna không có mặt ở cửa hiệu, “Số tranh này bức nào đẹp nhất? Ví như trang trí ghế salon, bức này thích hợp hay bức kia?”.
“Tranh của Chagall đẹp hơn!”.
Anh nhìn theo ánh mắt của người phụ nữ đó. Bức tranh này đầy màu sắc ảo tưởng, rất nhiều người bay tự do trên không. Anh quyết định mua bức này, anh còn mua bức “Hoa hướng dương” của Vincent van Gogh và một bức khác. Ngoài ra, anh còn mua một bức tranh phong cảnh trang trí phòng ngủ của mình, vì anh rất thích sự yên tĩnh của thiên nhiên. Vừa về đến nhà, Micheal liền treo tranh lên ngay, nào ngờ phiền phức hơn anh nghĩ nhiều, một thoáng sau lưng anh đã đầm đìa mồ hôi. Trang trí xong, Michael gọi điện cho Anna, mời cô tối mai đến xem thử. “Tôi biết tối mai cô không có lớp”. Dĩ nhiên anh biết rất rõ điều này, anh cũng rất vui khi tối mai Pagan không có mặt ở đây, “Hơn nữa tôi có thể chuẩn bị bữa tối mời cô, như thế hết giờ làm cô không cần phải nấu nướng. Một bữa tối rất sớm, tôi bảo đảm”.
“Thế thì hay quá!”.
Chiều ngày hôm sau, Michael chọn tỉ mỉ một số thực phẩm trong cửa hiệu. Sau khi về nhà anh quay một con vịt trước, rồi nấu một ít khoai, còn chuẩn bị một phần salad trộn. Thật ra đây là món salad đơn giản nhất, rưới sốt mayonnaire lên, món tráng miệng là bánh kem nhân sôcôla. Nhưng dù thế, khi chuẩn bị xong bữa tối, anh vẫn làm bếp rối tung lộn xộn. Bỗng nhiên anh nhớ đến Pauline, cũng giống như phần lớn phụ nữ, cô có thể dễ dàng xử lý tốt chuyện bếp núp. Anh bất lực nhìn quanh bếp một vòng, sau đó anh vào tắm rửa, thay đồ và cạo râu.
Michael ngồi trên ghế salon, vuốt những nếp nhăn trên bộ trang phục bằng vải kaki. Sau đó anh dựa đầu vào thành ghế, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà, nào ngờ phát hiện một mạng nhện, bỗng nhiên anh thấy mời Anna đến nhà quả thật buồn cười.
Nhưng phải thừa nhận rằng, sau khi quen Anna, anh thấy thoải mái và tràn đầy sức sống. Lúc nào anh cũng nhớ đến Anna, dù là lúc ngủ, lòng cũng thấy chút ấm áp. Trước đây anh chưa từng có cảm giác này sao? Hồi anh còn trẻ? Có lẽ anh quên mất rồi. Dù sao, cảm giác bây giờ với anh là chưa từng có, anh thấy sự sống của mình như vừa mới bắt đầu. Anh cũng từng nghĩ, dù Anna không đáp lại tình cảm của anh, anh cũng thỏa lòng. Anh cũng rất vui vì mình còn có cảm giác yêu một ai đó thế này.
Anna rất đúng giờ. Hôm nay cô cố ý mặc chiếc váy màu tím đỏ. Điều này làm anh thầm vui trong lòng, vì nó cho anh thấy Anna rất xem trọng cuộc hẹn hôm nay, nào ngờ cô còn mang đến một chai rượu nho và một ổ bánh mì. “Bánh mì cô tự nướng đấy à?”. Michael hỏi khi đón lấy nó từ tay cô, cô cười: “Ồ, không, tôi mua ở một hiệu bánh mì dọc đường đấy”. Sau đó cô đi xem số tranh Michael mua. “Trời ạ, anh mua bức tranh này của Chagall, đặt ở đây, quả là tuyệt đẹp! Hơn nữa tôi rất thích bức này, màu hoa hướng dương rất hợp với màu rèm cửa của anh”.
“Tôi đưa cô đi xem những bức khác nhé”.
Anh đưa cô đi qua phòng ăn đến phòng ngủ của mình. Ở đây treo một bức tranh phong cảnh, “Cô có thấy bức này có bình thường quá không?”.
“Không đâu, anh chọn rất khéo”.
Giọng điệu của cô không giống như đang an ủi anh. Cô chú ý thấy, nhưng không nói cho Michael biết trên giường thiếu một tấm ra, cô cũng không nói với anh dường như phòng ngủ còn thiếu thứ gì đó.
Trở vào phòng ăn, Michael rót cho Anna một ly rượu sherry anh mua cho buổi hẹn hôm nay. Anh cũng rót cho mình một ly, dù chẳng mấy thích mùi vị của loại rượu này. Anh ngồi trên một chiếc ghế có tay vịn, cố tình giữ khoảng cách với Anna, anh không muốn mình trông lỗ mãng. Chỗ anh ngồi không có bàn, nên anh đành cầm ly rượu trong tay, thỉnh thoảng xoay qua xoay lại. Michael chồm người ra trước, Anna lại ngồi yên trên ghế salon, cô đặt ly trên chiếc khăn giấy đã xếp sẵn như đang suy nghĩ gì đó.
“Chiều nay tôi có gặp Pauline. Cô ấy đến đón Pagan, còn bảo khi Pagan lên lớp 9 cô sẽ cho nó đến học ‘Trường nghệ thuật Maestro’ toàn thời gian”.
“Cô ấy cũng từng nhắc chuyện này với tôi, nhưng tôi không hề có thành kiến với ‘Trường nghệ thuật Maestro’, nhưng thằng bé có thể tiếp nhận nền giáo dục tốt ở đó sao, ý tôi là các môn còn lại thì học thế nào?”.
“Ừm, cả năm họ đều dạy lớp tiếng Anh và lớp Toán”. “Nhưng cô cũng biết đấy, với một đứa bé trai, ghi-ta và âm nhạc không phải là tất cả của nó, trừ khi nó là một thiên tài âm nhạc”.
Dường như anh tự đưa mình vào thế bí, “Thôi, không bàn chuyện này nữa, cô có nói Pauline biết tối nay đến nhà tôi không?”.
“Không, lúc đó tôi không kịp nói”. Bỗng dưng mặt cô đỏ lên, “Hơn nữa, tôi cũng không chắc khi biết chuyện cô ấy có nghĩ gì không”.
Lần đầu tiên Michael cảm thấy Anna cũng đang suy nghĩ xem giữa họ có thể tiến triển không. Có lẽ Michael không yêu đơn phương. Anna nhìn anh, mặt vẫn còn ửng đỏ, cằm cô dần đưa lên, nó làm Michael nhất thời lúng túng, lần này đến lượt anh đỏ mặt, “Ồ, chuyện đó”, anh đứng phắt dậy, vội đi vào bếp.
Micheal cũng không tìm được cơ hội thích hợp để tiếp tục nói về đề tài lúc nãy. Nhưng cũng may, khi vào giúp anh nấu nướng, Anna hỏi anh một số vấn đề đơn giản, chẳng hạn nấu ăn có phải sở thích của anh không? Mỗi tối anh đều tự nấu ăn sao? Thỉnh thoảng anh có ra ngoài ăn không?
“Thật ra tài nấu bếp của tôi rất kém. Hôm nay tôi nấu xong bữa tối là vì tôi chuẩn bị từ hồi 4 giờ chiều. Tôi nghĩ lỡ như có gì trục trặc, tôi có thể nấu lại hoặc gọi điện đặt mua. Thường thì tôi ăn ở nhà, nhưng chỉ ăn bánh mì sandwich với tương đậu phộng hoặc cá hộp thôi. Tôi không muốn ra ngoài ăn, ngồi ăn một mình buồn lắm”.
Anh đặt khoai đã nấu chín trên tủ bếp, sau đó quay đầu nhìn Anna, lấy hết can đảm nói: “Nhưng nếu có cô cùng dùng bữa, tôi vẫn rất sẵn lòng đi”.
Cô lại ngước nhẹ cằm lên, sau đó tần ngần nói: “Tôi cũng rất vui được đi ăn tối cùng anh”.
Câu chuyện của họ bắt đầu như thế.
Giờ họ thường đến một nhà hàng trên đường St. Paul thưởng thức món canh gà. Đấy là nhà hàng họ thích nhất, lần nào họ cũng ngồi cùng một chiếc bàn tròn bên cửa sổ. Thỉnh thoảng họ cũng hôn nhau, nhưng vẫn có chút ngại ngần.
Trong rạp chiếu phim, họ cũng nắm tay nhau, Micheal không ngờ tay Anna mềm mại thế, đúng là bàn tay của một nghệ sĩ piano.
