Cuối trời hợp tan

Cuối trời hợp tan

Anne Tyler

Dịch giả: Kiến Văn, Bội Bội

“Mẹ muốn con lấy cây kim to hơn không?”, Pauline hỏi, cô không thể tập trung chú ý vào cuốn tạp chí.

“Không cần đâu, à, chờ chút đã, để mẹ xem nó ra sao”. Michael ngáp một cái sau tờ báo, cô biết anh chỉ giả vờ thôi. Anh gấp báo lại, đặt sang một bên, vươn vai. “A”, anh nói, rồi lại ngáp thêm cái nữa, “Ôi, con mệt quá, buồn ngủ rồi”.

Pauline lật một trang báo, thấy một cô gái mặc chiếc tạp dề tai bèo đang bưng một đĩa thịt hầm lớn.

“Pauline, em không ngủ sao?”. “Lát nữa”. Cô trả lời.

Nói xong, cô lại lật tiếp một trang báo.

Michael đứng dậy, chần chừ, cô cảm giác được anh đang nhìn mình. Theo thường lệ, tối thứ bảy là ngày quan hệ chăn gối, rõ ràng anh đang ám chỉ điều này. Anh luôn thích làm việc theo một cách cố định. Cô vẫn chuyên chú xem cách chế biến món khoai tây nấu gratin (vỏ bánh mì vụn giòn hoặc phó mát thái vụn).

“Thôi được”, cuối cùng Michael nói, “nếu thế, ồ, chúc mẹ ngủ ngon”.

“Chúc con ngủ ngon”. Mẹ anh nói.

Nhưng anh vẫn đứng yên một chỗ, cuối cùng Pauline ngẩng đầu lên.

“Một phút sau con sẽ vào chứ?”, anh hỏi. “Vâng”.

Nói xong, cô lại dán mắt vào cuốn tạp chí. Anh quay người, thọt từng bước ra khỏi phòng khách.

Lúc này radio đang phát bài “Ngủ ngon, polka”, tức kết thúc chương trình, chắc cũng 9 giờ rồi. Bà Anton cắn đứt sợi chỉ, ghim kim vào tay vịn ghế salon. “May xong rồi sao mẹ?”, Pauline hỏi.

“Hệt như cái mới”. Bà Anton đáp.

Bà đặt đồ của Karen lên bàn cà phê, chuẩn bị đứng dậy. Lúc này Pauline bỗng nhiên cảm thấy muốn ngồi lại đây mà không muốn vào phòng. Hơi thở của cô trở nên gấp rút, toàn thân run lên. Nhưng, sao lại như thế? Cô chỉ muốn ra ngoài đi dạo vào buổi tối thôi, thế đâu có tội gì. “Chà!” cô nói, “Cám ơn mẹ!” giọng cô yếu lạ thường, nhưng bà Anton không hề chú ý điều này.

“Đừng khách sáo”. Bà đáp.

Bà nhổm dậy, chuyển đổi tư thế ngồi trên ghế salon, sau đó dùng tay chống lên tay vịn của ghế, lấy sức đứng dậy. Nhưng Pauline vẫn tiếp tục trò chuyện với bà: “Mong Karen có thể mặc tiếp, gần đây con bé lớn rất nhanh. Trời trở lạnh, chắc bộ đồ này đã quá nhỏ rồi! Mẹ thấy sao?”.

“Phải đấy, con bé đang phát triển chiều cao”. Bà Anton trả lời mà hồn để đâu đâu, rồi tiếp tục đi ra hành lang.

“Thế thì tiếc quá, uổng công mẹ may lại cho con bé rồi”.

“À, không sao”.

“Dù gì chúng con cũng chẳng còn đẻ thêm đứa nào để mặc tiếp quần áo của chúng nữa!”.

Cuối cùng bà Anton cũng bị lời nói của cô thu hút. Bà dừng một lúc, quay người lại, hỏi với giọng tò mò không biết chán: “Ồ?” bà nói, “Giờ con không thể khẳng định thế”.

“Nhưng ba đứa đã nhiều lắm rồi”, Pauline nói với bà, “mẹ không nghĩ thế sao? Chỉ toàn phụ nữ nuôi dạy con cái, chúng ta phải gánh trách nhiệm đó, đàn ông chẳng màng gì cả.”.

Bà Anton nghiêng đầu suy nghĩ vấn đề này, “Con biết đấy”, bà nói, “mẹ nghĩ John chẳng biết gì về nỗi cực nhọc gian nan của mẹ. Còn nhớ một lần cả Danny và Michael đều mắc bệnh đậu mùa, mẹ chẳng biết làm thế nào, chỉ muốn chết cho xong! Một đêm, mẹ không thay quần áo đã lăn ra ngủ, lúc tỉnh giấc đã là sáng hôm sau, phát hiện John đứng trước mặt mẹ, ‘Em yêu!’ ông nói với mẹ, ‘Em yêu! Anh không thấy bữa sáng!’”.

Pauline cười rộ lên. “Nói thế là mẹ hiểu ý con rồi”. “Ừ, con có ba đứa! Còn mẹ chỉ có hai”.

Sau một hồi, dường như bà nhớ ra điều gì, “Chà, mẹ nên ngủ thôi”. Nói xong bà liền xoay người bước ra hành lang. “Ngủ ngon, con yêu”. Bà nói với Pauline.

“Chúc mẹ ngủ ngon”.

Pauline gấp cuốn tạp chí lại, đặt sang một bên, rồi chồm người tắt radio. Cô nghe tiếng bước chân mẹ chồng lê qua hành lang, cảm giác run sợ lại ùa đến trong cô lần nữa.

Chỗ nước vấy trên áo đã khô từ lâu, nếu phủi thẳng một chút, cô thấy cũng được, nhưng quả thật cô rất muốn trang điểm nhẹ, đánh ít phấn, rồi thoa chút son.

Nhưng, cô lại ngồi bất động tại chỗ.

Trong nhà im lặng đến lạ thường, có thể nghe được tiếng gió vù vù của quạt trần thổi hơi nóng ở cửa sổ gần đó vào. Cô nghe tiếng một chiếc xe hơi chạy qua, radio nhà bên cạnh đang phát khúc nhạc “Mang hành trang bước đi” nghe thật ngân vang.

Bỗng nhiên điện thoại reo.

Phản ứng đầu tiên của cô là Alex gọi đến, cô liền đứng phắt dậy, chạy như bay vào bếp, hồi hộp vô cùng. Cô muốn tiếng chuông ngừng reo trước khi Michael bắt máy, nhưng một lúc sau cô liền ý thức được Alex sẽ không gọi đến vào lúc này. Cô lò mò trong bóng tối tìm ống nghe, rồi nhấc máy: “Alô?”.

“Pauline?”, mẹ cô hỏi. “Mẹ?”.

“Sao con không gọi điện!”. “Mẹ nói sao?”.

“Con không gọi điện cho mẹ, cũng chẳng gọi cho chị con…”.

“Con không hiểu mẹ nói gì!”.

“Mẹ có nhắn lại”, bà càu nhàu, “Michael không nói con biết sao? Donna sinh rồi”.

“Chị ấy sinh rồi?”.

“Con gái đấy, tên Jean Marie. Nặng hơn 7 pound”. “Anh ấy chẳng nói gì với con cả!”.

“Mẹ tròn con vuông. Michael hứa nhắn lại với con mà”. “Khoan đã, chị ấy sinh hồi nào hả mẹ?”, Pauline hỏi. “2 giờ trưa. Sinh 2 tiếng rưỡi, nhanh hơn lần trước, hóa ra sinh…”.

“Vậy mẹ gọi đến vào lúc nào? Khi đó con ở đâu?”. “Michael bảo con đến nhà Katie chơi bài”.

Bỗng chốc, Pauline nói không nên lời, chỉ thấy toàn thân nóng ran.

“Pauline?”.

Lúc đó cô nói gì với Michael? Có phải cô nói là mình về nhà bố mẹ không?

Đúng thế, hầu như cô có thể khẳng định mình đã nói thế.

Lúc đó phản ứng của anh… cả sắc mặt của anh nữa… “Pauline, con sẽ gọi cho Donna chứ? Chắc giờ chị con ngủ rồi, nhưng…”.

“Sáng sớm mai thức dậy con sẽ gọi cho chị ngay”, cô nói, “cám ơn mẹ, tạm biệt”.

Cô cố gắng gác máy “cạch” một tiếng thật nhẹ.

Tiếng nhạc từ nhà bên cạnh không còn ngân vang nữa, hoặc chí ít không còn nghe thấy ở trong căn nhà này, chỉ còn nghe được tiếng quạt trần quay vù vù.

Cô nhìn đồng hồ dạ quang: 9 giờ 22. Cô lại quay người, nhìn ra ngoài cửa sổ, bên ngoài sáng hơn trong nhà nhiều, tối nay chắc là đêm trăng tròn. Cô có thể nhìn thấy lùm hoa tú cầu ở nhà Swensons đối diện đường – trên thùng thư ngoài cửa, áng mây trắng xanh lấp lánh ánh ngọc trai cuộn về phía trước như những con sóng – còn một tia sáng le lói rọi trên nóc xe nhà cô. Cô thấy một người đàn ông luẩn quẩn quanh đấy, thỉnh thoảng dừng lại trước nhà cô, vài phút sau lại thấy anh ta đi từ hướng ngược lại, rồi dừng một lúc, rồi lại đi qua. Nhưng Pauline vẫn đứng yên tại chỗ.

Phòng ngủ tối om, rèm cửa sổ dày nặng đã che mất ánh trăng sáng bên ngoài. Cô lần mò trong bóng đêm đến đầu giường, rồi lại lần qua tủ áo, sau đó mặc chiếc áo ngủ móc trên giá. Chiếc áo như vừa mới ủi, có mùi vị thân thiết của gia đình. Cô lên giường, rồi nằm cạnh Michael, giờ cô có thể thấy chập choạng mọi thứ xung quanh.

Anh nằm quay lưng về phía cô, hơi thở đều đặn. Cô không biết anh đã ngủ chưa, bèn lắc nhẹ, rồi ôm anh từ phía sau và áp sát mặt vào lưng anh. Nhưng anh vẫn nằm yên không cử động, hơi thở vẫn đều đặn, một trái tim đập nhanh liên hồi trong cơ thể bình lặng như mặt nước lạnh và sâu như không thể nào dò được.

Chương 3

Karen và George lần lượt rình xem đêm qua Lindy có về nhà không, Karen đi trước. Karen bẩm sinh hay lo lắng, mới sáng sớm thứ hai, cô bé đã bò khỏi giường, xuống dưới nhà, sau khi đến phòng Lindy xem qua, nó lại chui vào chăn, tiếp tục ngủ. Nhưng sau lúc đó – vì phát hiện Lindy không ở trên giường, phòng nó cũng yên lặng và trống trải – Karen không ngủ, tiếp theo lại nghe tiếng George đến đó rình, rồi vào nhà vệ sinh. Nó không quan tâm sự việc như Karen, chỉ gõ nhẹ cửa trước khi vặn nắm đấm, càng không rón rén vào phòng như cô bé mà mở to mắt quan sát mọi động tĩnh, tìm kiếm xem Lindy đang ở đâu.

Suốt một thời gian dài, chúng đều mong có ngày Lindy không ở trong phòng. Nhưng thực tế, quả thật phần lớn thời gian Lindy đều không ở đó. Năm nay cô bé 17 tuổi, đang học cấp III. Cô bé chỉ đi học theo ý bố mẹ thôi, cả ngày lông bông với những đứa trẻ quái dị mặc đồ đen, mỗi đêm thường về rất khuya, người nồng nặc mùi rượu, thuốc lá, nó thường cãi bố mẹ, cười nhạo lối sống “quê mùa” của họ, luôn mơ ước ngày nào đó sẽ bắt đầu cuộc sống thật sự giống như tác giả Jack Kerook mà cô bé yêu thích. Mỗi khi nghĩ đến Lindy, Karen liền nhớ cái dáng vẻ khi đứng trên thềm cửa của chị mình: người hơi ngả ra ngoài, mái tóc đen dài tung bay trong gió. Lindy chưa từng ngoan ngoãn vâng lời và cô bé thường bắt hai đứa em làm việc nhà.

Lindy là đứa trẻ khó bảo, nhưng Karen và George lại rất ngoan ngoãn vâng lời. Chúng học hành chăm chỉ, khi ngồi ăn cơm người luôn giữ thẳng, đồng thời im lặng tuyệt đối, dường như muốn làm gương cho Lindy, đồng thời cầu nguyện khi ăn món tráng miệng không có tiếng ồn ào của người lớn. Chúng cầu mong bố mẹ có thể chú ý thấy chúng ngồi nghiêm chỉnh, chứ không phải như bộ dạng Lindy ngồi đối diện: cúi gầm mặt, miệng nhai mớ tóc của mình, khi có người nói chuyện liền mở đôi mắt to màu than mà nhìn.

Karen đang học lớp 7, là một cán bộ lớp mẫu mực. George là thành viên của “hội vinh dự” trong trường. Dù nó đã 16 tuổi, nhưng vẫn chưa có bằng lái, có lẽ vì chưa có bạn gái, nên tạm thời vẫn chưa cần đến. Lindy cũng không có bằng lái, nhưng ngày nọ dù chưa được phép nó đã lái xe của mẹ đi, kết quả con bé đã va vào thùng thư của nhà Dean.

Liên tục xảy ra mấy chuyện tương tự, nên Karen và George mới rình xem như thế. Tháng trước, sau vài tuần khai giảng, một buổi chiều nọ Lindy không về nhà sau giờ học. Lúc đầu không ai chú ý, nhưng tối đến không thấy con bé đâu, Pauline mới gọi điện đến hỏi từng cô bạn của Lindy, nhưng số bạn đó từ lâu đã không qua lại với Lindy nữa. Cô lại gọi điện đến cửa hiệu, thế là bố chúng bỏ việc về nhà sớm. Chẳng ai chuẩn bị bữa tối, chẳng ai hỏi Karen có làm bài tập trước khi xem ti vi không. Sau khi báo cảnh sát, họ kiến nghị nếu sáng mai Lindy vẫn chưa về hãy gọi báo họ biết. Sau đó, khoảng 10 giờ, khi cả nhà đang lo sốt vó thì Lindy xuất hiện, trông rất bực dọc, thậm chí chẳng màng viện lý do giải thích tại sao mình về muộn, chỉ nói đi cùng vài người bạn. Nhưng là những người bạn nào, đi đâu, cô bé chỉ nhún vai chẳng nói gì.

Lúc này, Karen và George bỗng nhiên ý thức được rằng: thật ra bố mẹ chúng chẳng hề có quyền lực của bậc phụ huynh như họ thường nói.

Vào thứ bảy tuần trước, Lindy ra ngoài với một cô bạn. Khi cô bạn Lindy lái xe vào sân nhà, chúng phát hiện cô bé đó cũng tô mắt đen ngòm tựa con gấu trúc giống như Lindy. 7 giờ sáng hôm sau, Lindy vẫn không có mặt trên giường, lúc 7 giờ rưỡi cũng không. Sau đó, Karen chợp mắt một lúc, vì lúc 8 giờ hơn, cô bé nghe thấy tiếng George trách Lindy ở ngưỡng cửa, “Chị đi đâu đó hả?”, sau là tiếng càu nhàu khó hiểu của Lindy. Lúc 10 giờ 15 phút, mẹ chúng gõ cửa phòng Lindy, rồi vui vẻ hỏi: “Lindy? Con đến nhà thờ không?”. Lindy trả lời cộc lốc. Cô bé luôn gọi “nhà thờ thánh linh” là “cái chăn thánh linh”. Về điểm này, George và Karen đều rất buồn cười, nhưng rõ ràng, mẹ chúng lại không nghĩ vậy.

Thế nên, chuyện tương tự sẽ còn xảy ra nữa. Đồng hồ ở chiếc radio đặt trên đầu giường Lindy hiện số 8g25, Lindy có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Nhưng có lẽ ít nhiều họ đã chuẩn bị cho ngày này, chuẩn bị sẽ có một ngày cô bé bỏ nhà ra đi mãi mãi.

Lúc ăn sáng, bọn trẻ không nói dối, nhưng cũng chẳng nói ra toàn bộ sự thật. “Lindy dậy chưa?” mẹ chúng hỏi, “Có ai nghe thấy tiếng con bé không?”. George nhướng mày, lầu bầu một câu gì đó, chẳng ai hiểu. Karen tập trung nhìn chiếc bánh rán trước mặt, nhẹ nhàng lắc đầu.

“Nhưng tối qua con bé có về nhà mà”. Pauline nói, rồi lại liếc nhanh qua bố chúng.

George không trả lời. Karen dừng một lúc, rồi miễn cưỡng nói: “Dạ, đúng vậy! Con có nhìn trộm vào phòng chị ấy”.

Nếu Karen không nói câu “đúng vậy”, cô bé sẽ chẳng có lỗi gì. Nhưng vẫn giống như mọi khi, cô bé nói quá nhiều, nên càng vùi đầu sâu vào trong đĩa thức ăn, nó chỉ thấy một cơn giận dữ đau nhói, chẳng những vì tên George nhát gan – lúc này nó đang háo hức kẹp miếng bơ vào bánh rán – cũng thất vọng về bố mẹ mình. Trời ạ, sao họ không tự đi xem chứ? Sao tối qua họ không thức chờ Lindy về? Bố mẹ những người khác đều làm thế cả mà.

Nhưng giờ họ ngồi đây, vẻ vô tình. Bố gấp tờ báo làm bốn, đang chăm chú xem một mục trên đó; mẹ đang bâng quơ nhìn một con sẻ nhỏ trên ban công cửa sổ. Hiện họ đang trong thời kỳ đình chiến vì vấn đề quyên tiền cho “quỹ mồ côi”. Pauline ký tên mà không hỏi ý Micheal. Micheal bảo Pauline không biết tiết kiệm lại cố chấp bướng bỉnh, bảo cô nịnh người phụ nữ kêu gọi quyên tiền. “Điều em quan tâm chẳng phải vấn đề trẻ mồ côi!”, Micheal từng nói thế, “‘Hiệp hội bảo vệ trẻ mồ côi’ gì chứ! Chúng ta đâu thuộc hội đó! Em quyên tiền chỉ vì muốn lấy lòng Sissy Moss thôi”.