Nhưng khi đi nghe hòa tấu, họ thường không nắm tay, vì Anna có vẻ rất chăm chú. Michael thường liếc nhìn cô để biết lúc nào nên vỗ tay. Sau mỗi lần kết thúc một bài hòa tấu, mắt Anna đều hơi ươn ướt, sau đó cô chồm người về trước, vỗ tay nồng nhiệt.
Thỉnh thoảng họ nấu ăn ở nhà Michael, thực phẩm mang từ cửa hiệu về, còn có cả xà lách nữa; thỉnh thoảng họ cũng đến nhà Anna, gọi một ít thức ăn trưa và pizza. Anna không giỏi nấu ăn, cả dụng cụ ăn uống thường dùng nhất trong nhà, như loại vá có lỗ hoặc dao hai lưỡi cũng không có, hơn nữa cô cũng không nghĩ phải mua những thứ này. Tuy nó làm Michael thấy hơi bất ngờ, nhưng anh không đánh giá cao khả năng tự chăm sóc của cô. Cô không bao giờ đi tay không đến nhà Michael mà luôn mang một ít rượu nho hoặc hoa tươi. Cô cũng không bao giờ gọi điện trong lúc anh đang làm việc, tuy anh rất mong cô làm thế. Hơn nữa khi xử lý những vấn đề trong mối quan hệ với con gái, Anna luôn tỏ ra chín chắn. Họ không bao giờ tranh cãi, cũng chẳng chiến tranh lạnh, chỉ có lý giải, ủng hộ và tôn trọng lẫn nhau.
Khi giải quyết công việc, Anna không bao giờ làm cho nó rối tung. Cô có thể một mình giết thời gian buổi tối, một mình đến các buổi tiệc, tự thay lốp xe, sửa máy giặt, thậm chí xoay chuyển ăng-ten trong vườn. Theo Michael, cô làm được những việc này quả rất cừ khôi, vì so với Pauline giờ anh còn phải thường giúp cô ấy sửa chữa và bảo trì xe, nhưng Anna lại cho rằng những việc này chỉ là việc nhỏ chẳng đáng nhắc đến.
Điều đặc biệt là, cơ hội gặp mặt vào những ngày thường của họ còn nhiều hơn là cuối tuần. Vì cuối tuần Pagan đến trường học ghi-ta. Theo dòng thời gian, giờ đã đến tháng 8, Michael sớm đã quen những ngày tháng có Anna bên cạnh. Anh dựa dẫm vào Anna và hẹn cô vào mỗi cuối tuần. Họ cùng đi ăn kem, cùng đi bơi. Anna mặc bộ đồ bơi màu đen, dưới mắt Michael, cô gợi cảm vô cùng. Cô có làn da mịn màng và khỏe mạnh, thỉnh thoảng cũng thấy một ít đốm đồi mồi, nhưng sau khi mặc áo vào, chúng đều trở nên không rõ nét.
Pagan luôn cằn nhằn lần biểu diễn này chọn bài không hay, hơn nữa nó còn bực bội cô gái diễn chung có giọng quá khàn. Nhưng thực tế, Pagan có thể tham gia lần biểu diễn này quả thật là niềm vinh dự rất lớn. Một tuần trước đó, nó luyện tập rất chăm chỉ. Nó thường ngồi trên ghế salon của Michael, chúi sâu đầu vào cây ghi-ta, cơ thể biến thành hình chữ C. Nó cũng thường hát bài này theo điệu nhạc “Anh phải lang bạt đến nơi đó…” nhưng do âm điệu quá cao, lần nào cũng dừng ở đoạn này. Điều thú vị là, dường như Michael cũng bị giai điệu bài hát của Pagan ảnh hưởng. Suốt một tuần, bản nhạc đó cứ vang vọng trong đầu anh, dù là lúc xem đơn hàng hoặc trả lời điện thoại. Anh cảm thấy bản nhạc đó luôn vang bên tai, có chút bi thương cũng mang chút khát vọng.
Cả nhà Anton đều đến xem màn biểu diễn đó. Ngoài Michael và Pauline, còn có George, Sally và con họ, JoJo và Samantha, dĩ nhiên còn có Karen, nếu công việc của cô kết thúc sớm. Điều này làm Michael hơi căng thẳng, vì đây là lần đầu tiên người nhà anh thấy anh cùng Anna sánh bước bên nhau với tư cách là người yêu. Nhưng thật lòng anh rất muốn họ thấy, hơn nữa anh mong mọi người hiểu rằng Anna rất quan trọng với anh. Thế nên, khi Anna nói anh hãy để cô lái xe đến đó một mình, anh kiên quyết nói: “Không được! 7 giờ anh đến đón em!”.
Họ đến trường sớm hơn nửa tiếng, anh đưa Anna đến ngồi ở dãy ghế đầu tiên.
Anna luôn miệng kể với Michael về việc học sinh tham gia biểu diễn, trong đó bao gồm những thí sinh độc tấu piano, có một cậu bé quá hồi hộp, còn dọa nếu bố mẹ đến xem nó sẽ không thi nữa. Michael phát hiện hôm nay Anna cố tình mặc một chiếc áo đen rất mốt và mang đôi giày cao gót, trông cô rất tuyệt!
Những người khác lần lượt đến trường, trong đó có những cậu bé, cô bé, bố mẹ và ông bà chúng. Một cô gái mặc trang phục bó sát người đang lén thò đầu ra ngoài ở cánh trái sân khấu, còn có một người phụ nữ mặc đồng phục vội vã chạy vào.
Chính lúc này, Pauline bước đến chào Michael: “Ồ, hóa ra anh ở đây”.
Cô dừng lại trước Michael, theo sau là Karen. Hôm nay cô mặc chiếc váy hoa và áo khoác trắng, tóc vừa mới nhuộm, màu son rất hợp với đôi hoa tai đỏ. Karen trông vẫn như mọi khi, mặc chiếc quần bò bạc màu đã lỗi thời và áo thun. Cô bé đứng sau Pauline, đầy vẻ bất lực. Pauline vẫn thoải mái chào hỏi Michael: “Hôm nay em rất vui vì cuối cùng có thể đến xem buổi biểu diễn này. Một lần nữa lại được nghe giai điệu của những tình khúc bất hủ, hơn nữa… Ồ, chào, Anna! Vừa nãy không nhìn thấy bạn! Karen, hồi trước con có gặp bạn mẹ, cô Anna Grant không? Không, phải là… Mình định gọi điện cho bạn, quả rất cám ơn bạn, Anna. ‘Trường nghệ thuật Maestro’ luôn…”.
Bỗng nhiên cô dừng lại, chuyển dần ánh mắt từ Anna sang Michael. Cô mở to mắt, ngạc nhiên nhìn Michael.
Lẽ nào cô thấy gì sao? Lúc đó họ không hề nắm tay hay có hành động gì quá thân mật. Cũng không ngồi chung như trước, thậm chí vai họ cũng không kề vào nhau. Nhưng trong chớp mắt, Pauline lộ vẻ mặt rất bi thương, môi cô khép lại ngay, sau đó ngoảnh mặt bỏ đi. Cô rất giận, xách tay văng cả ra ngoài khi cô quay người, va vào cánh cửa phía sau. Karen gọi với theo Pauline, sau đó chạy vội theo. Trước khi đi con bé còn nhìn Michael với ánh mắt đầy nghi hoặc.
Anna đưa mắt nhìn Michael, cô đang định nói gì đó, nhưng bị người phụ nữ mặc đồng phục lúc nãy ngắt ngang, “Chào mừng mọi người đến dự!”. Giọng của cô vọng từ sân khấu xuống, rất vui cũng rất cao, thế nên họ phải ngẩng đầu nhìn về phía đó. Michael chẳng nghe được gì, giờ anh chỉ cảm thấy Pauline đang ngồi ở dãy ghế nào đó phía sau nhìn anh chằm chằm. Anh ngồi bất động, mắt nhìn thẳng phía trước. Anh không dám dựa vào Anna, cũng chẳng dám nắm tay cô, anh thấy cổ mình cứng đờ.
Lúc biểu diễn, bọn trẻ đều mang vớ và giày trắng, các bé trai thì dán râu giả. Tiết mục của Pagan nằm giữa chương trình. Dĩ nhiên, khi biểu diễn, tóc nó vẫn áp lên chiếc ghi- ta, ngón tay nó gảy dây đàn rất điệu nghệ, chẳng hề mắc một lỗi nào. Thật ra giọng hát của cô bé diễn chung với Pagan chẳng khàn chút nào. Nhưng Michael không còn tâm trạng nào để thưởng thức. Anh chỉ muốn quay đầu lại tìm bóng dáng Pauline trong đám đông khán giả.
Nhưng, anh không làm thế.