“Dĩ nhiên không phải!”, Pauline gào lên, “Em rất quan tâm trẻ mồ côi! Em chẳng bận tâm nhà thờ nào giúp chúng!”.

“Vậy thì tại sao?” bố hỏi, “Sissy Moss thấy thích em rồi chứ? Cô ta có mời em đến nhà chơi không? Có cho em số điện thoại không?”.

“Đúng thế, thực tế cô ấy quả làm như vậy”. “Ồ? Lúc nào thế?”.

“Hồi thứ sáu em gọi điện, Sissy Moss bảo thật trùng hợp, vì cô ấy đang định gọi cho em!”.

“Pauline”. Micheal nói với giọng than thở nặng nề, tiếp theo đó vẫn như mọi khi: nổi giận đùng đùng, lời nói cay độc, nước mắt, tiếng kêu gào, tiếng dập cửa thật mạnh và bầu không khí chết lặng trong nhà. Rồi sau đó là những ngày làm lành chán ngán: họ mặn nồng gọi nhau “anh yêu”, “em yêu”, cửa phòng ngủ đóng chặt kín, lại còn lén lút khóa lại, sau khi bước ra khỏi phòng trông họ thật e thẹn. Bây giờ, trong nhà yên tĩnh vô cùng, có lẽ “cuộc nội chiến” sẽ kéo dài mấy tuần, nếu mọi chuyện thuận lợi, Karen thầm cầu nguyện. Bố cô bé vừa gấp báo, vừa trầm giọng hát. Mẹ cô bé đứng dậy đi lấy cà phê, khi đi ngang qua còn dùng một ngón tay nhẹ nhàng chạm vào lưng bố.

Nếu Lindy ở nhà, bầu không khí sẽ khác hẳn mọi khi, trở nên cáu kỉnh, khó chịu. Lindy sẽ ngồi đối diện George và Karen, chiếm cả một phần bàn cho riêng mình. Mỗi khi cô bé phát biểu ý kiến của mình đều có thói quen vừa nói vừa duỗi tay ra, nắm chặt lấy góc bàn, trông chẳng ra làm sao. Lindy là cô bé da bọc xương, nó còn cố tình làm mình gầy nhom xương xẩu, thậm chí trước khi đi khám bệnh nó đều chọn một loạt quần áo, rồi mới quyết định mặc bộ nào. Dù vậy, cô bé lại có thể làm mình trông như con hạc đứng giữa đàn gà, làm mình to khỏe lớn mạnh hơn bốn người kia gộp lại; cô bé chẳng màng bận tâm đến “trường học” và “gia đình”, dường như nó xem đấy là tai họa; cô bé đòi bố mẹ mua sách của Jack Kerook và Albert Caymus, nhưng khi bố hỏi: sách họ viết có thể xem là ngôn ngữ không, cô bé trả lời: “Ồ, nói với bố thì ích gì? Con chẳng hiểu tại sao lại phải tốn công sức nói chuyện với bố”.

Bạn nghĩ Lindy thích văn chương thế, chắc chắn đều đạt điểm A ở trường, nhưng sự thật không phải thế. Mùa hè năm ngoái, cô bé học lại một học kỳ môn tiếng Anh. Trong bảng điểm phát vào mùa thu năm nay, chẳng có môn nào đạt trên điểm C. Vì vậy, thành tích học tập của cô bé luôn là nguyên nhân dẫn đến tranh cãi giữa bố mẹ. Bố cô bé luôn nói: “Kerook hay Keraak gì đó, nếu con chẳng vượt qua nổi những kỳ thi ở trường, vậy con đọc mấy thứ sách đó có ích gì?”. Lindy đáp: “Điều đó không hợp với tiêu chuẩn của bố! Lòng dạ bố luôn hẹp hòi thế, bố đã rơi vào vòng luẩn quẩn chỉ biết kinh doanh kiếm tiền không thể tự thoát ra được! Nếu không có được tiền tiết kiệm, không có được thành tích tốt, không có được bản lý lịch làm người khác hài lòng, mọi chuyện đều chẳng quan trọng!”. Mẹ chúng nói: “Em nói này, Michael, con bé có thể tự mua ít đồ cũng tốt thôi”. Bố chúng nói: “Pauline, nếu không phải em cứ bao che nó, ít nhiều nó cũng biết cách tự quản thúc mình rồi”. Mẹ nói: “Ồ, được thôi! Nói vậy, con anh bị đuổi học vì điểm số kém là lỗi tại em…”.

Mẹ cầm ấm cà phê quay về, dựa vào vai bố, rót cho bố một tách. “Cám ơn, em yêu”. Bố nói, vỗ nhẹ lên tay mẹ, rồi hớp một ngụm.

Khi họ phát hiện Lindy mất tích, Karen phải chịu trách nhiệm vì câu “Đúng thế” của mình. Ồ, đúng vậy, cô bé từng nói Lindy sẽ bình an về nhà, còn nhìn trộm vào phòng Lindy. Sau khi thay quần áo sau bữa sáng, cô bé thấy trong lòng rất bất an. Nó cởi bỏ bộ đồ ngủ, mặc một chiếc áo lót, rồi hai mắt thất thần ngồi ngay mép giường, thẫn thờ nhìn đôi dép nhỏ dưới chân. Bố mẹ sẽ bảo lời nói dối của cô bé làm chậm trễ công việc tìm kiếm chị gái của cảnh sát. Nếu Lindy gặp rắc rối ở đâu đó – chẳng hạn, bị nhốt dưới một tầng hầm, không có đủ không khí để thở – nếu cô bé chết, vậy sẽ là lỗi của Karen.

Bỗng chốc, Karen rợn gai óc, lòng hơi nhói đau, cô bé bắt đầu ớn lạnh và người run lên bần bật. Thế rồi cô bé đứng dậy, mặc một chiếc áo in đầy nụ hồng, một chiếc váy màu hồng và một đôi vớ dài cũng màu hồng. Cô bé không mang giày, rón rén bước ra khỏi phòng, cố gắng không gây tiếng động, xuống dưới nhà rồi đến phòng Lindy.

Có lẽ bạn cho rằng đứa trẻ ngang bướng như Lindy sẽ không nề nếp, nhưng điều khó hiểu là, cô bé dọn dẹp phòng mình ngăn nắp lạ thường. Quần áo – phần lớn đều là màu đen, ngoài những bộ mẹ mua mà không hỏi qua ý cô bé – treo ngay ngắn trong tủ áo; cờ thi đua của đội nhóm và ảnh bạn bè, giờ đây chỉ dán mỗi tờ áp phích James Dean đang hút thuốc; sách trong tủ xếp từ cao xuống thấp, trên bàn học chẳng có gì khác ngoài ba khung ảnh gia đình mạ vàng; cả căn phòng trông như chưa từng có ai sống ở đây. Lẽ nào là thế thật sao? Cụm từ “bỏ nhà đi” hiện lên trong đầu Karen.

Sạch sẽ nhất là giường: gối và chăn mền xếp ngay ngắn, drap giường trải phẳng phiu. Nếu có người nhìn vào phòng, rất khó nghĩ từng có người nằm trên chiếc giường này.

Karen đi đến trước tủ áo lấy bộ đồ ngủ của Lindy, một áo khoác kiểu nam cũ rách mua từ hiệu đồ si-đa, chiếc áo này luôn làm mẹ rùng mình. Cô bé lại đến bên giường, vén tấm ra lên, cuộn áo ngủ thành hình dạng vừa dài vừa phồng, đặt chính giữa, rồi phủ tấm trải giường lên. Giờ đây giường trông như có người không đầu nằm ở đó, nhưng cô bé đã chỉnh lại gối, làm nó thành một khối giống như có người vùi đầu trong đó vậy.

Trước khi trở về phòng mình, Karen dừng lại một lúc trước bàn học của Lindy, nhìn kỹ bức ảnh đặt trên đó. Một tấm trong đấy cũng có trên bàn cô bé, George cũng thế, nhưng chúng đều bị vùi dưới những vật linh tinh. Đó là ảnh kỷ niệm 15 năm ngày kết hôn của bố mẹ chúng, là loại ảnh màu rất đậm chụp ở studio. Mẹ chúng lồng ảnh vào khung, cho mỗi đứa một tấm. Bố trong ảnh mặc bộ com lê màu đen, mẹ mặc bộ váy màu xám và màu nổi nhất trong ảnh chính là bầu trời giả màu xanh. Bố mẹ đều tỏ ra rất ngượng ngùng, vẻ mặt cứng nhắc, trông trẻ đến lạ kỳ, dù đó đã là ảnh từ trước đây rất lâu.

Tấm ảnh thứ hai kẹp trên tấm thiệp Giáng sinh năm ngoái, có ghi dòng chữ “Từ nhà tôi đến nhà bạn, mừng Giáng sinh, 1959”. Trên đó là bức ảnh George và Karen cười toét miệng còn Lindy mặt cau có. Cả ba đều mặc áo len đỏ trắng, có lẽ đấy chính là nguyên nhân làm Lindy bực bội. Bố cục trên tấm ảnh có phần trùng hợp: mép một bức rèm cửa sổ tình cờ ngăn Lindy với hai đứa kia, dáng người nó vừa đen vừa gầy của cô bé tạo thành sự tương phản rõ rệt với George và Lindy da trắng tóc vàng. Pauline rất thất vọng về tấm ảnh này, dù đấy là tấm đẹp nhất trong số những bức ảnh đã chụp. Lúc đó, Lindy giành ngay lấy tấm ảnh này, mua khung về tự lồng nó vào, dường như cô bé muốn khẳng định: mình khác người!

Tấm ảnh thứ ba là bà nội Anton của chúng. Bà qua đời khi Karen học mẫu giáo. Karen hầu như đã quên mất khuôn mặt đầy nếp nhăn và mái tóc bạc phơ của bà. Nhưng đến giờ Lindy vẫn rất nhớ bà, vì người bà yêu nhất chính là Lindy, hoặc ít ra Lindy nghĩ thế. Cô bé luôn bảo bà nội ở trên thiên đường đang bảo vệ mình, để cô bé có cuộc sống bình yên thuận lợi. Cô bé nghĩ thế cũng có lý, vì mỗi khi gặp khó khăn, bài hát “Hy vọng bí mật” bà yêu thích nhất bỗng nhiên hiện trong đầu cô bé một cách lạ kỳ. Karen cho rằng rất có thể Lindy đúng, vì đó là bài hát xưa cũ, chỉ người già mới thích, còn có nguyên nhân nào khác giải thích việc này chứ?

Bà nội bọn trẻ mất vì trúng gió. Mẹ rất đau lòng trước cái chết của bà, bố tuy đau lòng, nhưng rất bình tĩnh, còn mẹ khóc suốt mấy tuần liền. Mẹ bảo nên hiểu bà nhiều hơn, nên chăm sóc bà chu đáo hơn. Mẹ lo sẽ bị Thượng đế trừng phạt, lo rằng khi mình về già cũng sẽ sống ở nơi xa cách bạn bè thân thuộc, trở thành một người bà duy nhất trong hàng xóm láng giềng, cả ngày ngồi không chẳng việc gì làm, chẳng nơi nào để đi, chỉ khi con dâu vui mới đưa đi hóng gió, những lúc như thế lại quá hiếm hoi. Bố bảo mẹ suy nghĩ nhiều quá, “Sao anh có thể nói vậy chứ!”. Bố nói: “Ý anh là em hãy bình tĩnh, Lin”. Những lời nói như thế luôn làm mẹ giận dữ, hơn nữa mẹ không thích người khác gọi mình là “Lin”, ai cũng biết điều này, dĩ nhiên bao gồm cả bố.

Lindy cũng không thích tên mình. Cô bé bảo cái tên này nghe như cô gái nhỏ mặc váy carô màu hồng. Khi mới bắt đầu đi học, cô bé muốn tất cả thầy cô gọi tên đầy đủ của mình: Linnetj. Trong thế chiến thứ hai, một anh lính từng nhắc đến một loài chim ở Anh với mẹ cô bé, về sau mẹ đặt tên này cho Lindy. Karen cũng từng thử gọi chị mình như thế, nhưng cái tên này quả thật rất kỳ lạ, thế nên chẳng bao lâu cô bé đành bỏ cuộc. Nhưng Karen rất thông cảm với Lindy, một lần khi giáo viên của cô bé gọi điện đến tìm bố hoặc mẹ của Linnet Anton, đặt nhầm dấu nhấn âm, lúc đó Karen cảm thấy bị tổn thương sâu sắc thay cho chị mình, cô bé cũng mơ hồ cảm nhận được nếu luôn bị hiểu lầm, bị cho là quái dị, bị người lớn mắng là đứa trẻ hư, cảm giác sẽ thế nào.

Karen nghiêng tai nghe động tĩnh bên ngoài cửa, sau đó mới lẳng lặng ra khỏi phòng Lindy, trở về phòng của mình.

Trên xe đến nhà thờ, mẹ nói, nếu bố không đến nhà thờ sẽ không thể ép bọn trẻ đến xưng tội. Mẹ đạp mạnh thắng, rồi nói tiếp: “Ôi! Tôi xin lỗi! Tôi tưởng mình có thể chạy đường này”. Mẹ đang nói với người tài xế xe du lịch chạy ngược chiều, dù đối phương không nghe thấy mẹ nói gì. “Rất xin lỗi”, mẹ lại nói. Rồi mẹ cua mạnh bên phải mà chẳng báo trước gì, bánh xe bên phải phía sau va vào lề đường. Karen chúi người về phía trước, may mà kịp thời túm được bảng đồng hồ trước xe, mẹ cô bé chẳng mảy may bận tâm. “Mimi Drew cho con đi lễ nhà thờ và học lớp giáo lý”, mẹ nói tiếp, “sau đó về đến nhà, mỗi đứa đều phải báo cáo điều mình học được. Mẹ nghe nói, chồng cô ấy là người trợ tế của giáo hội nên khá nghiêm khắc với việc dạy dỗ con cái. Mẹ cũng không biết người trợ tế là gì”.

Tiếp đó, mẹ im lặng một lúc, dường như đang suy nghĩ gì đó. Lúc không nói chuyện, xe chạy êm hơn. Mẹ mặc áo len angora màu xanh, tuy mẹ luôn lo lắng chiếc áo này làm mẹ trông béo tròn, nhưng quả thật nó rất vừa vặn, chỉ lộ phần bụng hơi to chút thôi. Nhưng mặt khác, nó làm đôi mắt xanh của mẹ càng đẹp hơn. Karen gọi màu mắt đó là màu xanh thuần khiết – màu xanh đậm không lẫn bất cứ tạp chất gì. Môi của mẹ tươi đẹp vô cùng, phía trên môi có một lớp lông mao màu vàng mỏng gần như không thấy, làm da mẹ cũng ánh sắc vàng nhạt. Bạn bè Karen luôn bảo cô bé có người mẹ đẹp nhất trần đời. Karen luôn nói: “Ồ! Các bạn thấy thế sao?”. Nghe như cô bé chưa từng nghĩ đến chuyện này. Thật ra, cô bé cũng nghĩ thế.

Họ rẽ trái, đến đường Turtle Dove, nơi cô bạn thân của Karen là Maureen sống, nhưng Maureen lại đi lễ ở một nhà thờ trong trung tâm thành phố, nên hầu như chủ nhật hai cô bé không thể gặp nhau. Khi họ lái xe ngang qua nhà Maureen, Karen mở to mắt, nhìn vào mái hiên nơi chúng từng vui chơi cả mùa hè. Lá trên các cây của khu vườn nhà Maureen đang dần chuyển sang sắc vàng, mọi thứ ở đó đều thu hút ánh mắt của cô bé.

“Nếu bố các con đến nhà thờ, mẹ có thể thuyết phục Lindy cũng đến đó”, mẹ nói, “mẹ biết phải tự do tín ngưỡng, nhưng đến nhà thờ có thể giúp ta khuây khỏa, các con thấy đúng không? Như thế, con bé có thể tham gia hội tiệc của thanh niên vào tối chủ nhật, có thể gặp những người bạn lành mạnh. Con bé nói sao nhỉ George?”, Pauline vừa hỏi vừa nhìn George qua kính chiếu hậu, “Chị con bảo không đi lễ vì phản đối giáo hội hay muốn ngủ nướng?”.

Chắc chắn là George sẽ nhún vai, “A, được rồi!”, mẹ nói. Karen chuyển tư thế trên chỗ ngồi, để nhìn rõ vẻ mặt của George, nhưng hình như nó đang bình tĩnh nhìn cảnh sắc bên ngoài cửa sổ, hai tay thả lỏng đặt trên gối. “Hỏi xem Lindy muốn đi cùng chúng ta không”. Mẹ bảo thế trước khi xuất phát, một lúc sau nó quay lại nói: “Không đi, chị ấy muốn ở nhà”. Lúc này đây, có lẽ nó cũng mang cảm giác tội lỗi như Karen – Lindy có thể hít cạn nguồn oxy cuối cùng dưới một tầng hầm bất cứ lúc nào, sau đó ngạt thở mà chết – nhưng dường như nó chẳng hề quan tâm.

“Mẹ không hiểu sao bố lại phản đối tôn giáo thế, cũng giống như bố không thích giao tiếp”, Pauline nói, rõ ràng cô lại trở về vấn đề của bố chúng, “ý mẹ là, bố không có bạn bè, các con chú ý thấy chứ? Nếu không tính khách trong cửa hiệu và những người quen biết trong các buổi tiệc của hàng xóm mà mẹ ép bố đi, hầu như bố chẳng có lấy một người bạn! Còn mẹ, trái ngược hẳn với bố… mẹ không tài nào sống được nếu thiếu bạn bè! Mẹ cần bạn bè chia sẻ tâm tư tình cảm của mình, thậm chí mẹ chẳng biết mình nghĩ gì, mãi đến khi nói chuyện với Mimi hoặc Dot mẹ mới hiểu được suy nghĩ của mình. Ồ, xin lỗi, mẹ không ngờ lại đi quá tốc độ ở đây”.

Thế rồi mẹ giảm tốc độ, cho xe chạy chậm lại, nhưng khi có một chiếc xe phía sau bấm còi muốn vượt qua bên trái, bỗng nhiên mẹ lại tăng tốc, một lúc sau thì bỏ xa chiếc xe kia. Mẹ nói tiếp: “Con hiểu ý mẹ chứ, Karen, cảm giác khi con trò chuyện cùng Maureen… cả George nữa, là con trai, con cũng rất thích kết bạn. Nhưng Lindy lại giống bố con, cũng là người không sao hiểu nổi! Đúng là nó làm khó mẹ rồi!”.

Bỗng nhiên Karen nảy ra một ý nghĩ, có lẽ George có nói chuyện với Lindy thật, nếu Lindy lặng lẽ về phòng, chắc chắn chị ấy sẽ không muốn cãi nhau với ai, rồi chui vào tấm trải giường, vì chắc chị ấy rất buồn ngủ… Sau đó George thò đầu vào hỏi: “Lindy, chị đi nhà thờ không?”.

“Ra ngoài”, cô bé nói rồi phủ chăn qua đầu, “không đi, đừng phiền tao”.

Thế rồi George nói: “Được thôi”, sau đó đóng cửa lại. Karen thấy mình nên sớm nghĩ đến khả năng này. Cô bé dựa người ra sau, cảm thấy thoải mái hơn. Họ lại đi ngang qua một ao cá, xung quanh rơi đầy lá đỏ và lá vàng. Đây quả là một ngày mùa thu đẹp trời.

Nhưng khi Karen đến phòng Lindy lần nữa sau khi từ nhà thờ trở về, cô bé phát hiện chiếc áo khoác nam đó vẫn nằm yên trên giường tựa như khúc gỗ. Chiếc gối đó vẫn phình lên lõm xuống trông như Lindy đã vùi đầu vào đó vậy. Karen đóng cửa lại, về phòng, bỗng nhiên cô bé thấy hơi buồn nôn.

“Đến lượt ai dọn bàn đây?” mẹ hỏi, “Lindy phải không? Gọi chị dậy đi! Ngủ cũng vừa phải thôi”.

Karen có thể tiếp tục lẩn tránh vấn đề này, nhưng bỗng chốc một cảm giác mệt mỏi ùa đến. “Chị ấy không ở nhà”. Cô bé thẳng thắn nói với mẹ.

“Không có ở nhà?”.

Karen cố gắng giữ vẻ mặt bình tĩnh. “Thế là sao? Chị con không ở nhà ư?”.

“Chị ấy không có trên giường. Con vừa vào xem xong”.

“Vậy chị con ở đâu?”. “Con không biết”.

Pauline lại quay sang George, nó đang ăn vụng lớp đường áo bánh kem sôcôla trên bàn ăn. “Con có thấy chị không?”.

“Không”. Giọng George cũng bình tĩnh như Karen, có lẽ nó cũng thấy mệt rồi.

“Chị con đâu có thể biến mất trong không khí chứ! Chẳng phải sáng nay hai đứa đều thấy chị à? Sao giờ nó lại không ở nhà chứ?”.

George và Karen đều im lặng.

“Chuyện này phải dừng lại ngay”, mẹ chúng kêu lên, “bố các con ở đâu? Michael!”, mẹ ném con dao vào trong chảo, chạy xộc vào phòng khách. “Michael!”, mẹ lại gào lên. Chúng nghe thấy mẹ mở cửa phòng Lindy, chạy vào trong đó một lúc, rồi xuống nhà. Rất hiển nhiên, mẹ đến bên ti vi, mỗi sáng chủ nhật, bố đều tính sổ sách gia đình ở đó. Nhưng George và Karen ở trong bếp chẳng nghe được bố mẹ nói gì với nhau cả.

Lúc ăn cơm, mẹ toàn nói đến việc Lindy bị mất tích. “Nó đặt giường cứ như nó nằm ở đó vậy”, mẹ nói, “đây là có âm mưu trước! Chắc chắn xảy ra chuyện gì rồi”.

Nhưng bố chúng lại hứng thú với việc ôn lại sổ sách gia đình hơn. “Mỗi tháng”, bố nói, “anh đều có dự toán vào một mục chi tiêu nào đó. Trước đây anh từng nói chuyện này với em, Pauline”.

“Sao anh có thể còn ngồi nghĩ đến tiền trong lúc con mất tích chứ?”, mẹ bực bội hỏi.

Xem ra, bố hơi vô tình, nhưng Karen liền nhớ ra: bố biết chị Lindy mất tích mới hơn khoảng 1 giờ. Trông mẹ hơi buồn cười, nóng ruột đến chau chặt hai mày, tay nắm chặt chiếc đĩa. Mỗi lần buồn, mẹ đều nói những từ hoa mỹ: “Em không sao thấu hiểu nổi đứa trẻ sống trong gia đình đầy tình thương yêu và quan tâm lo lắng như Lindy mà lại…”.

“Chúng ta phải nói chuyện với con bé”, bố nói, “ví dụ như quyên góp từ thiện, khoản quyên góp này chẳng khác gì những chi tiêu khác. Tuy quả thật nó mang đến lợi ích cho người khác, nhưng chúng ta vẫn phải tính toán kỹ. Chúng ta không thể một phút hứng chí liền tiêu tiền vào những chuyện không đâu”.

Ồ, hay thật, bố lại trở về đề tài tiền bạc. Mẹ ngồi thẳng người hơn nữa, hỏi: “Chẳng phải trước đây chúng ta đã nói chuyện này rồi sao?”.

“Đúng thế, nhưng giờ anh phát hiện em lại ký một chi phiếu cho…”.

“Michael! Con gái lớn của anh đang giao du với đám trẻ mặc áo đen cổ tròn, ăn không ngồi rồi, giờ không rõ đang ở đâu, sống chết ra sao, thế mà anh chỉ nghĩ đến…”.

“Chà, hãy nể tình Thượng đế, Pauline, em là mẹ nó, sao lại không biết nó đi đâu cơ chứ?”.

Bố mẹ ngồi đối diện ở hai đầu bàn, đôi mắt sắc bén nhìn chằm chằm đối phương. Mỗi khi đến thời khắc này, Karen đều cảm thấy tốt nhất trẻ con không nên có mặt. Bố mẹ cô bé quả đúng là một cặp trời sinh! Luôn lấy bản thân làm trung tâm! Cô bé cố gắng tập trung tư tưởng vào chiếc đĩa trên bàn, cố gắng dùng muỗng xúc cơm lên. Còn George lại ăn từng thứ một, đầu tiên nó ra sức khuấy đậu, sau đó lại trộn cơm với nước sốt, tiếp theo là xà lách Waldorf. Nó đặt một tay lên bàn, tay kia chống đầu, nhưng giờ chẳng ai rảnh rỗi mà bình luận tư thế của nó.

Đối diện Karen, ly sữa nóng của Lindy vẫn nguyên đó không ai động đến. Chẳng thứ gì làm bạn ghét hơn là ly sữa có cùng nhiệt độ với căn phòng, chỉ nghĩ thôi cũng làm Karen buồn nôn.

Bố đến cửa hiệu trong thành phố, mẹ chẳng tỏ ý phản đối, vì thỉnh thoảng ở nhà lâu quá, bố sẽ tỏ ra nóng ruột bất an. Còn Pauline nắm bắt thời cơ gọi điện cho những bà chị của mình, đồng thời hỏi họ về chuyện Lindy. “Ý em là, các chị chưa từng gặp chuyện này, đúng không?”. Cô hỏi. “Tụi em chẳng quản nổi đứa con này! Thật tình, em không hiểu sao gia đình em lại làm ra vẻ mọi chuyện đều tốt đẹp trước mặt mọi người kia chứ!”.

George đang làm bài tập lịch sử, còn Karen thì chuẩn bị trang phục cho lễ hội Halloween. Cô bé quyết định cải trang thành Castro, và mượn một điếu thuốc từ bố Maureen. Nhưng râu là một vấn đề lớn, cô bé muốn có một bộ râu thật, không muốn vẽ râu bằng bút lông. Cuối cùng, cô bé tìm được một cuộn chỉ bông màu đen trong tủ kim chỉ của mẹ, bèn mang nó về phòng.

“Em chẳng hiểu nổi con bé nghĩ gì”, Pauline đang nói chuyện điện thoại, “nhưng em biết ở mức độ nào đó, con bé vẫn quan tâm gia đình, hoặc chí ít là cần gia đình. Con bé làm em nhớ đến con mèo trước kia, đó là con mèo mun đực chẳng gần gũi với mọi người, mỗi lần bị đánh, nó đều sợ co rúm mình. Nhưng khi chị đến phòng khách, một lúc sau nó cũng đi theo một cách nhàn nhã, tựa như tình cờ gặp chị trong đó vậy”.

Karen cắt chỉ bông đen thành đoạn nhỏ khoảng 1 inch, nhúm chúng thành một nhúm trên bàn trang điểm. Cô bé đang cố gắng tính thời gian Lindy rời khỏi nhà. Tối qua họ ăn tối lúc nào nhỉ? 6 giờ hay 6 giờ rưỡi. Lindy bắt đầu biến mất từ lúc ăn món tráng miệng. “Ngồi xuống!” mẹ ra lệnh, “Con vẫn chưa được tha thứ đâu, tiểu thư. Mọi người trong nhà vẫn chưa ăn xong”. Từ lúc đó, Lindy cứ thấp thỏm trên ghế, chuẩn bị đứng phắt dậy bất cứ lúc nào tựa như con búp bê nhún nhảy. Sau đó, “Mẹ!” chị gọi, “Con thề đấy! Con sắp muộn rồi!”, mẹ thì thở dài nói “Vậy…” nhưng Lindy đã đứng dậy và rời khỏi phòng. Lúc đó chắc khoảng 7 giờ. Từ 7 giờ tối qua đến 7 giờ sáng nay là 12 tiếng rồi, đến 12 giờ trưa là 17 tiếng, giờ đã hơn 3 giờ chiều, vậy Lindy mất tích gần một ngày rồi.

Nếu giờ Lindy nói sự thật với mẹ, mà bố không ở cạnh giải quyết ổn thỏa mọi việc, chắc chắn mẹ sẽ hoang mang bàng hoàng. Mẹ hay nghĩ đến khả năng tiêu cực nhất – xác chết bên đường hoặc cái xác khô quấn băng trắng nằm trong bệnh viện. Nhưng nếu chờ bố về rồi mới nói, bố sẽ hỏi dông dài: Tại sao cô bé nói sáng nay Lindy nằm trên giường? Tại sao George lại bảo Lindy không muốn đến nhà thờ? Bố chúng là người chính trực và thật thà thế! Mẹ hay bảo là: dù phát hiện có người đã bấm đủ thời gian trong máy tính cước ở bãi đậu xe, bố vẫn kiên trì bỏ tiền vào máy”. Vì thế, chỉ nói với mẹ thì hơn, nếu thỉnh thoảng làm sai gì đó, bạn còn có thể hy vọng mẹ hiểu được. So với bố, mẹ dễ dàng thông cảm hơn.

Karen nhỏ giọt keo lên ngón trỏ, sau đó bôi nhẹ lên cằm. Cằm cô bé rất giống mẹ, nhỏ xinh và hình dáng rõ ràng. Nhìn qua gương, cằm cô bé đang phát ánh sáng trắng của keo. Cô bé lấy khăn giấy lau ngón trỏ, rồi lấy một nhúm chỉ bông dán chúng lên chỗ có keo, đầu chỉ tủa ra bốn phương tám hướng. Dù đã lau, vẫn có một ít chỉ dính trên ngón tay cô bé, khi buông cánh tay xuống lại có một ít chỉ rơi xuống đất. Lúc này trong gương, cằm Karen dính ba bốn sợi lông đen. Do đang căng thẳng, mắt cô bé gần như biến thành màu đen, chứ không còn là màu lam ngọc bích như trước. Cơ mặt cô bé căng cứng ra vì quá lo lắng.

George mở cửa phòng Karen nhưng cửa vốn đóng, lẽ ra nó phải gõ cửa trước khi vào. Nó hỏi: “Mặt em sao thế?”.

“Em muốn hóa trang thành Castro”. Karen trả lời. “Sao em không hóa trang làm mụ phù thủy mặt có nốt ruồi chứ?”.

“Mọi người đều làm phù thủy cả rồi”.

“Mọi người đều hóa trang thành Castro đấy chứ”. George nói.

“Không có đâu”.

“Có đấy”.

Thế rồi Karen nhượng bộ, lấy khăn giấy lau chỉ bông trên mặt. “Nghe đây”, cô bé nói, “em thấy nên nói với mẹ”.

George không hỏi cô bé nói gì, mà vào phòng, đóng cửa lại. “Phải đó, ôi, anh cũng không biết”, nó nói, “không chừng lát nữa Lindy sẽ về đấy thôi”.

“Chị ấy bỏ nhà đi hơn 20 tiếng rồi! Chị ấy chưa từng như thế!”.

“Chà, chẳng qua chị ấy đi chơi với mấy người bạn đó thôi, hơn nữa, còn có bà phù hộ cho chị ấy mà”.

“Em thấy bà phù hộ thôi vẫn không đủ”. Karen nói. George nhún vai, dùng tay khều mấy sợi chỉ đen không mục đích, gom chúng lại với nhau, đặt giữa ngón tay thành đường thẳng.

“Em thấy chắc bà không ngờ lúc này lại xảy ra sự việc đáng sợ thế”, Karen nói, “thậm chí cả bố mẹ cũng không biết”.

“Ồ, bọn trẻ đó cũng không có gì ghê gớm”, George đang nói đến bọn trẻ mặc đồ đen, “bọn chúng chỉ hơi quái đản thôi”.

“Họ không chỉ có thế, họ… có thói quen xấu”. Karen nói.

Bản thân Karen không thể xác định người khác có thói quen xấu gì, cô bé chỉ biết từ sau khi Lindy chơi với họ thì đã trở thành con người khác trước, mùi ngửi thấy cũng khác, cách nói chuyện cũng khác. Chị ấy không nổi cáu với bố mẹ nữa, mà bình tĩnh cười nhạo họ. Bố lại khờ khạo đến bất ngờ, chẳng hiểu chị ấy đang nhạo mình. Chị cũng không còn nịnh mẹ rất có óc sáng tạo khi mẹ dùng khoen tròn trên nắp thơm đóng hộp làm gì đó, “công ty Dole nên dùng ảnh mẹ làm quảng cáo trang bìa tạp chí!”. Khi nói đến sốt Pupu nổi tiếng thế giới, chị phát âm quá rõ cái tên đó, làm George và Karen nén lắm mới không phì cười. Mẹ thông minh hơn bố, đầu tiên mẹ lộ vẻ khó tin, sau đó mới nói: “Ồ… cám ơn”. Những lúc trò chuyện thế này, Karen đều thấy bố mẹ chúng ngây thơ đến mức ngô nghê. Sao họ có thể trở thành chỗ dựa cho các con chứ? Sao có thể nuôi ba đứa con trưởng thành?

“Thế này”, Karen thì thầm với George, “chúng ta hãy nói với mẹ rằng, hôm qua lúc đến phòng Lindy thì không nghe thấy tiếng chị ấy, chúng ta chỉ tưởng là nghe thấy, nên có lẽ từ đêm qua chị ấy đã không ở nhà”.

“Sao không chờ bố về rồi nói?”, George hỏi.

“Được, nhưng bố sẽ nghĩ chúng mình không thành thật, hoặc sẽ có những suy nghĩ khác”.

“Nhưng em biết mẹ sẽ có phản ứng gì mà”. “Em thấy nên nói với mẹ”. Karen khẳng định.

“Vậy em cứ nói, nếu không sợ nghe tiếng thét thất thanh của mẹ”.

Chúng nhìn nhau, cằm đều hất cao lên. Mẹ chúng đang nói chuyện qua điện thoại: “Ồ, đúng thế! Bọn người đó dù có làm gì cũng không khiến em ngạc nhiên”. Với Karen, đấy là một niềm an ủi. Chắc chắn có ai đó cho mẹ cơ hội tâm sự mọi uất ức trong lòng. Dù sao mẹ chúng cũng có rất nhiều bạn bè… Tuy có lẽ không làm ta hài lòng, nhưng…

Nếu nói với mẹ chuyện của Lindy, có lẽ mẹ sẽ tỏ ra rất lý trí.

Nhưng George vẫn với bộ dạng hất cao cằm, Karen hiểu anh mình sẽ không thay đổi ý kiến.

Bỗng nhiên mẹ chúng nói vào điện thoại: “Tạm biệt, chị yêu!”.

Mẹ gác máy, bắt đầu dọn dẹp cây cảnh trong nhà, tưới nước, nhổ cỏ cho mớ cây xanh um tùm của mẹ, rồi ngắt bỏ những cái lá vàng trên cây. Dù được mẹ chăm sóc cẩn thận, vẫn có một chậu cây dương sỉ héo úa. Sau đó, mẹ nhìn Karen với vẻ ngạc nhiên: “Vậy sao giường Lindy lại bố trí như thế?”.

Bất chợt, Karen nghĩ việc mình làm bị mẹ phát hiện, nó định nói – “Mẹ đúng đấy, con làm cả đấy, chính con đặt áo khoác ở đó” – nhưng mẹ nói lại nói tiếp: “Chắc nó đã bố trí sẵn vào tối hôm qua”.

“Tối hôm qua?”, Karen hỏi.

“Vì sao nó lại phải bố trí giường như thế vào buổi sáng chứ? Không cần thiết mà! Nó hoàn toàn có thể ngủ ở đó, chờ chúng ta đến nhà thờ thì dậy ra ngoài. Nhưng sáng nay con lại bảo thấy nó trong phòng”.

“Ơ”, Karen nói, “con tưởng mình thấy chị ấy”. “Thật ra con thấy những gì?”.

“Ơ, ừm… trên giường cộm lên một khối”.

Pauline nhìn cô bé hồi lâu, sau đó đặt bình phun trong tay xuống. “George?” Pauline vừa gọi vừa nói vừa đi đến phòng con trai, Karen theo sau.

George vẫn đang chơi mô hình lập thể của nó. Tất cả người giấy đều cắt thành hình dạng giống nhau, điều này làm Karen thấy hơi đáng ngờ. Nó đang tô mặt người giấy màu hồng phấn. Khi mẹ nó xồng xộc bước vào, nó không hề ngẩng đầu lên nhìn. “George, nhớ lại xem”, mẹ nói, “lúc con hỏi Lindy đến nhà thờ không, nó trả lời thế nào? Hay ngủ tiếp?”.