Rất hiển nhiên, Pauline về thẳng nhà hoặc đi đến nơi khác. Người phụ nữ mặc đồng phục lúc nãy trở lên sân khấu, sau khi vỗ tay chúc mừng màn biểu diễn rất thành công, thông báo họ còn chuẩn bị bánh ngọt cho phụ huynh trong phòng khách. Michael nhân lúc này tìm kiếm bóng dáng Pauline trong đại sảnh, nhưng không thấy, anh cũng chẳng thấy Karen đâu. Lúc đó, nhà Anton chỉ còn lại George và Sally. Vợ chồng chúng ngồi ở gần cửa, vì sợ con trẻ gây rắc rối. Sally ẵm Samantha trên tay, JoJo đã nằm dài trên chân cô ngủ. George thấy Pagan bước đến, liền đứng dậy chúc mừng: “Cừ lắm, cậu nhóc!” rồi vỗ nhẹ lên đầu Pagan.
Pagan hỏi: “Bà đâu ạ?”.
“Bà không ngồi chung với ông sao?”. “Cháu có thấy bà đâu chứ”.
“Ồ, ông đoán, chắc bà đã về trước. Có lẽ Karen lái xe đưa bà về thẳng nhà rồi”, Michael khéo léo chuyển sang đề tài khác, sau đó nói với George: “George, Sally, bố giới thiệu Anna với hai con”.
George vui vẻ chào Anna: “Chào cô, Anna!”.
Nhưng Sally quan sát Anna tỉ mỉ, rồi nhìn Michael, sau đó lễ phép nói: “Rất vui được gặp cô!”.
Anna nhìn George: “Cô nhớ trước đây từng gặp cháu một lần, nhưng hình như đã 30 năm trước rồi, nên cháu không nhớ cô, cô cũng không lấy làm lạ!”.
“Vậy, cô là bạn của gia đình cháu ạ?”, Sally tò mò hỏi. “Phải, từ lâu mọi người đã là bạn của nhau, cô học chung trường với mẹ cháu”.
Michael có cảm giác Sally rất muốn giải mối ngờ vực trong lòng, nhưng cô không hỏi tiếp nữa.
Dĩ nhiên họ không thể bỏ lỡ món bánh ngọt. Khắp nơi đều là tiếng vui cười, khen ngợi và cảm ơn của bố mẹ bọn trẻ. Michael bỗng nhiên thấy đau đầu, anh không biết ngày hôm nay bao giờ mới kết thúc.
Cuối cùng họ về nhà. Nơi đây cách thành phố rất xa, nên thấy được hàng ngàn ánh sao lấp lánh trên bầu trời đêm. Michael rất mong có thể đưa Anna về nhà mình, nhưng hôm nay là thứ sáu, Pagan đến nhà anh ở, thế nên anh đành đưa cô về nhà.
Hôm nay Pagan nói nhiều đến bất ngờ, giờ chắc chắn nó thấy thư giãn vô cùng. Cả đoạn đường nó đều hỏi Anna: “Bà có phát hiện lúc mới đầu cháu hơi căng thẳng không nhỉ? Còn nữa, bà có biết cháu chậm một nhịp ở đoạn thứ hai không?”.
“Hôm nay cháu biểu hiện rất xuất sắc, tuyệt lắm!”.
Cả đoạn đường Michael đều rất im lặng, anh không hiểu rốt cuộc Pauline có phản ứng thế nào? Chỉ có tên ngốc mới nghĩ rằng sau khi biết chuyện Pauline chẳng nói gì cả.
Giờ đây dường như mọi người đều biết chuyện, hơn nữa ý kiến bất nhất. Wanda Lipska luôn truy hỏi Michael tại sao lại thích một người theo Thanh giáo (một phái trong Giáo hội nước Anh với các hình thức nghi lễ nhà thờ đơn giản); Karen trách Michael ít ra lúc đầu anh nên nói cho Pauline biết một tiếng, để mẹ cô chuẩn bị tâm lý. Rất hiển nhiên, giờ đây Pagan cũng ý thức được chuyện xảy ra, nên khi gặp Anna ở nhà Michael, nó thường rất ít nói và cố gắng tránh mặt; chỉ mình George cho rằng Anna rất được. Nhưng cô em Sherry của Pauline lại rất phẫn nộ, cô cho rằng Anna là người vô liêm sỉ, phóng đãng lẳng lơ, “Mọi người đều biết cướp chồng bạn là chuyện rất xấu”. Sally lại khác, cô đang nghĩ Michael và Anna có mời vợ chồng cô ra dùng bữa không, dĩ nhiên phải là lúc hai con ngủ hết mới được, bằng không cô phải phiền Pauline đến chăm sóc chúng, thế là lộ tẩy. Chỉ có Leo Kazmerow vui vô chừng sau khi biết chuyện, vì Michael cuối cùng có thể kết thúc cuộc sống của một thầy tu.
Không ngờ chuyện của Michael cũng gây ồn ào ở cửa hiệu, nhưng anh chẳng thể nói gì. Mỗi lần khi anh rời khỏi cửa hiệu sớm, đám nhân viên đều nhìn anh cười rất bí ẩn. Họ còn thường tụ năm tụ bảy bàn luận cuối tuần anh sẽ làm gì, thậm chí họ còn cùng thảo luận xem ai mua chiếc quần lót mới cho anh.
Nhưng thật ra mối quan hệ của họ phát triển đến mức độ nào? Anh và Anna chưa một lần nói về điều đó, dĩ nhiên họ cũng không sống chung. Có lẽ họ chỉ là bạn thân, thỉnh thoảng ngồi rất gần, hoặc hôn nhau khi chào tạm biệt. Không biết có phải Anna cũng nghĩ thế không?
Lúc cạo râu, Michael thường tập trước gương: “Anna, quan hệ của chúng ta rất có ý nghĩa với anh. Không đúng, không đúng, ý anh là anh đã bắt đầu… Nói thế không tự nhiên, thật ra em rất quan trọng với anh”. Anh không biết mình có thể nói với cô ba chữ “Anh yêu em” không.
Mỗi lần Anna đến nhà, Michael đều thay khăn trải giường, hơn nữa còn dọn dẹp phòng ngủ gọn gàng sạch sẽ. Tuy sau lần xem tranh, Anna không vào phòng anh nữa, nhưng thật sự anh có thể làm tình với cô không? Người phụ nữ duy nhất từng chung chăn gối với anh là Pauline, nhưng trong vài năm trước khi họ kết thúc hôn nhân hầu như chuyện ấy ngày càng ít đi. Mỗi lần hôn Anna, môi cô rất mềm mại nhưng lúc nào cũng khép kín. Anh luôn đặt tay dưới cánh tay cô đúng ngay chỗ có thể sờ thấy áo lót, nhưng vì Anna luôn giữ cùng một tư thế, nên anh chẳng thể chạm đến ngực cô. Cô cũng không một lần “bật đèn xanh”, vì thế Michael không dám tiến thêm một bước. Thông thường, mọi người đều cho rằng những biểu hiện này thật ra cũng có ý nghĩa, vì vậy Michael cũng chỉ biết chờ đợi.
Đầu tháng 10, bà hàng xóm cũ Brunek gọi điện báo với Michael bà Serge đã qua đời, “Tôi biết anh luôn giữ liên lạc với bà ấy, nên tôi báo với anh. Chúng tôi đều đoán bà ấy qua đời trong lúc đang ngủ, rất bình thản. Con dâu bà phát hiện bà đã tắt thở khi ghé ngang qua nhà trên đường đến siêu thị sáng nay. Lễ xức dầu thánh từ 3 – 5 giờ chiều hôm nay, tang lễ bắt đầu lúc 10 giờ sáng mai!”. “Cám ơn bà! Tôi sẽ đến dự tang lễ!”.
“Nếu Pauline đồng ý, tiện thể hãy đưa cô ấy đi cùng!”. Sau đó Michael gọi cho Pauline, nhưng cô một mực từ chối. Cô viện cớ bận công việc. Bà Brunek cũng chẳng là gì của cô, chỉ là hàng xóm đối diện nhà 7 năm trước khi cô kết hôn. Michael nghĩ, cô từ chối chủ yếu vì chuyện Anna. Từ sau hôm thấy Micheal đi cùng Anna, Pauline hầu như chưa từng nói lời dễ nghe với anh, giọng điệu của cô giống hệt lúc vừa ly hôn, chua ngoa và đầy trách móc. Đối sách của Michael là vờ như chẳng biết gì cả, giọng điệu còn rất bình tĩnh, “Ồ, được. Nhưng anh sẽ thay em bày tỏ lòng thương tiếc với bà ấy!”.
“Dĩ nhiên tự em biết phải làm gì, không cần đến anh!”. “Được thôi, tạm biệt!”.