“Chị ấy ngủ tiếp”. Nó trả lời, rồi với tay lấy một người giấy khác.

“Nó có nhúc nhích không? Con có thấy chị cử động người không?”.

“Không. Chị ấy cứ nằm đó”.

“Nhưng lúc đó con bảo… chẳng phải con bảo chị nói là muốn ngủ nướng sao?”.

“Con có nói chị đang ngủ nướng”. Nó trả lời.

Nghe như George rất chắc chắn về lời nói của mình và vẫn tập trung nghiên cứu công việc đang làm, khi đến chỗ phải tô cẩn thận vùng tóc, George khom thấp lưng xuống, điều này làm Karen nửa tin nửa ngờ. Lúc đó, Lindy nói thế thật sao? Giờ cô bé cũng không biết câu trả lời.

Pauline kêu lên: “Ối, trời!”.

“Mẹ”, George nói, đồng thời ngẩng đầu lên, “Lindy không sao đâu. Mẹ sao thế?”.

“Mẹ chỉ muốn biết nếu chị của con gặp chuyện, con sẽ nghĩ sao?”. Pauline nói rồi ra khỏi phòng, đi xuống nhà. Karen theo sau, hy vọng mẹ gọi điện thoại cho các bạn. Nhưng mẹ không làm thế, mà đi thẳng đến nhà bếp. Mẹ kéo rèm cửa sổ lên, nhìn ra ngoài đường. “Ôi”, mẹ òa khóc nói, “bố các con ở đâu chứ? Ông ấy chuyển đến cửa hiệu ở luôn cho rồi, mẹ dám tin bố con đã “kết hôn” với cửa hiệu đó từ lâu. Rốt cuộc ông ấy ở đâu? Lúc này ông ấy còn ở đó làm gì?”.

“Có lẽ mẹ nên gọi điện cho bố”. Karen đề nghị. Một mình an ủi mẹ mà không ai giúp, điều này làm cô bé rất bất an.

“Đôi lúc mẹ cảm thấy ông ấy cố tình chọc giận mẹ nên mới đến đó”, mẹ than vãn, “chính mẹ đề nghị chuyển đến nơi này, giờ bố bắt mẹ trả giá! Cửa hiệu đó có thể thuê người quản lý. Nếu không, đóng cửa quách cho rồi, mở một hiệu mới ở Baltimore”.

“Mở một siêu thị cũng hay đấy”. Karen nói. Cô bé chẳng còn thích cửa hiệu của bố nữa, nơi đó luôn có mùi bánh mì và pho mát không tươi ngon. Lúc nhỏ, cô bé rất thích đưa bạn bè đến đó, mời các bạn ăn kẹo miễn phí. Nhưng ngày tháng dần trôi, cô bé dần thấy đó là một nơi làm mình xấu hổ.

“Mẹ nghĩ chắc Lindy đến Mexico”. Pauline vừa nói vừa quay đầu vào.

“Mexico!”.

“Mẹ biết con bé thích đọc những cuốn sách nói về du lịch kể về những người quá giang xe giữa đường hoặc ăn cắp xe, hay đi tàu hỏa ‘chui’ đến Mexico”.

Lúc nói, tay Pauline nắm chặt lấy rèm cửa sổ, nhưng Karen lại thấy lời của mẹ Pauline là một niềm an ủi cho mình. Ồ, chỉ đến Mexico thôi! Cô bé luôn lo lắng sẽ xảy ra chuyện khủng khiếp hơn: bắt cóc hoặc cưỡng bức. Cô bé còn nhớ vào một đêm nọ, Lindy đang đứng trước cửa đón xe đi xem phim. Khi thấy đèn xe di chuyển dọc con đường đến đây, Lindy liền chạy ra, mở cửa xe nhảy lên ngồi, sau đó mới ý thức được người tài xế đó mình không hề quen biết. Sau đó, cô bé kể chuyện này với Karen và George: người đàn ông trung niên lái xe lúc đầu giật mình, sau đó trở nên rất vui, đưa tay vỗ lên gối Lindy, hứa sẽ lái xe đưa cô bé đến bất cứ nơi nào trên thế giới có thể làm cô bé vui. Lúc đó Lindy đã cười ngặt nghẽo, còn Karen sợ đến xanh mặt. Chuyện gì cũng có thể xảy ra! Thế giới này khắp nơi hiểm nguy rình rập! Nhưng so ra, cuộc sống ruộng vườn ở Mexico nghe có vẻ an toàn hơn nhiều.

“Karen, Lindy có bạn trai không?”, Pauline hỏi, “Trong số những người giao du với con bé có ai đặc biệt không? Nói mẹ nghe nào!”.

“Chị ấy chưa từng kể chuyện đó với con”. Karen trả lời. “Mẹ sợ nó bỏ đi bụi”.

Karen há hốc mồm ngạc nhiên.

“Cho mẹ biết chị con có bạn trai không?”.

“Lindy không kết hôn đâu”, Karen nói, “chị ấy không tin vào hôn nhân”.

Mẹ cô bé rên rỉ lên một tiếng.

Sau đó, chiếc Chevrolet của Micheal lái vào lối đậu xe cạnh nhà. Cảnh tượng đó lúc này làm ta thấy thân thiết và an ủi vô cùng. “Bố về rồi”. Karen nói.

“Kỳ tích chưa bao giờ dừng lại”. Pauline nói, rồi quay về phía cửa sổ.

Micheal đang bình thản bước xuống xe, đặt cái chân dài khẳng khiu từ trên sàn xe xuống, tay nắm lấy phía trên cánh cửa, đứng thẳng dậy.

Một lần nọ, bố từng nói với mẹ: “Em có biết anh muốn em thế nào không, Pauline? Đừng chào đón anh bằng tin xấu. Khi anh đi làm về, em cũng nên cho anh thời gian bỏ chìa khóa xe xuống, cởi áo khoác, thở lấy hơi rồi mới nói anh nghe những chuyện như tắc bồn cầu…”. Nhưng chiều hôm nay, vẫn chưa chờ bố vào nhà, mẹ đã mở cửa, khóc ầm lên: “Lindy bỏ nhà đến Mexico rồi!”.

“Sao?”.

“Hoặc là nơi khác. Em biết trước sẽ xảy ra chuyện này mà”.

“Nói lần nữa xem, Pauline. Con bé làm gì?”.

“Nó không ở nhà, giờ em mới biết hóa ra nó không ở nhà, ý em là từ tối hôm qua. Chúng ta ngỡ nó ở nhà nhưng không phải. Nó mất tích rồi!”.

Bố nhìn Karen.

“Sáng nay con và George cũng ngỡ chị ấy nằm trên giường, nhưng thực tế thứ chúng con thấy là bộ đồ ngủ cuộn dài”. Karen nói.

“Chúng ta phải báo cảnh sát”, mẹ nói với bố, “anh gọi điện đi, Michael. Họ xem trọng lời của đàn ông hơn”.

“Ơ, phải, cảnh sát”. Bố nói. Bố đi lướt qua mẹ, đến phòng khách rồi ngồi phịch xuống ghế salon, áo jacket còn mặc trên người. “Em biết cảnh sát sẽ nói với chúng ta: sau 24 giờ hãy gọi lại cho họ”.

“Nhưng đã 24 giờ rồi! Nó đi lúc cả nhà ăn tối hôm qua, giờ đã hơn 4 giờ chiều ngày hôm sau rồi!”.

“Pauline, sao em không đi tìm nó từ sớm? Sáng nay Lindy đã không ở nhà mà?”.

“Nó bố trí giường trông như đang ngủ ở đó vậy”.

“Nhưng George nói với anh… Karen cũng nói với anh…”.

“Chúng bị lừa! Con bé ra ngoài từ tối hôm qua, đến giờ vẫn chưa thấy về!”.

Lần này, bố không bảo mẹ giữ bình tĩnh nữa, mà ngồi lặng trên ghế salon, hai tay nắm chặt lấy gối.

“Michael, gọi điện mau!”, mẹ van xin.

Bất giác, George đã đến trước cửa phòng khách, bố nhìn nó chằm chằm. “Để anh nghĩ nào”, một lúc sau bố nói, “tính từ khoảng sáu bảy giờ hôm qua, có lẽ bảy giờ chính xác hơn, đến bốn giờ chiều nay… chỉ có 21 tiếng”.

Mẹ chúng giận dữ thổi ra một tiếng “phù”.

“Nói với họ, chị ấy bỏ đi lúc 4 giờ”. George kiến nghị. “Sao? Nói dối với cảnh sát?” bố hỏi, “Làm thế ích gì cho chúng ta chứ? Không được, chúng ta chờ đến 7 giờ vậy, lúc đó anh sẽ gọi điện”.

“Michael, hãy nể tình Thượng đế!”, mẹ nghẹn ngào van xin.

“Bây giờ, chúng ta phán đoán xem nào. Em đã liên lạc với bố mẹ bạn bè nó chưa?”.

“Bố mẹ bạn bè gì chứ?

Chúng ta có quen họ đâu! Chúng ta đâu biết nó giao du với những đứa nào, bọn chúng tên gì, ở đâu…”.

“Sao lại có chuyện như thế?” bố hỏi. Trông bố quả rất bất ngờ, dù mẹ chúng đã nói chuyện này với bố vô số lần. “Karen? George? Chắc các con biết bọn trẻ đó”.

“Ồ”, Karen nói, “có một người tên Smoke”. “Smoke?”.

“Chính người đó cho Lindy mượn một cuốn sách mà chị ấy luôn miệng khen hay”.

“Vậy, ‘Smoke’ có họ gì chứ?”.

“Không biết”, Karen trả lời, “con chẳng biết gì cả, con chỉ thấy cái tên đó rất đặc biệt”.

Mẹ hỏi: “Có khi nào đấy là bạn trai Lindy không?”. “Con không biết”, Karen nói, “con thấy không phải”. “Ôi, sao con bé bí ẩn thế nhỉ? Nó muốn che giấu điều gì?”.

“Pauline, bình tĩnh nào”, bố chúng nói, “truy rõ ngọn nguồn chẳng giải quyết được vấn đề đâu”.

“Trời ạ, Michael! Con gái lớn chúng ta biến khỏi trái đất này rồi đấy!”.

“Thực tế, nó không về nhà đúng giờ thôi. Rất có thể nó đi… Ồ, có lẽ nó tham gia tiệc tùng gì đó rồi ngủ lại nhà bạn bè”.

“Tiệc tùng!” mẹ gào lên, nói xong, dường như mẹ đã nhượng bộ, ngồi xuống ghế, hai tay ôm lấy mặt.

“Đúng 7 giờ”, bố nói, “anh sẽ gọi cho cảnh sát”.

Bố liếc nhìn đồng hồ trên tủ sách, thời gian hiển thị là 4g17. Bố lại quay nhìn mẹ, mẹ cũng đang nhìn bố, tiếng đồng hồ kêu tích tắc lớn như tiếng bước chân.

Hai viên cảnh sát trả lời máy, một già và một trẻ. Lúc sau, họ dừng xe bên đường, để tất cả hàng xóm đều thấy, sau đó bước những bước rất vang đến trước cửa nhà, không chờ họ bấm chuông, mẹ đã ra mở cửa. “Mời sĩ quan vào! Cám ơn các sĩ quan đến kịp thời, sĩ quan không biết tôi…”.

Karen thấy lời mẹ nói nghe hơi buồn cười. Bỗng nhiên, tình hình trong nhà rất hỗn loạn: mẹ chạy đi chạy lại trong phòng khách với bộ dạng hồi hộp; bố mặt nghiêm túc, làm ra vẻ chuyện này vô cùng quan trọng. Hai viên cảnh sát chọn hai chiếc ghế ngồi không thoải mái nhất trong nhà – ghế có lưng gồm hai trụ nối bằng những thanh ngang, đó từng là chỗ ngồi của bà nội Anton lúc còn sống. Khi họ ngồi xuống, trên người phát ra tiếng kêu cọt kẹt, có lẽ do bao súng đen cứng ngắc treo ở thắt lưng, hoặc bộ đồng phục của họ – trông như được may từ loại vải cứng hơn nhiều so với chất liệu bình thường. Viên cảnh sát già vóc người gầy nhỏ, nhưng rất rắn chắc; viên cảnh sát trẻ rất to béo, khuôn mặt không râu, nhìn trẻ con. Viên cảnh sát trẻ hỏi tên đầy đủ, tuổi và đặc trưng diện mạo của Lindy, bao gồm cả bộ trang phục mặc khi bỏ nhà đi. Màu đen, mọi người chỉ có thể cung cấp điểm này. Anh ghi tất cả câu trả lời vào cuốn sổ tay có gắn lò xo ở phía trên, cuốn sổ này có thể mua được ở bất cứ cửa hiệu văn phòng phẩm nào. Cây viết bi anh đang cầm là cây viết bấm đi theo bộ với cuốn sổ.

“Chúng tôi từng gặp rất nhiều vụ thế này”, viên cảnh sát già nói với bố mẹ, “chúng bắt đầu quen bạn trai, bắt đầu phớt lờ quy định giờ cấm cửa… Chúng tôi thường tìm thấy chúng ở bang Maryland và Elkton. Cả hai bỏ trốn đến nơi có thể kết hôn mà không cần chờ cho đủ tuổi”.

“Ồ, nhưng tôi thấy nó chẳng có bạn trai”. Mẹ nói. “Hãy thứ lỗi khi tôi nói điều này, thưa bà, bố mẹ luôn là người cuối cùng biết chuyện”.

“Ông biết đấy, Lindy thích đi cùng một nhóm bạn hơn, chứ không thích đi riêng với bạn trai”.

Viên cảnh sát trẻ không ghi lại đoạn trò chuyện này, dù Karen mong muốn anh làm thế. Anh nhìn viên cảnh sát già và dò hỏi. Viên cảnh sát già đang nói: “Tôi biết”.

“Tôi hiểu”. Ông lặp lại lần nữa, sau đó bảo: “Mỗi ngày cô bé đi cùng bao nhiêu người bạn, bà có thể đoán chừng số lượng không?”.

“Ơ, có thể có… bao nhiêu nhỉ, Michael? 5 đứa? 6 đứa?”. “Cô bé đi chơi với đám bạn trai đó suốt đêm sao?”. “Ối, trời, không phải! Lindy có vài giờ ở nhà, hơn nữa nhóm bạn của nó không chỉ toàn con trai, đúng không, Karen? Đúng thế, dĩ nhiên có cả con gái nữa, chúng là một nhóm mấy đứa trẻ cả nam và nữ tụ họp với nhau, không chỉ có con trai”.

“Cô bé có uống rượu không, thưa bà Anton?”.

“Uống… rượu? A, dĩ nhiên là không! Nó mới 17 tuổi! Đang là học sinh lớp 11, lại thường xuất hiện trên bảng danh dự của nhà trường đấy!”.

“Mãi cho đến năm lớp 11”. Viên cảnh sát già nhắc lại và nhìn viên cảnh sát trẻ. Sau đó ông nói tiếp: “Hãy cho tôi biết: cô bé có thường lui tới chỗ nào không? Ví dụ như quán bar hay hộp đêm gì đó, có lẽ chủ quán biết chút thông tin gì về cô bé?”.

“Quán bar!?” mẹ Karen kêu lên, cùng lúc đó, bố Karen nói: “Thưa ông, tôi nghĩ chắc ông hiểu lầm rồi”.

Hai viên cảnh sát đều tập trung nhìn Micheal. Viên cảnh sát trẻ bấm thu đầu viết lại, để chứng tỏ mình đang tập trung cao độ.

“Có lẽ con gái chúng tôi hơi nổi loạn”, bố Karen nói, “thỉnh thoảng nó về khá muộn, thiếu tôn trọng người lớn, nhưng nó tuyệt đối không say men cùng bọn du đãng trong quán bar, nó không phải đứa chẳng ra gì, nó không phải… rác rưởi, hiểu không?”.

“Tôi hiểu, thưa ông”. Viên cảnh sát già đáp. Nhưng hai người họ chẳng chút thay đổi, vẫn ngồi đó với vẻ mặt lạnh như băng, trông bình tĩnh và lịch sự vô cùng.

Lần này ở một góc phòng, cả nhà Karen đưa mắt nhìn nhau. Bố mẹ chúng ngồi trên ghế salon, George ngồi trên ghế tay vịn, Karen ngồi trên ghế nệm trước mặt George. Họ chẳng nói câu nào, thậm chí chẳng ai nhúc nhích, nhưng Karen thấy khoảng cách giữa họ chẳng hiểu sao lại gần nhau hơn.

Theo thông lệ, bữa tối chủ nhật thường diễn ra rất sớm, nhưng chẳng ai thấy ngon miệng, họ đều ngồi chờ điện thoại của cảnh sát. Dù sau khi hai viên cảnh sát rời khỏi, Karen nói với mẹ: “Con đói rồi!” bố cô bé cũng nói: “Anh nên nướng ít sandwich phó mát chăng? Đói quá”. Đó là món ruột của bố, một năm chỉ làm vài lần.

Thế là họ vào bếp. Bố lấy ra một cái chảo đáy bằng hình vuông và một khối phó mát hình viên gạch to lớn. Chỉ trong vài phút, cả căn bếp thơm nồng mùi phó mát. Nó làm Karen cảm thấy có chút không khí ngày lễ. Ồ, cảm giác nặng nề đang cấu xé dạ dày của cô bé. Cô bé vẫn chú ý động tĩnh ở cửa. “Tôi dám chắc, con gái ông bà tối nay sẽ cụp đuôi về nhà”. Viên cảnh sát già đã nói thế. Cuối cùng, hai kẻ ngốc nghếch cũng rời khỏi. Tiếng máy bộ đàm kêu ồ ồ trong tay viên cảnh sát già cũng biến mất. Dường như những người khác trong nhà cũng có cảm giác tương tự: bố đứng bên bếp lò, vung múa cây dao trong tay, bắt chước giọng của đầu bếp người Pháp; mẹ cũng thư giãn đôi chút, mỉm cười đứng một bên quan sát; George lười nhác dựa vào một chiếc ghế trong bếp, có thể họp mặt gia đình thế này, với cậu bé quả rất hiếm có.