Sau khi gác máy, anh cũng không biết tại sao mình lại gọi điện cho Anna, mời cô cùng đi dự tang lễ.
Anna hầu như không gặp bà Serge. Thực tế, Anna hầu như chẳng có ấn tượng về cái tên này. “Hình như em có gặp bà ấy một lần trong lễ cưới của anh và Pauline, sau đó thì không gặp nữa, nhưng em vẫn nhớ bà ấy là người rất thân thiện. Hình như hôm đó bà còn tặng vợ chồng anh món quà còn to hơn cả bà?”.
“Một bức tượng thạch cao”. “Gì cơ?”.
“Một tượng bé trai cao 4 feet bưng hai mâm đầy trái cây và bánh ngọt”.
“Ôi, trời ạ!”.
“Anh muốn em ở bên cạnh, một mình về đó quả thật buồn não. Mọi chuyện quá khứ lại hiện ra trước mắt, hơn nữa những người anh quen biết trước đây, giờ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mai em có tiết dạy ở trường không? Anh sợ lỡ như…”.
“Không sao, sáng mai em không có tiết dạy. Nhưng có thể 1 giờ trưa về đến trường không anh?”.
“Dĩ nhiên rồi!”.
“Vậy em sẽ đi với anh!”.
Sau khi gác máy, Michael tự nói với mình, có lẽ Anna xem anh hơn bạn bình thường một chút, nếu không sao cô lại đồng ý chuyện này? Trong lòng anh chợt thấy có lỗi với bà Serge, vì có vẻ như anh lợi dụng cơ hội này để hẹn hò với Anna.
Michael mặc bộ com lê đen đến dự tang lễ, hơn nữa anh rất vui vì Anna cũng mặc đồ đen. Thời tiết hôm đó rất tuyệt, mát mẻ và thoáng đãng. Lúc vừa đến St. Cassian, tiện đường Michael ghé thăm cửa hiệu cũ. Nhưng khi rẽ vào góc đường, anh ý thức được việc mình đến đây quả là một sai lầm. Trong ký ức của anh, cửa hiệu đã trải qua rất nhiều thay đổi: từ một cửa hàng tạp hóa biến thành một quán rượu; sau đó lại trở thành một tiệm quần áo cũ, khắp nơi đều treo đầy quần áo bạc màu. Nhưng hôm nay khi anh trở lại, thật không ngờ, trên cửa sổ dán rất nhiều giấy. Anh lái xe về trước một chút, sau đó nhìn qua cửa sổ. Tầng hai lâu rồi không có người ở, giờ đã thành kho chứa đồ. Anna cũng không kềm được thốt lên: “Tiếc quá!”.
“Thật may vì mẹ không thấy tình cảnh bây giờ!”.
“Ở đây trông nhỏ hơn trước phải không? Em biết mọi người khi trở về chốn xưa đều nói thế, nhưng chỗ này quả thật trông rất nhỏ. Không ngờ, mọi người có thể mua được những thứ họ cần ở đây”.
“Đúng thế, nhưng trước đây khách cũng chẳng cần gì nhiều, một phần cũng do hàng hóa không được đa dạng”.
Trên đường đến nhà thờ dự tang lễ, Michael luôn nghĩ đến cửa hiệu mở ở vùng ngoại ô, vừa rộng vừa sáng, thỉnh thoảng nhìn hàng hóa: bánh quy Anh, ô liu Tây Ban Nha, mù tạt Pháp, anh thật không dám tin tất cả đều là của mình. Anh thấy mọi thứ trước mắt đều là hư ảo, dù lúc đầu đều là chủ ý của anh. Pauline chỉ hối thúc anh dọn đi thôi.
Michael dừng xe ở phía sau một căn nhà nhỏ, nhưng không xuống xe ngay, mà ngồi đó đặt tay trên bánh lái, Anna cũng nhìn anh vẻ khó hiểu.
“Giáng sinh năm ngoái, theo thông lệ anh tặng quà cho Eustace, một phong bì tiền. Em còn nhớ Eustace không? Anh đoán chắc em không nhớ, anh ấy là một người da đen, lúc trước làm việc trong cửa hiệu của anh. Anh ấy nghỉ việc khi anh bán cửa hiệu, nhưng bọn anh vẫn luôn giữ liên lạc. Khi anh gõ cửa, một chàng trai trẻ ra mở. Cậu chàng tóc quăn, mặc chiếc áo to dài với quần bò. Anh ngờ vực hỏi: ‘Eustace sống ở đây đúng không?’. ‘Ông là ai?’. ‘Tôi là chủ trước đây của anh ấy, đến gửi tặng anh ấy quà Giáng sinh’. ‘Ông ấy không cần phong bì của ông!’.
‘Cho hỏi?’ Không chờ anh nói hết, cậu chàng nói, ‘Mang phong bì của ông rời khỏi đây đi!’. Sau đó anh nghe tiếng Eustace vọng từ trong nhà ra, ‘Ai thế? Jimmy? Ai đến thế, Jimmy?’. Chàng trai trẻ không trả lời, chỉ luôn miệng nói với anh: ‘Ông tưởng mình là ai chứ? Còn lặn lội từ xa đến đây gửi phong bì này?’”.
“Tiếp đó cậu chàng đóng cửa lại, anh chẳng biết cậu ấy nghĩ gì, cả Eustace nữa. Nhưng quả thật anh không có ý làm tổn thương họ. Suốt mấy năm nay, anh luôn làm thế, hơn nữa Eustace cũng luôn lễ phép nói cám ơn anh”.
“Có lẽ, thời gian đã làm thay đổi tất cả!”.
“Quả thật họ thay đổi rồi”. Michael thở dài một tiếng, sau đó mở cửa xe.
Thời gian trôi qua, nhà thờ cũng có những thay đổi. Michael vừa bước vào đã nhận ra ngay điều đó: tuy nhà thờ vẫn tối mờ thế, khắp nơi lan tỏa mùi nến, nhưng trong đó chỉ có số ít người mặc đồ đen đến chia buồn. Những người khác ăn mặc sặc sỡ, còn là kiểu trang phục mà trước đây có nằm mơ họ cũng không dám mặc vào nhà thờ – áo thun, áo pôlô (người chơi cưỡi ngựa và dùng cái chày có cán dài đánh quả bóng vào trong cầu môn), phục sức vải kaki và cả giày thể thao. Wanda Lipska bước qua lối đi giữa các dãy ghế, cô mặc bộ trang phục tựa như đi tham gia một cuộc đua thuyền – áo thể thao hải quân và quần sọc trắng. Leo Kazmerow ngồi ở dãy ghế đầu, mặc chiếc áo gió màu xanh. Khi quay đầu chào, Michael thấy trên ngực áo anh ta may logo của công ty dầu khí. “Michael!”, anh la lên. Sau đó, Leo ngoảnh đầu gọi vợ mình, “Nhìn nè, em yêu, xem ai đây?”. Vừa nhìn thoáng qua, Michael không nhận ra vì cô tròn lên rất nhiều. Tóc cô nhuộm màu nâu, rất hợp với chiếc áo chất liệu bông cô đang mặc, hơn nữa nó lại rất bồng bềnh.
Michael vẫn chưa kịp giới thiệu Anna, nghi thức tang lễ đã bắt đầu. Một vị cha xứ bước lên thánh đường, bắt đầu cầu nguyện với giọng điệu rất nghiêm trang. Sau đó, sáu chàng trai cao gầy đẩy quan tài vào, chắc đấy là cháu của bà Serge.
Anna dựa rất sát vào Michael, đến nỗi anh cảm thấy được hơi ấm của cô. Chẳng biết từ lúc nào, tay cô đặt bên tay anh, Michael chợt nắm chặt lấy tay Anna, sau đó anh lại nghĩ về một đêm vào tuần trước. Khi Anna chuẩn bị rời khỏi, bỗng nhiên anh lấy hết can đảm nói: “Tối nay em ở lại đây nhé!”. Anna chỉ hỏi ngược lại: “Ở lại sao?”, “Ừm, ở lại nhé!”. Có một khoảnh khắc Michael cảm thấy cô sẽ ở lại, vì cô mỉm cười rất tươi với anh, nhưng không ngờ, cô ngả người về trước hôn nhẹ lên má anh, sau đó nói lời chúc ngủ ngon rồi ra về. Anh rất hối hận trước sự đường đột của mình, mong rằng nó không phá hỏng tất cả!
Lúc nghi thức kết thúc, vợ Leo lại đến chào họ. Michael vẫn nắm chặt lấy tay Anna. Dưới mắt những người hàng xóm, giờ anh vẫn chưa được tha thứ, vẫn chưa thể đường hoàng ở bên Anna, thế nên khi bà Brunek nói với anh: “Cho tôi gởi lời hỏi thăm Pauline? Quả là người phụ nữ tội nghiệp! Một mình còn phải nuôi đứa cháu ngoại!”, Michael chỉ nhún vai, hơn nữa anh chẳng muốn biện bạch gì cho mình.
Khoảng 11 giờ, nghi lễ kết thúc. “Giờ anh đưa em về trường có kịp không?”. Michael hỏi khi họ cùng xuống cầu thang, “Chúng ta vẫn còn thời gian đi dùng bữa. Em muốn ăn gì nào?”.
“Thôi, cám ơn anh! Em còn phải về nhà giải quyết một số việc trước khi đến trường!”.
Anh biết mình cũng có rất nhiều việc phải làm. Nhưng vì Anna, anh sẽ cố gắng. Dĩ nhiên, Anna không hề cảm nhận được điều này.
Trên đường đưa cô về, Michael luôn im lặng, thỉnh thoảng Anna liếc nhìn anh một cái, cũng chẳng nói gì.
Họ đến đường Falls, Michael luôn nghĩ đến phản ứng của Anna. Anh bấm đèn xi-nhan, rẽ trái trước sau đó rẽ phải đến lối vào nhà Anna, dừng lại ở đó.
“Cám ơn anh, Michael. Tối mai chúng ta cùng dùng bữa tối chứ?”. Anna chợt đề nghị.
“Anh nghĩ em thích anh rồi”. Bỗng nhiên Michael đổi đề tài.
Tiếp theo là khoảng khắc im lặng đến căng thẳng. Nào ngờ Anna trả lời: “Em thấy hình như mình yêu anh rồi!”.
Thế rồi họ bắt đầu sống chung, thường là ở nhà Anna, vì ở đây thoải mái hơn. Đêm nằm xuống, Anna rất thích dùng cánh tay ôm nhẹ lấy đầu Anna, cho dựa vào vai anh. Mọi chuyện đều rất tự nhiên, hệt như một đôi vợ chồng, anh rất hài lòng với cảm giác này. Lúc ngủ, cô thích nắm tay anh đặt trên bụng mình, dường như bàn tay đó là một phần cơ thể cô, điều này cũng làm anh rất vui. Cô luôn thích mặc áo ngủ trắng, mỗi sáng thức dậy, tâm trạng cả hai đều rất vui vẻ.
Thậm chí họ còn kể cho nhau nghe những bí mật tận sâu đáy lòng. Anna bảo thật ra cô đã hết yêu chồng vài năm trước khi anh qua đời. Michael còn lo lắng nếu kể chuyện Lindy, Anna sẽ trách anh, “Anh thấy quan hệ giữa mình và các con chẳng mấy thân mật, anh còn nhớ lúc anh biết Pauline sinh bé gái đầu lòng, bỗng nhiên anh thấy nhẹ lòng rất nhiều, vì nó sẽ không phải gánh chịu quá nhiều trách nhiệm!”.
Anna luôn im lặng nghe cả câu chuyện, sau đó mới đưa ra lời bình luận. Michael đánh giá rất cao các điểm này của cô. Cô luôn hỏi một số vấn đề, thỉnh thoảng có những câu rất bất ngờ. Chẳng hạn một lần nọ bỗng nhiên cô hỏi anh: “Lindy có thật là mẹ của Pagan không?”.
“Sao?”.
“Có khi nào Lindy nuôi con giùm bạn không?
“Chuyện đó, thật ra bọn anh có thể xác định. Trước khi nó đi học, anh đã điều tra, Lindy quả đúng là mẹ ruột của Pagan, nhưng không biết bố nó là ai!”.
“Chắc chắn là người Tây Ban Nha, nhìn mái tóc và đôi mắt nâu của Pagan là em biết ngay”.
Một lần khác cô hỏi Michael, sao lúc đầu anh không cùng Pauline đi tư vấn hôn nhân. Michael ngạc nhiên nói: “Tại sao? Nếu thế biết đâu lời tụi anh nói đều là sai cả”.
“Có lẽ anh nên nói với họ, hôn nhân của hai người không hạnh phúc!”.
“Anh nghĩ nếu đi tư vấn hôn nhân, em phải có một lý do hợp lý, chẳng hạn ‘cô ấy làm sai điều này’ hoặc ‘anh ta làm sai việc kia’, nếu tính cách bất hòa, rất khó là một lý do”.
“Nhưng lúc hai người gặp nhau, đều cảm thấy tìm được người thích hợp nhất với mình mà?”.
“Em biết đấy, giờ anh cũng chẳng còn nhớ suy nghĩ của mình khi ấy nữa, có lẽ anh thấy mình cần có một cô bạn gái. Và Pauline lại xuất hiện đúng ngay lúc đó”.
Anna nhìn anh hồi lâu. Ở cùng Anna, Michael thấy rất thoải mái, chuyện gì cũng có thể nói, vì cô không có phản ứng quá khích như Pauline, cũng không suy diễn lung tung, chẳng hạn lúc thế này Anna sẽ nói: “Lúc đó em cũng thế! Sao chúng ta không yêu nhau nhỉ?”.
Cuối tuần vì Pagan, Michael đành về nhà mình. Tuy anh biết rõ phải làm thế, nhưng mỗi khi đến cuối tuần anh đều lo lắng bất an. Giờ đây, đối với Pagan, bạn bè quan trọng hơn người nhà, nên dạo này nó thường tụ họp với một số bạn nam, hơn nữa còn hẹn hò với các bạn nữ. Lúc Michael về nhà mình, Anna ở nhà dường như cũng chẳng có gì làm, thế nên hai người thường nấu cháo điện thoại giết chết sự buồn tẻ này. Một lần Michael kể khổ: “Buồn cười thật, giờ anh đã thành ông già trông cửa, nhiệm vụ duy nhất của anh là khi Pagan đưa bạn bè về nhà, anh ra mở cửa”.
“Thế mới thấy anh vẫn còn phong độ chứ!”, Anna vừa đùa vừa dỗ dành anh, khi nghe xong Micheal liền vui lên.
Pagan và Anna quan hệ cũng khá tốt, ít ra khi cuối tuần Anna đến nhà, nó rất thân thiện, nhưng khi không có Anna, nó luôn nói với Michael: “Cháu thật chẳng hiểu sao ông không thể làm lành với bà? Giờ ông lại tái hôn, thật quá tội nghiệp cho bà!”.
“Thật ra, ông bà đâu có kết hôn”.
“Ồ, đấy chính là lý do ông làm thế sao?”.
Thanh niên bây giờ ích kỷ quá. Lúc đầu khi anh đề nghị ly hôn, con cái anh – tuy giờ chúng chẳng còn là trẻ con – đứa nào cũng lồng lộn điên cuồng, nổi cáu lên hệt như đứa trẻ lên ba. George từng nói: “Thế chẳng hợp lẽ thường chút nào, bố không chung thủy! Giờ đây bố hệt như một người khác”.
Michael cũng rất ấm ức: “Quả thật có hai người khác nhau trong bố”.
“Vậy con cũng nên có hai người bố”.
“Ối, Thượng đế ơi! George, giờ con cũng làm bố rồi, điều con lo nhất là gì? Hơn nữa, tình huống lúc đó bố chẳng có lựa chọn nào khác, chính mẹ con đuổi bố đi, con còn nhớ không?”.
“Con chỉ nhớ bao năm nay mẹ luôn đuổi bố đi, nhưng chẳng hề có ý muốn bố đi thật”.
Rất nhiều người đều nghĩ Michael làm sai. Nhưng Anna giống như một con suối trong lành, chỉ khi ở bên cô, anh mới tìm được chút an ủi.
Giáng sinh năm đó nhạt nhẽo vô cùng, thậm chí chẳng có lấy một bông hoa tuyết. Nhưng tháng giêng năm sau, một cơn mưa tuyết lặng lẽ đến trong đêm. Đó là một sáng chủ nhật, Michael thức dậy rất muộn. Khi tỉnh giấc, anh phát hiện trong nhà choáng ngợp mảng ánh sáng trắng lóa mắt. Anh đứng dậy nhìn ra cửa sổ, rất bất ngờ phát hiện chỉ trong một đêm cây cối đã trở thành màu trắng. Xe hơi dưới nhà cũng biến thành lều tuyết của người Et- ki-mô.
Anh đến phòng ngủ của Pagan, gõ cửa, sau đó đưa đầu vào. Phòng buông rèm, nên hơi tối, trong không khí còn tỏa ra mùi ẩm mốc. Pagan co rúm trong chăn, Michael nghe thấy tiếng thở đều đặn của nó, “Này, có bất ngờ đó, bên ngoài tuyết rơi đấy!”.
Pagan bị đánh thức, miệng phát ra tiếng lầu bầu. “Ông đi xúc tuyết trên đường giúp bà cháu nhé”. Pagan chẳng phản ứng gì.