“Là, lá, la”, bố vừa hát vừa lấy miếng sandwich màu nâu nhạt trong chảo ra, “món này rất thích hợp cho những thanh niên không thích ăn sandwich nướng cháy”. Bố đặt sandwich đã nướng vào một chiếc đĩa, đưa cho Karen. Karen nhún gối, đưa hai tay ra đỡ lấy chiếc đĩa tựa như cô hầu.

“’Cụp đuôi,’” mẹ nói, “em ghét cụm từ này, mọi người thấy sao?”.

“A, họ biết gì chứ?” bố nói, “Chẳng hiểu sao ông ta làm cảnh sát được! Họ chẳng hạn chế cân nặng sao?”.

Khi quay người đưa sandwich cho George, Karen phát hiện trong nhà chỉ mình anh nó không cười, mà trơ mặt. Lúc đó, cô bé rất muốn biết chuyện gì đang làm George rối rắm, vài phút sau, cô bé chợt nghĩ ra: Ồ, là Lindy, suy nghĩ này dường như làm cô bé bị trúng một đòn nặng nề.

Trong đầu Karen hiện lên cảnh Lindy mặc bộ trang phục bó sát người màu đen, đóng sầm cửa phòng, làm khung cửa rung đến muốn nứt ra; cảnh tượng Lindy ôm bụng cười khi bước lên xe một người xa lạ. Mỗi sự việc đều lần lượt hiện ra trước mắt, cứ như Lindy hiện giờ đang vung vẫy nắm đấm, gào thét, khóc lóc, cười rộ. Lindy là điểm sáng của căn nhà này, là hình ảnh tượng trưng cho sự dũng cảm và mạo hiểm.

Karen thấy tan nát cõi lòng, nhưng vẫn kiên trì đưa đĩa cho George: “Bánh sandwich của ông đây, thưa ông”.

Từng có một khoảnh khắc, George dường như hạ quyết tâm làm gì đó, rồi vẻ mặt nó thư giãn hơn nhiều.

Lindy lúc này vẫn không rõ tung tích, nhưng bỗng nhiên trong lòng Karen tràn đầy hy vọng, hy vọng này gần như làm cô bé thấy choáng váng. Với cô bé, có lẽ từ lúc này, gia đình họ cuối cùng đã có thể sống những tháng ngày hạnh phúc.

Chương 4

Trong trí nhớ của Michael có một hồi ức thời thơ ấu mãi anh không bao giờ quên.

Anh cùng mẹ và anh trai đang đi trên đường Boston, lúc đó anh khoảng 8 tuổi, Danny đã 12. Họ đi mua ít đồ, nhưng giờ anh không còn nhớ mua gì, có lẽ là vật dụng hằng ngày và những thứ khác. Vì phải đi mua những thứ này nên trước khi chưa đến cửa hiệu, anh đã thấy rất bực mình và mệt mỏi. Mẹ và anh trai rảo bước đi nhanh, bỏ lại Micheal đi một mình ở phía sau, làm anh giận đến mức cứ mãi nhìn họ bằng nửa con mắt, anh còn nhăn mũi khi ngửi thấy mùi cà chua nóng tỏa ra từ trong xưởng chế biến đồ hộp. “Đi mau lên”. Mẹ đi trước gọi vọng lại. Bỗng nhiên, Danny ngã lăn trên vỉa hè, Michael cười rộ lên. Anh ngỡ Danny đang chọc cười người mẹ chẳng có óc hài hước gì. Mẹ vội chạy đến đỡ Danny dậy, nào ngờ anh lại ngã xuống. Michael còn nghịch ngợm che một tay lên miệng cười vui, nhưng khi nhìn thấy sắc mặt của Danny, anh cũng sợ hết hồn.

“Danny?”, mẹ hốt hoảng gọi, “Danny!”.

“Con cũng chẳng biết chuyện gì nữa”. Danny nói.

Michael sợ đến sửng người. Bỗng nhiên anh thấy Johnny Dimsky và Johnny Ganek ở ngay phía trước. Họ là vận động viên bóng chày xuất sắc nhất của trường tiểu học St. Cassians. Michael càng căng thẳng hơn, anh cầu xin Thượng đế, đừng để họ thấy tình cảnh này.

Từ sau hôm đó, thỉnh thoảng Danny không đi được. Đôi lúc anh đánh rơi cả cốc sữa xuống đất. Mọi người đều không biết anh sẽ xảy ra chuyện gì.

Dĩ nhiên, họ hỏi rất nhiều bác sĩ về tình trạng của Danny. Ngoài ra, bố mẹ Michael có thảo luận vấn đề này với hàng xóm. Michael thấy bệnh tình Danny rất nguy hiểm. Nhất là ở nơi công cộng, anh luôn ngồi thẳng đơ, cơ căng cứng. Micheal cầu mong cơ bắp của Danny hoạt động bình thường, chứ nếu người ngoài biết bí mật của gia đình, sẽ mất mặt biết nhường nào.

Về sau, những tháng ngày vất vả này mờ dần trong ký ức của Micheal. Anh chỉ nhớ đại khái Danny ngồi trên chiếc xe lăn hoặc nằm thẳng trên giường, mẹ ngồi bên cạnh cầm ly cho Danny hút nước. Vào một đêm mùa đông cách sinh nhật lần thứ 19 không bao lâu, Danny qua đời. May mà lúc đó Michael đang say giấc, chẳng biết gì cả. Sáng sớm khi thức dậy, Micheal phát hiện Danny đã không còn nữa, giọng nói lẫn bộ dạng ngốc nghếch khi nói chuyện trước đây của anh cũng biến mất. Duy chỉ còn mỗi chuyện xảy ra trên đường Boston cách đây rất lâu là đọng sâu trong ký ức anh.

Giờ đây, Michael thấy cuộc đời mình tựa như đang đi trên con đường Boston vậy. Anh luôn phải che giấu một điều gì đó. Dĩ nhiên cuộc hôn nhân của người khác không long đong như của anh! Con gái nhà người ta cũng không khó dạy bảo thế! Anh lén quan sát hàng xóm, mong rằng sẽ phát hiện một vài vấn đề của họ, nhưng chẳng thấy có gì nghiêm trọng. Mimi Drew trách chồng mình, nhưng cô vẫn âu yếm khoác tay anh; con gái Brian đi hẹn hò về trễ cũng bị cấm cửa, dù có cãi lại vài lời, nhưng cô bé vẫn chịu phạt.

Cuối cùng, Lindy cũng không về nhà.

Sau lần đầu tiên biến mất, Lindy dường như đã tập thành thói quen không nghe lời dạy bảo của bố mẹ. Mỗi lần bị bố mẹ la mắng, cô bé liền bỏ nhà đi. Cảnh sát càng mất kiên nhẫn hơn với những cú điện thoại của họ. Hơn nữa họ cũng chẳng màng quan tâm đến chuyện này nữa. Cả hiệu trưởng cũng chỉ hỏi qua loa một số vấn đề về nhà Anton với lời lẽ có ý khinh miệt.

Vào năm học cuối, cô bé bị đình chỉ học hai lần. Lần đầu vì trốn học, lần thứ hai vì hút thuốc. Trong kỳ nghỉ Giáng sinh, bỗng nhiên cô bé biến mất, ba ngày sau trở về chẳng một lời giải thích gì. Họ đưa nó đến một bác sĩ tâm lý do nhà trường giới thiệu. Cô bé lại uể oải cúi thấp đầu trong phòng bác sĩ, chẳng nói chẳng rằng.

Học kỳ mới vào mùa xuân, vì mang theo sáu chai bia trong giờ thể dục, cô bé bị đình chỉ học một tuần. Hiệu trưởng giới thiệu cho họ một ngôi trường dành riêng cho những đứa con gái chuyên gây rắc rối ở phía tây Virginia, nhưng Michael và Pauline không chịu được khi phải đưa con đến nơi đó. Họ thấy mình chẳng còn cách nào để giúp con họ nữa. Trong một tuần bị đình chỉ học, Lindy ngồi xem ti vi suốt trong phòng. Pauline nói với Michael rằng khi dùng máy hút bụi dọn dẹp nhà cửa, Lindy luôn ngồi thừ người ở đó chẳng nói lời nào, mắt nhìn chằm chằm Dave Garroway trên ti vi, dù bình thường cô bé luôn cười nhạt khinh bỉ trước những người cho rằng ti vi là “thức ăn tinh thần” không thể thiếu.

Một buổi chiều nọ, bỗng nhiên có khách đến nhà. Ba đứa con trai và một đứa con gái mặc đồ đen, chúng cố tình xuống tầng hầm. Thực tế, thái độ của Pauline trước sự việc này cũng có chút thay đổi. Không ngờ cô mời chúng vào nhà, còn mang bánh đãi chúng. Khi cô bước vào, chúng đều không nói chuyện, nhưng chí ít cũng lầm bầm cám ơn, đồng thời rút chân lại. “Hôm nay trời đẹp thật”, cô nói với chúng, “sao các cháu không ra ngoài vườn ngồi nhỉ?”.

“Mẹ”, Lindy nói, “mẹ có ngại khi để chúng con nói chuyện riêng không?”.

Pauline nói: “Mẹ chỉ góp ý chút thôi”.

Sau đó cô nói với Michael về đứa con trai, dáng người cao gầy, cằm có một chỏm râu, trông chẳng lành mạnh, chắc là đứa cầm đầu nhóm. Lúc cô ở trên lầu, luôn nghe thấy nó lầu bầu, hơn nữa dường như nó cứ lượn vòng quanh Lindy. Khi nghe nói đứa cầm đầu nhóm thích con gái mình, Michael bỗng nhiên thấy có chút hãnh diện, thậm chí bản thân anh cũng bất ngờ trước suy nghĩ này.

Hôm đó là thứ sáu. Đến thứ hai, Lindy trở về trường, bộ dạng ngoan ngoãn vâng lời, mang theo tập sách và ba lô bằng vải bố màu nâu nhạt kẻ sọc. Về sau Pauline nói với Michael, cô thấy lần đình chỉ học này quả thật có tác dụng. “Ý em là, để con bé lười nhác một tuần đã đủ rồi”, cô nói, “chỉ sáng nay, em chẳng cần cằn nhằn bảo nó chuẩn bị cho mau, em thấy nó rất vui khi đến trường. Em tin con bé đã có được bài học”.

Hôm đó, Michael cũng rất thoải mái vui vẻ. Hiển nhiên mấy tháng gần đây anh luôn lo lắng sợ hãi, mãi đến khi nỗi lo sợ này biến mất anh mới ý thức được.

Karen ba giờ tan học về nhà, dẫn theo cô bạn thân Maureen. George khoảng 4 giờ rưỡi thì về đến nhà, nhưng Lindy vẫn chưa thấy đâu.

Lúc 6 giờ, Michael về, lúc này Pauline đang nóng ruột. “Chúng ta phải làm sao đây?”. Anh vừa bước vào cửa cô liền hỏi ngay. Và anh luôn cầu nguyện Pauline đừng làm thế mỗi khi anh vừa về đến nhà! “Chúng ta không thể gọi điện thoại đến trường! Họ sẽ nghĩ lại xảy ra chuyện gì rồi”.

“Có lẽ con bé đang ôn bài”, Michael nói, “Thầy sẽ giúp nó theo kịp tiến trình trong lớp. Đừng quên rằng, nó đã lỡ mất bài một tuần nay”.

“Cũng 6 giờ rồi, chẳng thầy cô nào dạy học sinh giờ này!”.

“Có lẽ là…”.

“Hơn nữa thầy cô cũng không cho phép nó ôn lại bài đã bỏ, nó bị đình chỉ học mà!”.

“Pauline, chúng ta đi kiểm tra hàng tồn nhé. Giờ vẫn còn sớm, cấp III thường… có một số hoạt động ngoại khóa hoặc những việc khác”.

“Ôi, Thượng đế phù hộ, Michael, anh nghĩ nó đang tập kịch sao?”.

Anh ghét Pauline nói bằng giọng điệu đó, quá gay gắt cay nghiệt.

Mãi đến 7 giờ rưỡi họ mới ăn tối. Mọi người chẳng ai nói với ai. Hai đứa trẻ chỉ khom người mà ăn. Michael chẳng nuốt nổi thứ gì, hơn nữa cảm giác sợ hãi một lần nữa bao trùm lấy anh.

Vào lúc đó, anh có ý thức được rằng lần này Lindy sẽ biến mất mãi mãi không? Về sau nhớ lại, anh mới phát hiện mình chỉ là Gia Cát Lượng sau khi sự việc đã xảy ra, chứ không phải Khổng Minh đoán chuyện như thần. Anh còn nhớ rất rõ sáng sớm hôm đó. Cũng giống như lúc Pauline nói khi than oán, anh phải nghi ngờ chứ, ba lô của cô bé trông rất nặng, chẳng thấy sách đâu, điều rõ ràng nhất là: lúc nào cô bé cũng đề phòng, tất cả đều là lời cảnh báo cho anh. Lẽ nào Pauline không nghĩ đến sao? Lẽ ra trực giác phải mách bảo cô ấy chứ! Michael luôn nghĩ cô rất có tinh thần trách nhiệm. Khi bị cảnh sát, lãnh đạo trường, hàng xóm, bạn học và những bậc phụ huynh khác truy hỏi, anh chẳng nói gì cả, cứ nhìn Pauline với ánh mắt trách móc. Pauline đang ôm đầu vừa khóc vừa nói lung tung, trông cô chẳng còn bình tĩnh nữa. Đây là lần đầu tiên anh thấy cô buồn bã thế. Trước đây anh luôn nghĩ mình không thông minh bằng cô, nhưng giờ hãy nhìn cô xem! Hãy nhìn mà xem!

“Tôi mong anh hiểu con gái tôi là đứa đứng đắn”, cô nói với một viên cảnh sát, “nó không phải là đứa trẻ phạm tội mà anh đang tuần tra, nó không chào đời trong một gia đình vô giáo dục, nó cũng chưa từng phạm tội. Nó chỉ…! Nó chỉ là… Ôi, tôi cũng chẳng biết thật ra nó thế nào! Bản thân tôi cũng lấy làm lạ! Tôi chưa từng gặp chuyện thế này! Tôi thề, sau khi trưởng thành nó sẽ giống như những đứa trẻ khác. Không có hành vi nào vượt khuôn khổ, anh cũng chẳng cần phải suy xét nhiều. Dĩ nhiên, nó rất ương ngạnh, nhưng biết nghe lời. Nhưng tôi chưa từng nghĩ nó lại có hành vi cực đoan như thế, cứ như bỗng chốc thay đổi hoàn toàn và trở nên khó hiểu! Ôi, chắc anh cũng có con. Anh biết chúng thế nào: đôi lúc rất khó bảo, rất ngoan cố. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng sẽ mất tích, đúng không? Tại sao Lindy lại mất tích kia chứ? Tại sao? Đến giờ, tôi vẫn rất giận những đứa chơi chung với nó. Nhưng hôm qua, khi Leila Brand đến nhà… Anh có nói chuyện với cô Brand không? Mẹ của Howard Brand, chúng gọi nó là Smoke. Nó là một trong hai đứa khác cũng bỏ nhà đi phải không? Ái chà, Leila là người sống quy cũ và lịch sự nhất. Cô ấy mặc chiếc áo ngoài chui đầu giống hệt cái tôi mua ở cửa hiện Penny vào tháng trước, còn cả mái tóc ngắn mượt mà tuyệt đẹp. Ai ngờ được rằng cô ấy có đứa con trai râu ria lởm chởm, tính tình quái đản kia chứ? Hơn nữa tôi có thể chắc chắn cô ấy cũng có suy nghĩ giống tôi. Tôi là mẹ của đứa con gái hư hỏng Lindy Anton dẫn con trai cô ấy lầm đường lạc lối. Chắc chắn cô ấy sẽ nghĩ thế”.

Sau đó Pauline lại nghẹn ngào không nói tiếp được nữa, khóc nấc lên, nhưng Michael không đến an ủi cô, vẫn ngồi ngay ra đó, hai tay nắm chặt lấy đầu gối, mắt nhìn chằm chằm viên cảnh sát. Anh nhớ Pauline không chỉ một lần nhắc đến từ “chúng tôi” hoặc “của chúng tôi” khi nói đến Lindy. Mà hầu như trước đây chuyện gì cô ấy cũng nói “tôi” và “của tôi”, cứ như cả bộ phim chỉ có mình cô ấy diễn. Anh thấy mình trở nên lạnh lùng với Pauline, hơn nữa anh mong muốn viên cảnh sát hiểu rằng vợ chồng anh chẳng giống nhau chút nào.

Lúc đầu, Michael thấy Lindy có thể xuất hiện bất cứ lúc nào: hôm nay, ngày mai hoặc ngày kia. Mấy tuần sau, chỉ cần điện thoại trong cửa hiệu đổ chuông, anh liền nghĩ ngay là Pauline gọi đến báo Lindy đã về. Có thể buổi tối Lindy lẻn về nhà, sáng hôm sau sẽ thấy cô bé nằm ngủ ngon trên giường. Mỗi sáng thức dậy, Michael đều đến kiểm tra phòng cô bé. Anh nghĩ Pauline chắc cũng làm thế, vì cửa phòng đang mở.

Sau đó, vài tuần biến thành vài tháng, họ cũng mất hy vọng, không hối thúc cảnh sát nữa, cũng không thảo luận xem phải làm sao. Điều đáng ngạc nhiên là mỗi sáng thức dậy Michael luôn nhớ đến chuyện Lindy mất tích. Anh mong dùng hai bước để quên chuyện này: tận hưởng cái nắng ấm áp mùa hè và chìm đắm trong tiếng xe hơi nổ máy rền vang của hàng xóm. Thế nhưng, mỗi khi anh mở mắt ra, đều ý thức sâu sắc rằng: Lindy đã mất tích.

Sao anh quên được chuyện đó chứ? Đôi khi anh muốn quên đi dù chỉ một giây nhưng cũng không thể!

Anh biết suốt đời Pauline cũng không quên được. Anh biết cô luôn nghĩ đến chuyện này. Anh cũng thấy việc Lindy mất tích đã làm cô già đi. Hai nếp nhăn trên trán cô ngày càng sâu dần, lưng cũng ngày càng khòm, hệt như người phụ nữ trung niên. Thậm chí khi nghe George hay Karen kể những mẩu chuyện vui, trông cô cũng như đang cười gượng gạo.