“Dậy mau, thay quần áo, lát nữa còn phải đến nhà Anna đấy! Cháu quên rằng bà mời chúng ta đến ăn bánh quế sao? Lúc ông về cháu phải chuẩn bị xong đấy! 9 giờ 45 phút nhé!”.
“Ừm…”, hình như Pagan vẫn chưa hoàn toàn tỉnh giấc. “Có nghe ông nói gì không?”.
“Ừm…”.
Michael từ bỏ ý định đánh thức nó dậy, sau đó nhẹ nhàng đóng cửa phòng.
Anh vội đi tắm, cạo râu, ăn mặc chỉnh tề, lại tìm găng tay và giày ống mùa đông năm ngoái không có cơ hội dùng đến, khi anh chuẩn bị xong đã là 9 giờ. Tuyết trên vỉa hè phía sau chung cư đã được quét dọn sạch, nhưng tuyết ở bãi đậu xe vẫn còn đấy. Anh ra sức lắm mới đến được xe, sau đó lau sạch tuyết ở cửa xe rồi mới mở ra. Anh nổ máy, mở máy sưởi và cần gạt nước, rồi dọn sạch tuyết trên nóc xe và kính chắn gió. Anh ngỡ dọn sạch lớp tuyết dày thế sẽ rất lâu, nào ngờ tuyết dưới bánh xe một thoáng là tan ngay. Anh dễ dàng lái xe ra ngoài, hướng về Elmview Acres.
Tuyết trong vườn nhà Pauline khá dày, nếu quét dọn từ vệ đường vào trong sẽ rất khó. Thế nên Michael rất cẩn thận đi đến cửa, sau đó bấm chuông. Pauline ra mở cửa rất nhanh. Hôm nay cô mặc áo trượt tuyết màu đỏ, còn đội mũ có đính gù len (quả cầu nhỏ bằng len dùng để trang trí trên mũ), “Em vừa gọi điện cho anh, nhưng chẳng ai nghe máy!”.
“Thiệt tình, chắc Pagan lại ngủ nữa rồi!”. “Em tưởng phải tự mình xúc tuyết chứ!”.
Những người phụ nữ khác đều làm thế! Thật ra, dù họ giờ không còn là vợ chồng, nhưng thỉnh thoảng Pauline vẫn bằng lòng cho anh đến nhà làm một số việc nặng nhọc. Thật tình, Michael vẫn rất vui, hơn nữa anh cũng rất bằng lòng làm thế! Vì vậy anh có chút tự hào khi bước đến lấy cái xẻng xúc tuyết.
Tuyết rất nhẹ, nhẹ tựa như mây, nên Michael chẳng mấy tốn sức. Anh dọn sạch từ cửa nhà đến vệ đường rất nhanh. Pauline cầm một cây chổi rơm đi sau Michael, quét những chỗ chưa dọn sạch. “Bất ngờ thật đấy! Lúc sáng thức dậy, nhìn ra cửa sổ, em chẳng dám tin vào mắt mình”. Hôm nay trông Pauline có vẻ phấn chấn, giọng của cô nghe rất nhẹ nhàng, trong bầu không khí tươi mát mặt cô đỏ ửng, đôi môi phảng phất nụ cười. Rất hiển nhiên, cơn mưa tuyết này làm cô tạm quên đi nỗi oán hận với Michael. Michael cũng thế, sau khi dọn sạch tuyết, anh quay đầu nhìn Pauline cầm cây chổi rơm nhỏ, cũng bất giác mỉm cười. Cô đeo đôi găng tay màu đỏ và đội chiếc mũ len, chỉ lộ ra một ít tóc phía trên làm Michael bỗng nhiên nhớ đến hình ảnh của cô lúc trẻ.
“Số ống đó thế nào?”, Michael bỗng nhiên hỏi, “Em định để số ống dưới tầng hầm tiếp tục rỉ nước sao?”.
“A, anh nhắc em mới nhớ! Lát nữa em xuống xem ngay”.
“Ít nhất tối nay phải chú ý một chút! Nếu nhiệt độ giảm xuống, nhớ phải mở vòi nước ra!”.
“Michael, vào uống cà phê không? Em vừa pha một ấm đấy”.
“Ồ!” anh vụng về vén tay áo nhìn đồng hồ, “Thôi, cám ơn em! Anh phải về rồi!”. Anh đặt xẻng trở vào chỗ cũ, trước khi về còn sắp xếp lại những dụng cụ để lung tung. “Anh còn phải đón Pagan”.
“Em nghĩ nó mà thấy tuyết chắc chắn sẽ rất vui!”. “Nó không chịu thức dậy”.
“Nó rất giống George hồi nhỏ, anh nhớ không? Nếu không đánh thức, George thậm chí có thể ngủ đến tối hôm sau!”.
“Bọn trẻ ở tuổi dậy thì đều thế!”.
Khi đi đến chỗ để xe bên đường, Michael nghĩ chắc Pauline đã đóng cửa rồi. Anh ngoảnh lại nhìn, nào ngờ Pauline đang đóng cửa bỗng dừng lại, sau đó đứng trước gió nhìn anh một lúc. “Cám ơn anh đến giúp, Michael! Em không biết mình xoay xở thế nào với đống tuyết và mấy đường ống – nếu anh không đến”.
“Không có gì đâu mà!”.
Michael nhìn qua kính chiếu hậu, thấy Pauline vẫy bàn tay đeo găng chào từ biệt anh.
Khi anh về đến nhà đã 9 giờ 50 phút, nhưng Pagan vẫn còn ngủ. “Này, cháu chưa thức à?”. Michael bực bội hỏi, sau đó anh đi đến kéo rèm cửa sổ ra, không khí vẩn đục trong phòng làm anh khó chịu. “Pagan? Có nghe ông gọi không? Anna đang chờ chúng ta đấy!”.
Pagan trở người, lầu bầu ngồi dậy. Một bên mặt còn để lại dấu ấn, mắt cũng híp lại. “Cháu có biết bên ngoài tuyết rơi rồi không?”, Michael hỏi.
“Ơ?”.
“Nhìn ra cửa sổ xem!”.
Pagan quay đầu nhìn ra ngoài nhưng chẳng nói gì cả, sau đó lại đổ phịch người xuống giường.
“Anna làm bánh quế chờ chúng ta đấy, Pagan. Lý ra chúng ta đã xuất phát vào 5 phút trước!”.
“Cháu phải đi sao?”.
“Dĩ nhiên!”, Michael trả lời rất dứt khoát. Sau đó anh trở ra phòng khách gọi điện nói với Anna họ sẽ đến trễ. Nào ngờ máy bận, có lẽ cô ấy đang nói chuyện điện thoại với con gái, vì con gái cô thường gọi điện vào chủ nhật.
Pagan thức dậy thay quần áo. Dường như lúc đó nó mới thấy tuyết, nên phấn khích vô cùng. “Tuyệt quá! Ông nghĩ mai trường có cho nghỉ không?”.
“Ai mà biết chứ? Có lẽ!”.
“Ối, trời ạ! Cháu vẫn chưa có ván trượt tuyết! Chúng ta tiện đường ghé qua chỗ bà lấy nhé”.
“Chúng ta trễ rồi, Pagan, sau khi rời khỏi nhà Anna chúng ta mới lấy nhé!”.
“Cháu phải đến nhà Anna thật sao? Không được trượt tuyết chán chết! Cháu dám cá nhóm Keith đi trượt tuyết từ lâu rồi!”.
“Ông dám cá chúng vẫn còn đang ngủ khò!”, sau khi đóng cửa xe cho Pagan, Michael ngồi vào sau tay lái.
Lúc này, phần lớn tuyết trên các con đường đều được dọn sạch, mặt trời cũng đã ló lên. “Ông thấy bên đó không? Tuyết bắt đầu tan rồi!”.
“Sau khi ăn bánh quế, phải nhớ cám ơn cô Anna đã mời cháu đấy”.
Michael tặng Anna một bộ dụng cụ làm bánh quế xem như quà Giáng sinh, nên hôm nay cô có nhã hứng làm món bánh này mời họ đến thưởng thức. Anh còn tặng cô một máy lọc cà phê, một bếp điện nướng bánh mì và một máy xay sinh tố. Michael còn nói với Anna: “Giờ em có đủ dụng cụ rồi, chẳng cần phải chạy tới chạy lui nữa!”, Anna cười rất vui.
Lúc họ đến nhà Anna đã là 10 giờ 5 phút. Anna đeo tạp dề ra hành lang đón họ, Michael bước xuống xe nói lớn: “Xin lỗi, ông cháu anh đến trễ!”.
“Không cần xin lỗi đâu! Vừa nãy em còn lo không biết hai người có bị tuyết trên đường che lấp không!”.
“Pagan bị con sâu ngủ nướng chụp mũ đấy!”.
“Phải, cứ trách cháu là được rồi!”. Pagan lầu bầu, tiện thể dập mạnh cửa xe, sau đó nói với Anna: “Chủ nhật tự cháu cũng biết dậy. Ông bảo giúp bà xúc tuyết, cháu cũng đâu biết là lúc nào, cứ tưởng là đến nửa đêm!”.
Michael không định nói cho Anna biết việc mình xúc tuyết giúp Pauline. Dĩ nhiên đây cũng chẳng phải bí mật gì, nhưng anh không muốn Anna biết. Thế nên anh liền nhìn lướt qua Anna, muốn đọc xem phản ứng của cô sau khi nghe những lời này, nhưng cô chẳng có biểu hiện gì.
Anna cũng dọn sạch tuyết ở vỉa hè trước cửa, chắc cô dậy rất sớm. Lúc bước lên thềm, Michael chột dạ nói: “Nếu có thể đến sớm, anh cũng giúp em dọn tuyết rồi”.
“Ồ, không cần đâu”, cô để cho Michael hôn lên má mình, “em thấy em vẫn có thể làm tốt những việc này. Cám ơn anh!”.
Qua giọng điệu của Anna, chẳng phát hiện được sự ghen tức nào, nhưng sao khi anh hôn cô, cô chỉ xoay nhẹ mặt một cái?
Anna đã nhóm lửa lò sưởi, khắp nơi lan tỏa mùi si-rô cây thích. “Hai ông cháu cứ ngồi chơi, em đi lấy bánh quế. Hai vị uống cà phê hay nước cam nào? Pagan, cô có chuẩn bị Coca cho cháu đấy!”. Cô không ngừng đi qua đi lại giữa bếp và phòng ăn như chiếc thoi đưa. Pagan vẫn không ngừng bàn luận về cái ván trượt tuyết, “Giờ mọi người đến núi Breakneck cả rồi, chờ đến lúc cháu đến đó, tuyết chẳng còn để mà chơi”.
“Tuyết không tan đâu mà lo, Pagan”.
“Dĩ nhiên là không! Nhưng ông thử nghĩ xem! Keith và Rich đã nô đùa nát chỗ đó rồi, tuyết sẽ bẩn hết”.
Michael suy nghĩ một lúc. Phải, mấy ngày này, Pagan cũng vất vả nhiều, vì đi lại giữa hai nhà. Thực tế, nơi Michael sống không thể gọi là khu nề nếp, vì toàn là những người già và các đôi vợ chồng son, lại sặc mùi thương nghiệp hóa.
“Nghe ông nói này, Pagan, chúng ta ăn xong rồi đi, ông sẽ đưa cháu đến chỗ bà lấy ván trượt tuyết, rồi đưa cháu đến núi Breakneck”.
“Thật sao? Hay quá! Vậy cháu ăn xong rồi!”.
“Nhưng, ông vẫn chưa ăn xong!”, Michael tiện tay lấy một cái bánh quế, “Ông thấy cháu nên ăn thêm một cái nữa kẻo lại đói”.
Điều làm Michael bất ngờ là, Pagan nghe lời anh ngay, có lẽ vì được đi trượt tuyết nên tâm trạng nó đã vui lên, thế nên nó ăn thêm hai cái bánh, rồi uống một ly Coca. Khi Anna hỏi nó thích ván trượt tuyết như thế nào, nó diễn thuyết một bài. “Bà biết không, Rich mua một ván trượt tuyết mới ở Thụy Điển, rất nhỏ. Bà có thể tưởng tượng được tốc độ trượt của bạn ấy! Nhưng đắt tiền lắm, cháu dám cá đấy!”. Anna chỉ mỉm cười nghe nó nói, thỉnh thoảng uống vài ngụm cà phê. Dường như cô rất khéo xã giao với bọn trẻ, luôn hỏi những câu về sở thích của chúng, như âm nhạc và những hoạt động ngoài giờ khác. Còn Pagan tuy đã 14 tuổi, nhưng khi giao tiếp với người khác vẫn tỏ ra rất vụng về. Nó không ngừng khua tay múa chân mô tả các loại ván trượt tuyết khác nhau, có lúc còn đánh đổ cả ly Coca.
Lúc đó Michael thấy Anna đang rất giận anh, bằng không sao cô chỉ nhìn Pagan, chẳng chịu nhìn anh lấy một cái?
Sau bữa sáng, Michael mời Anna cùng đi trượt tuyết ở núi Breakneck, nhưng cô từ chối, “Hôm nay có buổi hòa nhạc của Ed, anh quên rồi sao?”.
Quả thật Michael không nhớ.“Buổi hòa nhạc bắt đầu vào lúc nào?”, anh hỏi.
“1 giờ trưa. Đây là buổi hòa nhạc bằng piano lớn của anh ấy, nên em nghĩ chúng ta có thể cùng đi, đồng ý không? Anh còn phải đưa Pagan núi Breakneck, chắc phải đến trưa. Một hai giờ sau đó lại đón nó về, nên chúng ta tự đi, rồi hẹn gặp sau”.
“Cũng được! Chúng ta hẹn gặp ở đó nhé!”.
Anna thở một hơi thật sâu, đang định nói gì đó, nhưng Michael đã quay đi lấy áo jacket của mình rồi.
Con đường trước nhà Pauline đã khô, nó làm Michael rất hài lòng. Pagan xuống xe lao thẳng vào nhà, để lại Michael ngồi chờ trên đó. Vài phút sau, Pagan chạy ra, đeo găng tay màu đen, mang đôi ủng nhựa rất lớn, nhưng hình như vẫn chưa kịp buộc dây giày. Nó hát ngân nga chạy thẳng đến nhà kho, Pauline lo lắng nói lớn: “Đừng quên mang theo khăn choàng đấy!”.
“Lúc trượt tuyết, cháu không thể đeo chăn choàng!”. Thấy Pagan tất tả chạy vào nhà kho, Pauline bất lực nhún vai nhìn Michael. Một thoáng sau Pagan lấy ván trượt tuyết ra, đó là anh chàng “phi hành gia linh hoạt” trước đây George dùng, tuy hơi cũ, nhưng vẫn rất chắc chắn. Thấy nó ra, Pauline cũng quên mất cái lạnh, chân mang vớ bước xuống thềm, sau đó dõi theo Pagan nói: “Cháu cứ như thế sẽ viêm phổi đấy!”.
“Không chừng bị người khác bất cẩn túm lấy khăn choàng, cháu không muốn chết ngạt đâu!”, giọng điệu của nó rõ ràng là thổi phồng mọi việc!
Pauline lại quay đầu nhìn Michael, anh cũng bó tay, đành cười trừ.
Họ cẩn thật đặt ván trượt tuyết vào cốp xe, sau đó xuất phát. Trên đường đi, Michael hỏi: “Cháu định chơi bao lâu?”.
“Cháu nghĩ, phải trượt đến khi mệt nhoài mới thôi!”. “Nhưng ông phải biết khi nào đến đón cháu, Pagan!”. Pagan nghĩ một lúc: “Sau khi trượt xong, cháu có thể tự về nhà bà! Cháu sẽ cùng các bạn đến nhà Keith chơi một lúc. Vậy chi bằng tuần sau cháu ở nhà bà luôn vậy!”. “Vậy đồ đạc của cháu thế nào?”.
“Những thứ cháu cần đều ở nhà bà, chỗ ông chỉ có mấy bộ quần áo của cháu thôi!”.
“Được rồi!”.
Michael dừng xe dưới chân núi. Con dốc rất dài, nhưng cũng không gọi là nguy hiểm, trải dài về phía Bắc đến ranh giới Elmview Acres. Lúc họ đến nơi, trên đồi đã có rất nhiều người đang trượt tuyết. Nhìn xa xa, mọi người mặc áo đủ màu sắc, một vài tốp nam nữ đang vất vả leo lên, có người còn chân đạp ván trượt tuyết, đĩa nhựa hoặc bìa cát-tông linh hoạt trượt xuống. Cảnh tượng lúc này trông rất giống một tấm thiệp Giáng sinh! Pagan cầm ván trượt tuyết chạy vào trong đám đông. Michael nhìn theo cháu mình một lúc rồi lái xe về.
Giờ đi đâu đây?
Chắc Anna cũng đã chuẩn bị xong, nếu anh muốn, giờ vẫn còn kịp về đón cô, nhưng anh không làm thế. Nếu anh đến, cô cáu kỉnh như trẻ con với anh thì sao? Cô không muốn dựa dẫm anh thì cứ để cô tự nhiên!
Thế rồi Michael quay đầu xe, lái về nhà.