Nhưng chắc chắn một điều, chuyện này không làm quan hệ của họ thân mật hơn. Thỉnh thoảng, Michael nghĩ có lẽ đã đến lúc họ phải kết thúc. Anh thấy sự ra đi của Lindy là dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân của họ: bố mẹ đang đóng kịch, bố mẹ chẳng phải vợ chồng, đây cũng không phải một gia đình đúng nghĩa. Michael không thích kể chuyện này với người ngoài. Một số hàng xóm mới đến giờ vẫn không biết chuyện. Pauline lại thích kể tường tận với người khác, nhưng khi mọi người hỏi Michael có mấy đứa con, anh liền trả lời: “Hai đứa. Con trai 16 tuổi, con gái 12 tuổi”. Mỗi khi anh nói thế, tim Pauline đau nhói. “Sao anh có thể không thừa nhận con gái ruột của mình chứ?”, cô thường hỏi anh thế và anh trả lời, “Họ chỉ muốn biết con cái nhà ta có bằng tuổi với con cái nhà họ không thôi. Anh nói thế, để tránh phiền phức”.

“Em thấy anh không thành thật. Anh làm em rất nhục nhã”.

“Có người nói đây là sự nhục nhã, cũng có người nói là không cẩn trọng, còn anh luôn thấy không cần thiết phải nói vấn đề nhà mình với tất cả mọi người”.

“Đây không phải vấn đề, Michael! Đây là sự thật! Sự thật đáng sợ và bức bối trong cuộc sống của chúng ta!”.

“Không cần thiết phải đóng kịch thế”. Anh nói với cô. “Được rồi, chí ít em cũng không phải khúc gỗ như ai đó!”.

Giờ đây Michael không tưởng tượng Lindy “có thể về nhà hôm nay” hoặc “có thể tuần sau sẽ về” nữa, mà bắt đầu hy vọng Lindy sẽ về vào những dịp quan trọng. Ví dụ như ngày Quốc tế lao động, khi họ nướng thịt ngoài vườn theo lệ thường, trước đây Lindy chẳng bỏ qua lần nào, cô bé rất thích món thịt nướng. Nhưng giờ cô bé không xuất hiện, quả thật rất buồn. Trước đêm Giáng sinh năm 1961, Michael bất chấp nguy hiểm, thắp sáng đèn trên cây thông Giáng sinh suốt đêm. Hôm Giáng sinh, anh thức dậy từ sáng sớm, giống như những đứa trẻ quá háo hức, rón rén ra vào phòng khách, nhưng chỉ thấy Pauline ngủ say trên sopha.

Anh biết Pauline nôn nao về sinh nhật của mình – chí ít là một tấm thiệp chúc mừng hoặc một cú điện thoại của Lindy. Khi anh hỏi, có muốn ra ngoài dùng bữa không, cô bảo muốn ở nhà ăn cơm với các con. Thậm chí, anh thấy cô chờ người đưa thư cả ngày, hơn nữa mỗi khi điện thoại reo, cô đều chạy vội đến nghe máy, nhưng chẳng được gì. Michael cố gắng đối xử tốt với cô, nên vờ như không thấy sự hụt hẫng đó. Nhưng cô không làm thế, vì ba tháng sau là sinh nhật Michael, trước lúc đi ngủ, cô nói: “Anh yêu, đừng chấp nhặt làm gì, chắc nó quên thôi”.

“Ai quên?”, anh giả ngây hỏi. Cô hôn anh, sau đó tắt đèn.

Nếu George và Karen nôn nao, chúng sẽ không để bố mẹ biết. Từ sau khi Lindy mất tích, chúng cũng thay đổi, trở nên trầm lặng hơn. Không khí trong nhà rất khó chịu. Tất cả những hỗn loạn Lindy gây ra trước đây, những lần cãi nhau trên bàn ăn, những lúc tranh chấp quyền lực, giờ đây nghĩ lại quả rất thú vị. Cùng lúc đó, Michael dường như hối hận khi phát hiện hai đứa còn lại trông rất nhạt nhẽo và không có cá tính gì nổi bật. George quá nghe lời và Karen với nét dịu dàng của một cô bé ngoan làm anh đôi lúc bực bội. Anh chỉ muốn nói với chúng: “Hãy bộc lộ chút sức sống đi!” dù anh biết mình cũng rất sầu não.

Thỉnh thoảng cảnh sát gọi điện đến, Michael đánh dấu trên lịch. “Tôi chỉ nói những việc cơ bản nhất, không dông dài. Người phụ nữ ăn cắp xe ở bang Oklahoma hình như từng thấy Lindy, nhưng sau đó lại bảo không có…”. Với người như thế, Michael chẳng thể lịch sự nổi, anh bắt đầu tin rằng tất cả cảnh sát đều là đồ bỏ. Nhưng trước đây họ khẳng định rằng: cô bé sẽ tự động về nhà thôi. Họ chưa từng nghiêm túc nhìn nhận vụ việc này. Khi Smoke gởi tấm bưu thiếp cho anh họ nó, trên đó viết: “Chào anh bạn! Tối qua tụi này cắm trại ở đó đấy”. Micheal thấy cảnh sát đã quá cẩu thả.

Bố mẹ Smoke chuyển đến Florida, cắt đứt liên lạc với họ. Năm 1963, họ phát hiện đứa con trai thứ hai Clement Anies sống chung với một cô gái người Puerto Rico ở Chicago. Clement nói với bố mẹ, sau khi bỏ nhà đi được một tuần, nó đã tan đàn xẻ nghé với hai người kia – vì tranh chấp về tiền bạc. Nó cũng không biết Lindy thế nào.

Những ngày tháng của Michael giờ đây đều trở nên rất ảm đạm, hay nói đúng hơn Michael không còn vui nữa. Khi họp mặt gia đình hoặc khi thưởng thức món ngon, anh đều nghĩ: giờ Lindy đang làm gì? Nó vẫn khỏe chứ? Nó có đói không? Có bệnh không? Nó vẫn còn sống chứ?

Khi nghĩ đến những điều này, bản thân anh cũng giật mình, nhưng anh vẫn xem những trận đấu bóng rổ, vẫn quan hệ chăn gối với Pauline, vẫn huýt sáo theo điệu nhạc trong radio.

Những chuyện này làm anh thấy hy vọng tìm lại Lindy càng mong manh hơn: trong tang lễ của mẹ Pauline, trong lễ khai trương cửa hiệu mới ở ngoại ô, trong hôn lễ của George và Sally đều không có bóng dáng của Lindy. Có thể nó nghe được đâu đó những chuyện này. Dù vậy, anh vẫn bất giác nhìn vào đám đông. Nhưng chẳng lần nào Lindy xuất hiện, giống như cô bé chưa từng xuất hiện trong đời họ.

Về sau, anh lại nghĩ dù Lindy có về, có lẽ anh cũng chẳng còn nhận ra nó. Giờ cô bé trông thế nào? Nó sắp 25 tuổi rồi. Thời gian nó rời khỏi nhà đã quá lâu.

Một buổi chiều ấm áp vào tháng 5 năm 1968, Pauline gọi điện cho Michael, anh nhấc máy, cô liền vội nói: “Anh họ Adam của anh vừa gọi điện đến, bảo Lindy đang ở San Francisco. Họ đưa nó vào bệnh viện rồi. Con trai nó đang ở chung với bà chủ nhà. Chúng ta phải đến đó ngay, đưa mẹ con nó về nhà”.

Lúc đó Michael đang ngồi trên chiếc hộp giấy để sổ lương.

Vì chiếc ghế duy nhất trong văn phòng bị cô thư ký ngồi mất rồi. Cô ấy đang bình thản bấm các nút trên máy tính, nhưng Michael nghĩ rằng chắc chắn cô nghe được nhịp tim đập thình thịch của mình.

“Chúng ta phải đến đó, anh mau về nhà đi, chúng ta đến đó bằng cách nào?”. Pauline hỏi, nhưng Michael chỉ nghĩ được rằng “Anh họ Adam? Anh không hiểu, rốt cuộc chuyện thế nào?”.

“Chúng ta phải mua vé máy bay, mọi người làm cách nào để đến đó nhỉ”.

“Anh họ Adam là con của chú Bron sao? Anh có quen biết anh họ Adam đâu! Cả đời này anh mới chỉ gặp anh ấy hai lần!”.

“Michael, em xin anh, hãy chú ý nghe em nói”.

Anh dừng một lúc, hít một hơi thật sâu, sau đó hỏi: “Nó sao rồi?”.

“Đầu có chút vấn đề, em không biết nữa, chỉ biết có vấn đề ở đầu thôi”.

“Ối, trời!”.

“Anh về nhà được không?”.

“Anh về ngay”. Nói xong Micheal liền gác máy.

Tay cô kế toán chậm lại một nhịp, nhưng anh chẳng giải thích gì đã rời khỏi văn phòng. Anh đi qua quầy bán thịt, tủ lạnh để sữa. Cửa hiệu này không lớn lắm, nhưng lớn và đẹp hơn cửa hiệu cũ, quan hệ giữa anh với mỗi nhân viên đều rất tốt. Anh chỉ nói với quản lý: “Bart, tối nay anh đóng cửa nhé”. Sau đó liền đẩy cửa kính ra ngoài, đến bãi đậu xe.

Trên đường lái xe về nhà, anh luôn nghĩ đến bộ dạng Lindy nằm trong bệnh viện. Lần đầu tiên trong 7 năm qua, anh biết được tung tích của con bé, nhưng hễ nghĩ đến Lindy mặt trắng bệch, nằm run rẩy trong phòng cách ly, anh vẫn không muốn chấp nhận sự thật đó.

Nó sẽ ổn thôi, sẽ khỏe lại. Họ sẽ đưa nó về nhà, chăm sóc tử tế, nó sẽ khỏe lại ngay.

Nhưng nó vẫn còn một đứa con trai. Anh chẳng còn đầu óc nào nghĩ cho đứa bé.

Pauline cho rằng chắc bà chủ nhà gọi điện theo thứ tự chữ cái, nên gọi đến nhà Adam trước. “Em đoán chủ nhà bảo nhân viên nối máy gọi cho người bắt đầu bằng mẫu tự A, sau đó cứ thế tiếp tục”. Cô vừa nói vừa thu dọn hành lý. Khi Michael nhìn thấy Pauline từ cửa phòng, cô đang loay hoay giữa tủ áo và chiếc va li đặt nằm trên giường. Phải đến mai mới có chuyến bay, nhưng cô cứ như chuẩn bị thay quần áo để đi liền lúc đó. Pauline bôi bừa vài thứ lên mặt, lúc ủi chiếc áo thun cho Michael, tay cô run nhẹ. “Chủ nhà hỏi Adam có đứa con gái tên Linnet không, Adam bảo không, nhưng có lẽ anh ấy biết ai có con tên như thế”.

“Kỳ lạ, sao anh ấy lại biết điều đó?” Michael nói, “Adam hầu như không có quan hệ gì với gia đình Anton mà”.

“Đúng thế, chắc anh ấy biết tin Lindy bỏ đi qua báo chí”.

Michael lùi lại một bước, hễ nghĩ đến mọi người đều biết chuyện nhà mình, anh thấy rất khổ não.

“Sau đó, bà ấy hỏi Adam có thể liên lạc với chúng ta không, vì bà ấy ở quá xa, anh Adam bảo được, anh ấy tìm thấy số điện thoại của chúng ta trong danh bạ. Lúc anh ấy gọi điện đến, hệt như là cái máy nói. ‘Bà Anton’, anh ấy nói, ‘Bà Anton!’ anh tưởng tượng được không? ‘Tôi biết con gái bà tên Lindy đang ở San Francisco, bà có thể gọi số này hỏi tình hình cụ thể’”.

Lúc Pauline tường thuật lại sự việc, Michael cho rằng chính bản thân Adam đang nói, vì Pauline giả giọng rất giống. Anh họ Adam của anh người béo tròn, mặt trắng bệch, mắt lồi, giống hệt vợ cũ của chú Bron. Trong trí tưởng tượng của Michael, tuy anh ấy cao 6 inch (tương đương 1m80cm), nhưng vẫn là một đứa trẻ, tay anh luôn buông rũ hai bên như không có sức, miệng luôn há ra.

“Thế rồi em gọi điện thoại, chủ nhà đó chắc đang chờ nên nhấc máy ngay. Em nói: ‘Tôi là Pauline Anton, mẹ của Lindy Anton. Tôi vừa nghe anh họ bên chồng tôi nói…”’.

“Chủ nhà nói gì?” Michael chen ngang. Anh không thể nhẫn nại được nữa, giờ anh chỉ muốn biết rốt cuộc là chuyện gì.

Pauline lườm anh một cái, “Em đang định nói đây, Michael, nếu anh có thể kiên nhẫn một chút. Chủ nhà bảo Lindy và con trai mấy tuần gần đây thuê nhà bà ấy, nhưng bà ấy không biết trước đó mẹ con nó ở đâu, cũng chẳng biết bố đứa trẻ là ai… Hai hôm trước, bỗng nhiên Lindy có ‘hành động lập dị’, bà ấy nói thế, em cũng không rõ. Chỉ nói ‘hành động lập dị’, có lẽ giờ nó chẳng còn ở trong bệnh viện, mà ở trong văn phòng tư vấn tâm lý nào đó… Phải có người chăm sóc đứa bé đó, vì chủ nhà không quen trông trẻ, hơn nữa đứa bé trông rất đau buồn”.

“Nó bao lớn?”, Michael hỏi. “Bà ấy bảo không biết”.

“Ít nhiều bà ấy cũng biết đôi chút chứ”.

“Rất hiển nhiên nó vẫn chưa đi học, vì bà ấy luôn than rằng thằng bé chẳng chịu ra khỏi nhà dù chỉ một giây”.

“Nó biết nói không?”.

“Bà ấy bảo nó ít nói lắm”. “Trời ạ!”, Michael thở dài.

Anh nghĩ ngay mình và Pauline đã thành ông bà ngoại rồi và đứa trẻ có quan hệ máu mủ với họ giờ đau buồn đến mức không thể nói chuyện nữa.

“Phải chi hôm nay họ có chuyến bay”. Anh nói. “Chúng ta phải đi mua vé máy bay trước”. Pauline quả quyết. Cô đang đi ra phòng khách, đến phòng ngủ của Karen, hình như cô cảm thấy Karen cũng bỏ nhà đi rồi. “Thậm chí, em không muốn cho anh biết mua vé tốn hết bao nhiêu tiền”. Cô nói, sau đó quay người lại, trên tay cầm một chiếc đầm rất ngắn.

“Em nghĩ anh ngại việc tốn bao nhiêu tiền sao?”. “Destiny cho em biết có một số quán trọ không đắt lắm, em đã gọi điện đặt một phòng rồi”.

Michael nghĩ một lúc, “Destiny cho em…”. “Destiny chính là chủ nhà đó”.

“Làm quen nhanh nhỉ”. Thật ra ý anh là Pauline gọi tên thân mật quá. Nhưng Pauline nghe không hiểu, cô tròn xoe hai mắt trừng anh, sau đó quay người treo áo vào trong tủ. “Em đặt căn phòng đó bao lâu?” anh hỏi, “Chuyến bay khứ hồi của chúng ta là bao giờ? Anh nghĩ chắc họ sẽ cho chúng ta đưa Lindy về ngay?”.

“Dĩ nhiên”, Pauline nói, “chúng ta là người nhà nó mà! Em chỉ đặt một đêm thôi. Hơn nữa em đặt chuyến bay khứ hồi vào sáng hôm sau, bốn chỗ”.

Anh ra sức tưởng tượng cảnh bốn người họ ngồi thành hàng hai, anh và Pauline, Lindy và đứa bé chẳng rõ họ tên.

Anh thật không hiểu vợ mình kiên cường thế từ lúc nào.

Trước đây họ chưa từng ngồi máy bay, nhưng Sally – vợ George đã đi mấy lần. Trên đường đưa họ đến sân bay, Sally không ngừng an ủi họ, “đừng lo lắng sự cố máy bay”, Sally nói, “nhìn số liệu là biết ngay, máy bay an toàn hơn xe hơi nhiều”.

Michael không lo lắng sự cố máy bay. Anh lo nên làm gì và không nên làm gì. Hành lý của họ thế nào? Anh nên trả tiền mua vé ở đâu? Vé máy bay cũng bấm lỗ như vé tàu hỏa sao? Khi Sally dừng xe để vào cùng họ, anh thấy nhẹ nhõm hơn nhiều. Thỉnh thoảng anh thấy cô con dâu này rất phiền phức. Đấy là người phụ nữ tóc vàng rắn rỏi và vui vẻ, chuyện gì cũng thích quan tâm. Nhưng hôm nay, ở sân bay, anh rất biết nó.

Quả thật Pauline hơi lo sự cố máy bay. Khi ở phòng chờ, cô xé vụn mấy tấm khăn giấy. Khi hôn tạm biệt Sally, cô nói: “Nếu bố mẹ xảy ra chuyện, mẹ đã để lại một mảnh giấy trong hộp trang sức, trên đó có viết thứ gì là cho ai”.

“Nghe mẹ nói kìa!”, Sally khóc, “Không sao đâu mà!”. Quần áo của mẹ con cứ lấy mà dùng.

Sally ôm cô. “Chúc bố mẹ chuyến đi vui vẻ”, “cho con gởi lời hỏi thăm Lindy, bố mẹ có nghe con nói không?”… dù Sally và Lindy chưa từng gặp mặt. Sally đưa họ đến trước cổng, họ bước vào theo những người khác chuẩn bị lên máy bay.

Chuyến bay lần này làm Michael thấy hơi thất vọng. Anh chờ đợi nhiều cảm giác khi ở trên không, nhưng chẳng có gì thú vị. Hơn nữa từng hàng hành khách ở hai bên làm anh thấy mình cứ như đang trong một phòng chờ xe chật hẹp, thậm chí không cảm nhận được họ đang di động. “Nhìn kìa!” Pauline nói, vừa chỉ tay ra ngoài cửa sổ. Anh chồm người qua, thấy phía dưới xa tít có một con sông dài và ngoằn ngoèo, nhưng không chuyển động, mặt sông phản chiếu từng đường nét màu xám sáng bóng tỏa ánh bạc, hệt như dấu vết để lại của bút chì; khắp nơi chẳng thấy đường cao tốc và các tòa nhà cao tầng, ngoài những ngọn cây xanh um chụm lại tựa búp bông cải, chẳng có gì hết. Chắc chim ưng sẽ thấy được cảnh tượng này. Cả đất nước là một vùng đất hoang vu chưa khai phá. Sau đó máy bay bay vào một tầng mây, cửa sổ trắng xóa, Michael ngồi dựa vào ghế.

“Em đang nghĩ có nên mang theo hồ sơ bệnh lý của Lindy không”. Pauline nói.

“Hồ sơ bệnh lý gì?”. Anh hỏi.

“Chắc nó ở trong tập hồ sơ của bác sĩ khoa nhi”.

“Ồ…”, Michael trả lời, nhưng anh không nói con gái họ đã quá tuổi khám bác sĩ khoa nhi từ lâu rồi.

Sau đó, Pauline không trò chuyện nữa. Khi anh nhìn lại, mắt cô gần như híp chặt. Mấy lần cô ngồi thẳng người, chớp mắt, nhưng chẳng bao lâu sau đầu cô lại nghiêng sang cửa sổ. Michael không ngủ được, dù họ dậy rất sớm để kịp chuyến bay. Anh tập những điều cần thiết khi gặp tình huống khẩn cấp tìm thấy trong túi phía sau ghế, đọc lướt tờ tuần san cô tiếp viên hàng không đưa cho anh. Pauline phát ra tiếng ngáy nhỏ, miệng cũng há mở. Nếu cô biết được, chắc chắn sẽ rất ngại ngùng. Vì chuyến đi vội lần này, cô tô màu son đỏ đậm, cả phấn nền vón cục nơi lúm đồng tiền làm cô trông càng già nua hơn. Giờ đây, Michael thấy lúm đồng tiền của Pauline càng giống một vết khô rạn nhỏ – mãi đến giờ anh mới chú ý thấy điều này. Mí mắt cô đã nhăn nhúm, đôi chân mang vớ dài dưới chiếc váy cực ngắn đưa ra tựa như hai cây xúc xích.

Nhớ lại năm 1957, kỷ niệm 15 năm ngày cưới của họ, Pauline đề nghị ăn diện một chút để chụp một tấm ảnh. Cô vừa nói, vừa nhổ bốn sợi tóc bạc trên đầu. Cô đã bắt đầu già đi, không còn xinh đẹp như xưa nữa. Sau khi nghe đề nghị của cô Michael cảm thấy rất vui. Thế nên, họ đến hiệu chụp ảnh chân dung Aronson. Michael mặc bộ com lê, Pauline mặc bộ trang phục lụa màu xám. Thợ chụp ảnh bảo họ đứng trước rèm cửa sổ bằng nhung, bức rèm đó tạo nếp gấp tuyệt đẹp dưới chân họ. “Đứng sát vào nữa nào”, thợ chụp ảnh nói, “chị ngẩng cằm lên một chút, anh quàng tay qua người chị…”. Michael làm theo lời anh ta, quàng tay qua eo Pauline. Làn da cô mềm mại, hay đúng hơn đó là sự mềm mại của vải lụa mà anh không quen thuộc, lúc đó anh có cảm giác như đang đứng cạnh một người xa lạ. Người đàn bà này là ai? Có quan hệ gì với anh? Sao họ lại sống chung dưới một mái nhà, cùng nuôi dạy con cái, nối kết cuộc sống của mình vào nhau?

Tấm ảnh chụp xong, được lồng vào khung hình mạ viền vàng, để trong tủ áo của Pauline. Trong hình, cả hai người họ đều mỉm cười một cách cứng nhắc.

Nhìn từ trên cao xuống, San Francisco trông rất đẹp. Hầu như phần lớn cùng này đều bao quanh bởi các con sông; Pauline chỉ một cây cầu bên ngoài, hình như là cầu Golden Gate. Trên đường ngồi taxi ra khỏi sân bay, họ nhìn thấy nhiều sông hơn, mạch núi hầu như đều nghiêng về hướng này. So với nơi đây, Baltimore nghèo khổ và bình lặng.

Bác tài là người đàn ông có tuổi, đội nón nỉ màu nâu, ít nói. Pauline đưa địa chỉ cho ông và bắt chuyện. “Ông là dân vùng này sao?”, cô hỏi.

“Phải”.

“Ồ, San Francisco quả là nơi rất đẹp”. “Vâng”.

“Chúng tôi vừa từ Baltimore đến, đây là lần đầu tiên chúng tôi đến phía Tây của Mississippi”.

Im lặng.

Sự im lặng này làm Michael dễ chịu vô cùng. Khi nhớ đến cuộc tranh cãi trước lúc máy bay hạ cánh, anh liền khẽ lầm bầm: “Đến bệnh viện trước phiền quá…”, anh nói với Pauline.

“Sao? Michael, em không nghe được anh nói gì”. Cô gào to.

Anh nhắm mắt lại, rồi mở ra, nhắc lại câu vừa nói. “Nếu chúng ta đến bệnh viện trước, phải mang theo tất cả hành lý”.

“Sao thế? Chỉ là một vali nhỏ thôi mà”.

“Đúng thế, nhưng nếu họ cho chúng ta đưa Lindy về, con bé cũng có hành lý chứ…”.

“Michael, con gái em bị bệnh, đang chờ em, em không muốn lãng phí thời gian lấy đồ ngủ trong vali ra”.

“Có ai bảo em lấy đồ ngủ ra đâu, ý anh là…”.

“Con chúng tôi đang nằm trong bệnh viện”, Pauline nói với bác tài, giọng lớn hơn, “hôm qua chúng tôi mới hay tin”.

“Viện điều dưỡng”. Bác tài nói. “Ông nói sao?”.

“Họ gọi đó là viện điều dưỡng, không phải bệnh viện”. Lúc đó Michael còn tưởng bác tài bảo không hề có nơi đó, anh thấy sự hiểu lầm này rất buồn cười.

Pauline hỏi: “Sao ông biết?”.

“Ai cũng biết Nineteen Fleet Street”. “Đấy là… viện điều dưỡng?”.

“Do hai anh em quản lý”. Bác tài nói. “Ồ, anh em ruột hả?”.

“Đại loại như thế…”.

Pauline nhìn Michael, nhưng xem ra anh cũng chẳng hiểu bao nhiêu.

“Khoan đã”, cô hỏi bác tài, “ý ông là, con gái chúng tôi bị bắt sao?”.

“Không phải”, bác tài nói, “có người ra ngoài tìm, đó là nhiệm vụ của họ, sau đó lôi những người vừa tìm được vào và tiến hành quản giáo”.

“Bắt người…”.

“Những con nghiện, dân híp-pi, người lập dị chống lại những quy ước xã hội… đều bị bắt vào đó”.

Michael lập tức ghét cay ghét đắng con người này, anh quay qua nói thấp giọng với Pauline: “Chúng ta có thể đến quán trọ cất hành lý trước. Em chẳng bảo chủ nhà nói đi bộ một đoạn là tới sao”.

“Thực ra, con gái chúng tôi chỉ suy sụp vì căng thẳng tinh thần thôi”, Pauline nói với bác tài, “chúng tôi đến đây để đưa nó về. Trước giờ, chúng tôi luôn là gia đình thân thiết và đầy yêu thương, chúng tôi biết hễ nó về với gia đình sẽ nhanh chóng ổn định lại thôi”.

Bác tài không nói gì, mở đèn xi-nhan.

Giờ họ đang đi xuyên qua thành phố này. Thoạt đầu, Michael thấy nhà cửa ven đường để lại ấn tượng sâu sắc. Đấy đều là những căn nhà cổ rất bắt mắt, hơn nữa còn có căn gác nhỏ hình tháp và ban công viền hoa, cửa sổ bay màu và nóc nhà thì nhọn hoắt. Nhưng dần dà mọi thứ đều trở nên xưa cũ, tựa như chiếc taxi của họ đang đi vượt thời gian, trở về mấy mươi năm trước vậy, sơn đều bong tróc, cửa chính đều tan vỡ, rèm cửa sổ đã bay màu, một số cửa sổ đóng ván, một người con trai tóc dài mặc chiếc áo cũ nát nhắm mắt đứng dựa cột đèn bên đường. Bác tài mở khóa cửa xe, Michael và Pauline bước ra.

Nineteen Fleet Street chính là căn nhà cũ nát này, cả bảng hiệu cũng không có. Pauline hỏi bác tài: “Ông chắc đây là nơi chúng tôi muốn đến chứ?”.

“Đúng vậy”.

Cô lại ngồi vào chỗ, hoảng sợ đến phát khóc. Michael chưa kịp khuyên cô, bác tài đã ra phía sau, bảo Pauline: “Ra ngoài đi”.

Cô lại kéo tay nắm cửa, đứng loạng choạng trên vỉa hè, chiếc váy ngắn của cô nhăn nhúm, dây túi xách vướng vào cửa sổ xe.

“Hy vọng mọi chuyện thuận lợi với anh chị”. Bác tài nói với Michael.

Tuy không thích ông ấy, nhưng Michael vẫn cho ông ấy một ít tiền boa, dù tiền xe đắt đến cắt cổ.

Nghe tiếng chuông, người đàn ông ra mở cửa trông chẳng thành kính chút nào. Anh ta dáng cao, tóc xám trắng, râu cạo rất sạch sẽ, mặc áo flanen carô và quần bò, mang đôi ủng cao bồi nhọn hoắt. “Ai đấy?”, anh ta hỏi.

“Tôi là Michael Anton”, Michael bỏ vali xuống, “đây là vợ tôi, Pauline. Con gái chúng tôi ở chỗ anh”.

Dừng một lúc, người đàn ông đó ngẩng nhẹ đầu lên. “Con gái chúng tôi Lindy, Linnet”. Michael nói.

“Ở đây, chẳng ai có tên đó cả”. Người đàn ông nói.

“Sao?”.

“Họ, tên… những thứ trước đây đều bị bỏ lại khi chúng ta tiếp tục tiến bước”.

Xem ra, người đàn ông đó rất thành kính. Cuộc đối thoại nghiêm túc đã nói rõ sự việc. Michael tỏ ra rất lịch sự. “Điều anh nói quả là có ý nghĩa. Hình như nó được đưa vào đây khoảng ba hôm trước. Tôi biết, ơ, tinh thần nó bất thường. Nó cao độ chừng này, màu da xem xem với tôi, mắt nâu, tóc đen, nhưng tôi không biết nó để kiểu tóc gì…”.

“Serenity”. Một người bỗng nói.

Nhất thời Michael chẳng hiểu gì. Anh nhìn cậu bé đứng bên cạnh người đàn ông đó – một thiếu niên gầy nhom, mặc áo khoác thắt ngang lưng bằng vải sa-tanh và quần ống loe in hoa.

“Đúng vậy”, người thanh niên cũng đồng ý nói, “là Serenity. Cô ấy đến chỗ chúng tôi hồi thứ hai”.

Pauline hơi gấp: “Chúng tôi có thể gặp nó không?”. “A, không được”, người đàn ông nói với giọng nuối tiếc, “e rằng không thể. Ở đây, mọi người đều không có quan hệ với gia đình”.

“Nếu thế, chỉ gặp một phút thôi cũng không được sao?”, Pauline van nài.

Michael vội hỏi: “Được không ạ?” anh quay sang nhìn người đàn ông, người đó cũng bình thản nhìn anh. “Tôi nghĩ các anh không hiểu”, anh nói, “suốt 7 năm nay chúng tôi mất liên lạc với con gái. Mãi đến trước hôm qua, thậm chí chúng tôi không dám chắc nó còn sống hay không. Chúng tôi chỉ muốn gặp nó thôi, xem nó sống thế nào”.

“Sau đó đưa nó về nhà và giúp nó khỏe trở lại”. Pauline thêm vào.

Michael quay người về phía họ: “Anh xin em, Pauline, để anh xử lý chuyện này”. Anh lại nói với người đàn ông đó: “Chúng tôi chỉ muốn xem thử nó thế nào, nếu nó bằng lòng theo chúng tôi về, thế thì tốt. Nếu nó không muốn, chúng tôi đành về”.

“Rất xin lỗi anh bạn”, người đàn ông đó nhỏ nhẹ nói, “Serenity không thể gặp người khác”.

Pauline nói: “Đây là đâu thế hả, trại giam sao? Anh bắt con chúng tôi sao?”.

“Pauline…”.

“Chúng tôi không làm hại nó! Chúng tôi không phải… là một gia đình tồi tệ! Hãy đi hỏi Lindy xem! Hãy cho nó ra đây nói chuyện với chúng tôi một giây! Anh không có quyền ngăn cách nó với chúng tôi!”.

Người đàn ông lùi một bước, chỉ vào căn phòng sau lưng – đó là sảnh lớn khi vào cửa, chỉ có chiếc bàn tròn nhỏ với tấm khăn trải bàn, chẳng còn thứ gì khác. “Chị có thấy nơi hàng rào không?”. Anh hỏi Pauline với giọng ôn tồn nhất, rồi chỉ cậu thanh niên. “Tarragon đứng ở đó, chỉ cần cậu ấy muốn, cậu ấy có thể rời khỏi đây bất cứ lúc nào. Tarragon, cậu có muốn rời khỏi đây không?”.

Cậu thanh niên lùi về sau một bước, lắc đầu.

Michael nói: “Rất hiển nhiên, chúng tôi không hề có ý trách anh”. Anh cảm nhận được Pauline đang lườm mình, nhưng anh luôn nhìn người đàn ông đó. “Nhưng, anh hãy vào nhắn với con gái tôi là chúng tôi đến thăm, rồi xem ý nó thế nào, hãy cho nó cơ hội chọn lựa”.

“Cô ấy đã chọn lựa rồi”, người đàn ông đó nói, vẫn rất ôn tồn, “cô ấy đã quyết định khi đến chỗ chúng tôi”.

Pauline phát ra âm thanh gì đó trong cổ họng. Michael nói: “Được thôi!” anh có vẻ căng thẳng. “Vậy, trình tự cụ thể là gì?”, anh hỏi, “Khi… nó tỉnh táo, các anh sẽ thả nó ra chứ? Ở đây có thời gian thăm nom cố định không?”.

“Tôi sẽ ‘thả’ họ ra, như anh nói đấy, khi họ quyết định làm lại cuộc đời”, người đàn ông khẳng định, “khi họ mở cánh cửa phía trước, một lần nữa họ được sinh ra trên thế giới này”.

“Ôi, hỡi Thượng đế!”, Pauline gào to.

Người đàn ông nhìn cô với ánh mắt trìu mến, sau đó quay sang nói với Michael: “Anh chị có thể gọi điện đến hỏi xem Serenity sống thế nào. Chỗ chúng tôi chẳng có bí mật gì, anh chị có thể tìm được địa chỉ của chúng tôi trong sổ danh bạ: Viện điều dưỡng Nineteen Fleet Street. Tôi tên Becoming.

Lần thứ hai trong ngày, Michael cảm thấy ngột ngạt, khó chịu.

Quán trọ mà bà chủ nhà giới thiệu cho họ cách Viện điều dưỡng Nineteen Fleet Street chỉ ba con phố, hơn nữa cách nhà bà cũng chỉ hai con phố. Nhưng tiếc rằng, không khí ở đó làm người ta thấy rất chán nản. Nó cho ta cảm giác thê lương vào buổi sáng. Trên vỉa hè có mấy kẻ lang thang; giấy rác làm tắc nghẽn rãnh nước; một đứa trẻ trông rất đói xin tiền họ; một người đàn ông già mặc áo thụng ngồi trước cửa vẻ thểu não; tủ kính cửa hiệu thực phẩm bám đầy bụi bặm: áo Mexico rộng thùng thình, dép Trung Quốc, đồng hồ, từng bó trầm hương, đủ các loại hộp thuốc lá và tẩu thuốc nhỏ, còn có ống điếu Trung Đông.

Michael thấy tất cả những điều này, anh tò mò tìm hiểu còn Pauline chỉ lo vung tay rảo bước nhanh về phía trước. Cô nhắc hai lần bảo mình rất lạnh, nhưng anh chẳng nói năng gì, cuối cùng cô bảo anh dừng lại, lấy chiếc áo len mang theo ra. Quả thật rất lạnh, đấy chính là thời tiết ở San Francisco. “Giờ anh hiểu rồi chứ, em mang theo hành lý bên mình là đúng”. Cô nói thế với anh khi duỗi tay mặc tay áo vào.

Michael thở dài. Cô hỏi: “Sao thế?”.

“Pauline, chúng ta mang theo hành lý vì em nằng nặc đòi đến Nineteen Fleet Street trước”.

“Anh trách em được sao?”.

“Anh không trách em, anh chỉ nói…”.

“Em muốn gặp con!” Pauline khóc òa lên, “Em đã chờ bao nhiêu năm rồi, em đã bay từ bên kia đại lục đến đây, sau anh còn bảo em phải chờ, chỉ vì anh muốn cất hành lý vào căn phòng mà chúng ta đã thuê!”.

“Pau…”.

“Hơn nữa lúc chúng ta đến đây, anh đã làm những gì? Đứng đó như con rùa thụt cổ. ‘Ồ, chào anh, rất xin lỗi,’ anh nói, ‘các anh không thể thả nó ra sao? Các anh không thể để chúng tôi gặp nó sao? Thưa anh. Anh muốn sao cũng được’”.

“Con bé cũng 25 tuổi rồi, Pauline. Tự nó muốn vào đó, theo anh biết, quy tắc của họ là…”.

“Ồ, Quy tắc! Sao em phải bận tâm mấy thứ đó chứ? Em là mẹ nó, những quy tắc đó làm em tan nát cõi lòng! Nó giết chết em! Ăn tươi nuốt sống em! Em chịu hết nổi rồi!”.

Nước mắt chảy dọc theo gò má của Pauline. Cô xoay người, lại cởi áo len ra, lưng cô ưỡn thẳng, vẻ rất phẫn nộ. Michael cầm lấy vali và không nói gì với cô.

Anh có thể nói được gì kia chứ?