Thỉnh thoảng Anna chỉ nói qua quýt với anh cho xong chuyện, đôi lúc cô lại tỏ ra rất chân thật. Một lần Michael từng hỏi cô: “Hồi trẻ, em nghĩ sao về anh?”. Nào ngờ cô nói: “Vấn đề này có ý nghĩa gì sao? Sự thật, em chẳng nghĩ gì cả!”. Tuy biết mình kiếm chuyện vô cớ, nhưng anh vẫn có chút tổn thương. Anh hiểu rằng việc cô chẳng nghĩ gì về anh cũng là lẽ đương nhiên. Anh chỉ là một người tình cờ gặp mặt, lại là chồng sắp cưới của bạn cô. Nhưng dù thế, Michael vẫn mong cô Anna có ấn tượng tốt về mình, dù là lời nói dối. Có lẽ cô không hề nói dối, chỉ đang lừa dối tình cảm của mình thôi. “Nhưng em luôn có cảm giác đặc biệt với anh!”, Anna thừa nhận.
Michael lái xe vào bãi đậu. Tuyết trên rất nhiều xe vẫn chưa dọn sạch, dù sao cũng là chủ nhật mà, mọi người có lẽ chẳng cần phải ra ngoài. Có một khoảnh khắc, anh tưởng tượng cảnh những đôi vợ chồng trẻ cùng dùng bữa, dựa vào nhau đọc sách xem ti vi trên ghế salon, còn cuộc sống của mình khác gì những người độc thân tội nghiệp? Anh lẻ loi bước xuống xe, về với ngôi nhà trống trải của mình.
Anh vừa mới đi đến cửa đã cảm thấy mùi hôi trong phòng ngủ của Pagan tràn khắp nhà. Bài tập lịch sử của nó vứt bừa bãi trên bàn, vậy mà còn bảo mọi thứ của nó đều ở nhà Pauline! Xem ra anh phải thu dọn những thứ đó trước khi Pagan đi học, rồi đưa đến nhà Pauline. Chết tiệt! Michael nghĩ, để Pagan tự giải quyết chuyện của nó vậy, chẳng hơi đâu mà lo!
Anh ngồi xuống ghế, thẫn thờ nhìn bầu trời ngoài cửa sổ. Anh chợt ý thức được mình chẳng có sở thích gì cả, vì thế những lúc buồn cũng không biết nên làm gì. Vậy trước khi gặp Anna, anh sống như thế nào?
Giờ hãy quên Anna đi vậy!
Bình thường anh mang báo từ cửa hiệu về, hôm nay cửa hiệu không mở cửa, cũng không có báo đọc, nên anh đành mở ti vi xem giết thời gian.
Lúc 3 giờ rưỡi, Michael vẫn còn ngồi ở đó, lúc này chuông điện thoại chợt reo lên. Anh choàng tỉnh, nhưng chỉ nhìn chằm chằm điện thoại, một tiếng hai tiếng… anh vẫn không đến nhấc máy. Hãy mau đến nghe điện thoại của cô ấy! Khi điện thoại ngừng reo, bỗng nhiên anh ngồi dậy vì ý thức được mình đã mắc một sai lầm lớn. Anh đứng dậy định đến bấm số điện thoại nhà cô – lúc nãy có phải em gọi đến không? Anh đang tắm! Anh nghĩ mình nên nói dối như vậy – lúc này điện thoại lại reo. Anh liền nhấc máy ngay: “Alô! Xin chào!”.
“Michael!”.
“Ồ, chào, Anna”.
“Giờ anh đang ở đâu?”. “Anh đang ở nhà!”.
“Ý em là… em tưởng anh sẽ cùng em đi xem hòa nhạc!”.
“Lúc nãy anh có việc phải giải quyết”. “Ồ”.
Hai người im lặng một lúc.
“Vậy, em đến chỗ anh nhé? Anh có phải đi đón Pagan không?”.
“Không, không cần phải đón nó. Nó trượt tuyết xong là về nhà Pauline”.
Michael nói rất ngắn gọn, Anna đành mở miệng hỏi: “Giờ em… đến nhà anh được không?”.
“Nhưng anh vẫn còn bận ít việc, hôm nay không được!”. “Ồ, em biết rồi!”.
“Chúng ta không gặp nhau một ngày, cũng không ảnh hưởng tới hòa bình thế giới mà!”. Michael đùa nói.
“Dĩ nhiên!”, Anna dừng một lúc mới nói câu này. “Thế nhé, chào em!”, nói xong anh gác máy.
Sau đó anh vào phòng ngủ, ngồi bên bàn xem xét sổ sách của mình, rồi dọn ngăn tủ, vứt hết những thư thông báo, giấy và danh thiếp không cần thiết đi.
Sau khi dọn dẹp xong, anh trở vào bếp, tốn rất nhiều thời gian chuẩn bị bữa tối thịnh soạn cho mình. Anh nấu cơm, sau đó còn làm món thịt bò hầm tiêu xanh và một phần salad. Anh luôn chuẩn bị quá nhiều mà chẳng ăn được bao nhiêu. Anh đứng đó, cho xà lách vào thẳng trong tô, múc thịt bò ra đĩa. Sau khi ăn xong, anh dọn dẹp bếp, rồi trở ra phòng khách tiếp tục xem ti vi.
Vừa qua 11 giờ, anh đang xem bản tin buổi tối, bỗng nhiên chuông cửa reo. Anh nhìn qua cái lỗ nhỏ thấy Anna đứng đó, mặt cô cũng chẳng có nhiều biểu cảm. Nhưng khi anh mở cửa thì thấy nước mắt đang lăn tròn trên má cô. Bỗng chốc anh hoảng lên: “Anna?”.
“Em không biết sao anh lại làm thế? Em cũng không biết mình đã làm gì sai để anh giận vậy?”. Anna vừa khóc vừa bước vào nhà, cô mặc một chiếc áo jacket đỏ trước đây Michael chưa từng thấy. “Em tưởng chúng ta sẽ có một ngày cuối tuần vui vẻ, nhưng giờ anh lại không muốn ở bên em!”.
“Không phải thế đâu, Anna. Dĩ nhiên anh muốn ở bên em!”. Anh chợt thấy hơi căng thẳng, “Trời ạ! Anh đã làm gì thế này? Thật ra anh không muốn làm tổn thương em! Anna, đừng khóc, anh xin em đấy!”. Vì trước đây chưa từng thấy Anna khóc, nên giờ anh hơi lúng túng, đành ôm lấy cô, đưa cô vào phòng ngủ. “Anna, nào, ngồi xuống đây! Ôi, trời ạ, anh xin em đừng khóc nữa được không?”.
Anh để cô ngồi trên ghế salon, sau đó quỳ xuống bên cạnh. Anh muốn nắm tay cô, nhưng Anna dùng hai tay bưng mặt. “Xin em, anh xin em đấy!”. Giờ anh chỉ biết mỗi câu này, sau đó ôm chặt lấy cô, “Nghe anh nói, Anna. Anh cũng không biết mình có vấn đề gì. Cả ngày hôm nay anh luôn như thế, trong đầu toàn những suy nghĩ điên cuồng. Anh nghĩ, có lẽ… có lẽ anh không chắc chắn về em! Quan hệ của chúng ta dường như cũng không có gì bảo đảm, chỉ ở bên nhau giết thời gian, hơn nữa lúc có Pagan, chúng ta còn phải xa nhau… anh nghĩ đã đến lúc chúng ta kết hôn rồi”.
Anna phì cười, dường như không xem lời anh nói là thật, nhưng Michael rất nghiêm túc: “Anh không đùa đâu, anh nói thật đấy! Chuyện thế này sẽ không xảy ra nữa! Mọi trở ngại và hiểu lầm, những điều không chắn chắn về nhau cũng sẽ tan biến… Thế nên Anna, xin em hãy lấy anh!”.
Cô đặt tay xuống, sau đó nhìn anh. Mặt cô vẫn còn ướt, mi mắt cũng thế. Cô hít sâu một hơi: “Có lẽ anh nói đúng!”.
“Nghĩa là em đồng ý?”. “Em nghĩ là vậy!”.
“Em sẽ lấy anh?”. “Em nghĩ là vậy!”.
“Ôi, Anna, chắc chắn em sẽ không thất vọng đâu! Sau này anh sẽ chăm sóc em thật tốt!”.
Một lần nữa, anh lại ôm cô vào lòng.
Giờ phút đó Michael thấy mình là người hạnh phúc nhất trên đời! Nhưng không hiểu sao, Michael vẫn cảm thấy có một nỗi buồn không thể lý giải. Có lẽ chuyện xảy ra hôm nay gây tổn thương cho anh chứ không phải Anna, mà cũng có lẽ nó làm tổn thương cho cả hai người!