Ở góc đường, có một đôi vợ chồng rất giống họ, ngoài 40, người đàn ông mặc áo thể dục, người phụ nữ mặc váy ngắn, họ đang đứng đó ngắm nhìn tờ áp phích sắp rơi khỏi tường. Trên cổ người đàn ông có đeo một chiếc máy ảnh. Bỗng nhiên Michael thấy anh ta rất giống mình lúc đi họp phụ huynh vào mùa thu năm ngoái cho Karen: trong một đám đông các ông già bà lão bị con mình bỏ lại phía sau, anh là người duy nhất gắng hết sức sánh bước bên con.

Pauline mặc chiếc váy cực ngắn trông thật buồn cười, kiểu tóc vàng tựa như lông vũ của cô giống như hai cô gái trẻ đang băng qua đường phía trước họ.

Anh đang nghĩ, đôi vợ chồng mang theo máy ảnh đó có phải cũng đến tìm đứa con lạc mất không? Nhưng trông không phải thế, hình như họ đến đây để nghỉ mát. Nếu họ có cùng cảm giác như anh và Pauline sẽ chẳng còn tâm trạng đâu mà chụp ảnh.

Michael đuổi theo Pauline ven đường phía trước, vỗ nhẹ tay vào lưng cô. “Phía bên trái chắc là quán trọ”. Anh nói.

Đây là một kiến trúc cũ nát thời nữ hoàng Victoria, dưới chân là bậc thang gỗ màu xám, một tờ giấy viết tay treo trên chuông cửa: Chuông hỏng! Người phụ nữ ra mở cửa cho họ trông rất mệt mỏi. Cô ngoài 30, nhưng da chảy xệ, mặc bộ đồ bộ ở nhà. Từ sau khi chuyển đi khỏi nhà cũ, Michael đã không còn thấy bộ trang phục này nữa.

“Tôi là Michael Anton”. Anh nói với người phụ nữ. Cô ta vẫn im lặng, ra hiệu cho họ đến căn phòng phía sau. Căn phòng cuối cùng cửa mở, bên trong có hai chiếc giường gỗ hẹp áp sát vào nhau, trên một chiếc tủ thấp xập xệ để một chiếc ti vi cổ lỗ sĩ. “Nhà vệ sinh ở đầu kia hành lang”, người phụ nữ nói, “trả tiền trước, không nhận chi phiếu. Chín đô la chẵn”. Người phụ nữ đưa tay ra, Michael đếm tiền đưa cô ấy. “Nếu hai người ra ngoài, nhớ cầm theo chìa khóa trên ti vi”. Nói xong, cô đi khỏi.

Ra ngoài ư? Điều Michael muốn làm nhất bây giờ là ngả lưng xuống chiếc giường gần nhất, dù chưa tới buổi trưa. Anh quá mệt mỏi, thế nên căn phòng lạnh lẽo trơ trọi này cũng tựa như thiên đường với anh. Nhưng Pauline lại nói: “Trước khi chúng ta ra ngoài, anh có muốn đi vệ sinh không?”.

“Đi đâu chứ?”.

“Michael! Chúng ta phải ra ngoài tìm đứa cháu ngoại!”. “Bây giờ sao?”, anh hỏi.

“Nó đang chờ chúng ta đấy! Lẽ nào anh không muốn gặp nó sao?”.

Không muốn, quả thật anh chẳng muốn chút nào. Đứa trẻ này đến quá đột ngột. Phần lớn ông bà đều có 9 tháng chuẩn bị, hay ít ra là lời cầu hôn, lễ đính hôn và hôn lễ chính thức của con gái họ… Thế mà Pauline quá hăm hở thời khắc này, cô lau nước mắt, bỗng nhiên mặt cô tràn đầy sức sống. Thế là anh nói: “Được rồi, em yêu”.

Khi ra khỏi quán trọ, họ có sự bất đồng ý kiến về việc nên đi theo hướng nào. Michael nói chắc như đinh đóng cột rằng đường Height ở bên phải họ. Anh hầu như đã nắm rõ bản đồ. Nhưng Pauline lại cho là không phải, chủ nhà bảo với cô là bên trái. Thế nên họ đứng trên bậc thang trong khi cô tìm trong túi xách mảnh giấy mình đã viết. Cô xổ hết xách tay ra, mỹ phẩm, hộp mắt kính… còn cả một chiếc xe cứu hỏa đồ chơi màu đỏ để trong một hộp giấy. Michael vờ như không thấy, nhưng khi cô nói: “Đúng rồi, rẽ phải. Lẽ nào em không nói rẽ phải sao?” anh bảo: “Dĩ nhiên thế, em yêu”, sau đó vịn tay cô khi bước xuống bậc thang.

Không khí lan tỏa mùi cay nồng của ớt. Nó làm Michael nhớ đến bữa sáng trên máy bay – chiếc bánh ngọt trông chẳng ngon lành và lon nước cam ướp lạnh. “Này, Pauline?”, anh nói, “Có lẽ chúng ta nên đưa thằng bé ra ngoài ăn hot-dog”.

“Ý hay đó”.

“Chắc chủ nhà bằng lòng cho nó rời khỏi vài giờ”.

“Vài giờ?”, Pauline hỏi. Cô dừng lại nhìn anh. “Anh nói gì thế? Chăm sóc nó không phải trách nhiệm của chủ nhà, mà là trách nhiệm của anh và em”.

“Đúng thế, nhưng…”.

“Michael, chúng ta phải chăm sóc nó suốt đời. Chúng ta phải thu dọn hành lý cho nó, đưa nó về với chúng ta, vì chúng ta là tất cả của nó”.

Dĩ nhiên Michael cũng biết thế, nhưng anh vẫn sẵn sàng. Anh nói: “Từ giờ chúng ta bắt đầu chăm sóc nó sao?”.

“Anh nghĩ gì thế?”.

“Chỉ là… anh biết, anh đang nghĩ, chúng ta nên chờ đưa cả Lindy về”.

“Nhưng phải chờ đến bao giờ?” Pauline hỏi, “Chúng ta không thể để đứa trẻ trong căn phòng trống chẳng ai chăm sóc! Chúng ta phải đón nó đi ngay. Nhưng sau đó thì sao… em không biết, em không biết nữa”. Họ tiếp tục tiến về phía trước. “Người đàn ông ở Viện điều dưỡng chẳng tiết lộ điều gì cả, rốt cuộc Lindy phải ở lại đó bao lâu chứ”.

“Tối nay anh sẽ gọi điện cho anh ta”, Michael nói. Anh đã quyết định làm thế, Pauline nói đúng: anh bỏ cuộc quá sớm. “Baltimore có nền y học tiên tiến nhất! Nếu anh ta vẫn không chịu cho chúng ta gặp nó…”.

“Đến nơi rồi”. Pauline nói.

Cô đang nhìn một căn nhà cũ nát hơn xung quanh, nhưng trước đây chắc chắn nó là tốt nhất. Trên hai cánh cửa trước có khảm khung kính hình bầu dục, phía trên một bên là tấm kính vân xéo bị ăn mòn, còn bên kia là tấm bìa cứng. Lindy từng đi trên những bậc thang này, vòng qua bậc tam cấp bị hỏng. Nó cũng từng mở cánh cửa bị hỏng khóa này. Trên tấm ván gỗ có một cái lỗ, tay của nó cũng từng đặt trên cái lỗ này.

“Đây chính là số nhà bà ấy nói với em, đúng rồi”. Pauline nói, hiển nhiên cô rất mong không phải căn nhà này.

Họ bước lên bậc thang, Michael nhấn vào cái nút cao su đã hỏng ở bên trái.

“Trông em thế nào?”, Pauline hỏi anh. “Được lắm, em yêu”.

Anh lấy làm lạ, chỉ gặp một đứa bé thôi, cô ấy cũng đâu cần sốt sắng thế.

Một cô gái tóc rất mù ra mở cửa, ngẩng đầu nhìn họ. Cô mặc một chiếc đầm carô màu xanh, tay áo rất dài, đầm thì dài đến mắt cá chân, đó là một bộ trang phục rất xưa cũ. Pauline hỏi: “Destiny đúng không?”.

“Vâng?”.

“Xin chào! Tôi là Pauline, đây là chồng tôi Michael”. “Ồ, hay quá”, cô gái nói, “cuối cùng ông bà cũng đến”. Pauline vào nhà, nhưng Michael thấy cần một ít thời gian thích ứng. Trong tưởng tượng của anh, “nữ chủ nhà”

khác hẳn với những gì anh thấy trước mắt.

“Nếu có cách khác, tôi không muốn gọi điện cho người ở tổ chức phúc lợi xã hội”. Destiny nói khẽ với Pauline.

“Tổ chức phúc lợi xã hội ư!”.

“Tôi chẳng tin tưởng họ chút nào, nhưng tôi biết mình phải làm gì đó. Thằng bé chỉ nhốt mình trong phòng, không chịu ra ngoài. Thỉnh thoảng tôi nghe nó rón rén đi vệ sinh, nhưng tôi vừa bước lên gác, nó liền chạy vội vào phòng đóng cửa lại”.

Cô vừa nói vừa dẫn họ lên gác, giấy dán tường màu vàng cuốn trên tường. Trong phòng có mùi chuột, tay vịn cầu thang trông nhầy nhậy, Michael ra sức né tránh.

“Tôi có mang cơm cho nó, nhưng tôi không nhìn lúc nó ăn”, Destiny nói, “dĩ nhiên, tôi cũng không biết đứa trẻ độ tuổi này nên thế nào. Tôi nói: ‘Này! Cháu có muốn ăn đậu cô-ve không?’, nhưng nó chỉ nhìn tôi chằm chằm, thế nên tôi để bát xuống rồi ra ngoài. Quả thật tôi nên cho nó chút không gian, đúng không?”.

Lên đến gác, Pauline xoay người, nhướng đôi lông mày rõ nét của mình, hai chiếc hoa tai màu vàng đồng gần như trĩu xuống đến vai.

“Thằng bé tên gì?”, Pauline hỏi.

“Pagan”.

“Pagan?”, Michael và Pauline cùng lên tiếng.

Cô nhún vai, hoa tai lắc lư. “Tôi có thể cho ông bà biết điều gì?”, cô nói, “Mẹ nó vô trách nhiệm quá”.

Cô lại quay người, đi vào đại sảnh tối mờ, sau khi đi qua hai cánh cửa khép kín, cô dừng lại ở cánh cửa thứ ba, gõ lên đó hai cái, sau đó gọi: “Có ai ở nhà không?”.

Không có tiếng trả lời.

“Vậy vào thôi!”, cô xoay nắm đấm cửa.

Căn phòng chẳng lớn hơn phòng chứa đồ bao nhiêu, có một cửa sổ âm u, trên bức tường trắng còn có những vệt nước. Trên sàn nhà trống rỗng có tấm đệm, đống chăn và quần áo để lộn xộn. Ngay khi Michael quan sát căn phòng này, một chiếc áo nhúc nhích và có một cậu bé ngồi dậy ở đó, chớp mắt nhìn họ, rồi nó vội chui vào một đầu của tấm đệm.

“Chào cháu, Pagan”. Pauline nói dịu dàng.

Cậu bé nhìn cô không nói gì. Mắt nó màu nâu, long lanh, tóc màu đen, nhưng rối bù. Mắt cậu bé âm u, vẻ chán đời, nó chừng 3 tuổi.

“Bà là bà ngoại cháu!”, Pauline nói, “Bà là mẹ của mẹ cháu. Còn đây là ông ngoại! Ông bà tới từ Baltimore, bang Maryland, ông bà đến thăm cháu đấy!”.

Cậu bé vẫn không nói gì.

“Tôi thu dọn đồ cho nó”, Destiny nói, “nó cũng chẳng nhiều quần áo lắm”. Quả thật cô muốn họ đưa thằng bé đi, Michael biết bây giờ anh nên đón nhận điều này, nhưng anh vẫn thấy rất bất ngờ. Anh nhìn Destiny đi qua đi lại, chỗ này lấy chiếc áo thun, chỗ kia lấy chiếc áo len, rồi đặt những thứ này lên một cánh tay. Khi cô đến bên tấm đệm, Pagan co rúm người lại, ôm lấy một chiếc chăn nhỏ. Trang phục của thằng bé truyền thống đến bất ngờ. Áo thể dục đỏ sọc vằn, quần bò, giày thể thao đỏ, nhưng đều rất bẩn, cả móng tay của nó cũng đen ngòm. Vì tấm đệm to bằng cả mặt tường, Michael chẳng còn cách nào, đành lùi đến giữa phòng. Đứa bé tỏ ra sợ hãi, đứng ở đó mà chẳng có chút khả năng phòng bị, anh thấy đau lòng vô cùng. Theo bản năng, anh lùi về sau, gần như ra đến hành lang. Nhưng Pauline lại chạy đến trước mặt. “Cháu yêu!”, cô nói, sau đó quỳ trước mặt đứa bé choàng tay ôm lấy nó, “Ôi, cháu yêu của bà, ôi, đứa cháu tội nghiệp, đáng yêu của bà!”.

Pagan đứng sững người một lúc trong vòng tay của Pauline, sau đó vùi đầu vào vai cô rồi dùng một bàn tay nhỏ dơ bẩn vỗ nhẹ lên lưng Pauline.

Michael gần như muốn khóc, đành quay mặt sang hướng khác.

“Tôi nghĩ nên cho ông bà một cái túi đựng đồ đạc của thằng bé”. Destiny nói. Cô bỏ tất cả những gì tìm được vào trong đó, phần lớn đều là màu xám chứ không phải màu trắng. “Mẹ nó lấy chiếc túi duy nhất đi rồi. Sau khi cô ấy đi, tôi giúp cô ấy thu dọn đồ đạc, rồi nhờ chồng tôi mang đến Viện điều dưỡng”.

Destiny có chồng? Dù thế nào, Michael cũng không ngờ. Anh nhìn cô mở một tấm trải giường ra, khom người lấy một chiếc vớ đỏ. “Cho hỏi”, Michael bỗng nhiên tràn đầy hy vọng, “cô có biết, Lindy, con gái chúng tôi, nó có kết hôn không?”.

“Tôi không nghe nói chuyện này”. “Tôi chỉ muốn biết… bố Pagan”.

“Ồ, ông hiểu chuyện gì đã xảy ra mà”.

Nhưng Michael không biết, anh nghĩ rằng nếu cô có thể giải thích thì hay quá. Pauline quỳ dưới đất khẽ nói, “Ổn rồi, mọi chuyện ổn cả rồi, cháu yêu, mọi chuyện sẽ tốt thôi”.

Michael nói: “Cô có thể cho chúng tôi biết thêm chuyện xảy ra ở đây không?”.

Destiny liếc nhìn Pagan một cái, “Tôi thấy giờ không tiện nói chuyện này”.

“Ồ, được”.

“Dĩ nhiên, dù thế, cô ấy cũng ở một nơi rất tốt. Viện điều dưỡng đó quả rất tuyệt, cô ấy rất may mắn”.

Michael nói: “Chuyện thế này, chúng tôi định đưa con gái về nhà. Khi chúng tôi đến đó, mới phát hiện ra rằng không làm sao gặp và nói chuyện được với nó. Tôi lo nó bị nhốt ở đó và bản thân nó cũng không muốn thế”.

“Vậy, tốt quá rồi. Chắc ông bà không muốn làm phiền cô ấy vào lúc này chứ?”.

Michael đang định nói gì đó, nhưng bỗng nhiên lại thôi. Anh nhớ đến một bộ phim khoa học viễn tưởng, mọi người trong đó đều bị người ngoài hành tinh kiểm soát bộ não.

“Vì vậy, dù thế nào”, Destiny nói trong khi đưa áo gối cho Michael, “đây là đồ đạc của thằng bé. Tôi thấy chỉ thế thôi. Vì mẹ thằng bé từng gọi điện thoại đường dài, nên tôi sẽ không trả lại tiền thuê phòng còn dư”.

“Điện thoại đường dài?”, Michael hỏi.

“Tạm biệt nhé, cậu bé”, Destiny nói với Pagan, “rất vui được làm quen với cậu, sống tốt nhé!”.

Pauline đứng dậy, nắm tay Pagan. Nó vẫn ôm chiếc mền nhung màu xanh đã bạc màu. Cô hỏi Destiny: “Chiếc mền này của cô sao?”.

“Không phải, của nó đấy”, Destiny trả lời. Không cần phải hỏi nữa, vì Pagan đã giật khỏi tay Pauline, ôm chiếc mền chặt hơn.

“Được rồi, cháu yêu”, Pauline nói với Pagan, sau đó dẫn nó ra khỏi phòng, đến bên cầu thang, theo sau là Destiny và Michael. “Ông bà đưa cháu về nơi ông bà ở! Cho cháu tắm rửa, thay quần áo sạch cho cháu…”.

Lúc xuống cầu thang, chỉ mình Pauline nói chuyện, giọng nhỏ nhưng rất dịu dàng, ngay cả khi Destiny đứng trước cửa vẫy tay tạm biệt, cô vẫn nói với giọng điệu nhỏ nhẹ đó. “Cám ơn cô liên lạc với chúng tôi, cám ơn những gì cô đã làm!”.

Michael thấy Pauline bước xuống bậc thang trước, xuống đến nơi lại quay người chờ Pagan, thấy cô rất yêu quý đứa bé này, bất chợt lòng tràn đầy cảm giác yêu thương.

Dẫn theo đứa bé đi đường quả rất vất vả. Michael đã từng nghĩ thế khi con anh còn nhỏ. Chỉ có Thượng đế mới biết được chúng đang nghĩ gì và muốn làm gì – chẳng hạn như đi đến một chiếc xe đang chạy như bay trước mặt; nổi cáu trước mặt biết bao người hoặc nhặt mẩu thuốc lá trong sọt rác. Đứa bé này thì sao? Nó đi giữa họ, chẳng nói một lời, chẳng chút tò mò, tay ôm lấy chiếc mền cuộn thành một khối. Khi đến ngã tư đầu tiên, nó buông một tay khỏi chiếc mền, chủ động nắm tay Pauline, nhưng không hề nhìn cô, hơn nữa hình như nó cũng chẳng nghĩ gì nhiều, biểu hiện này làm Michael thấy rất yên tâm. Anh có thể tưởng tượng được rằng, từng có người chăm sóc thằng bé, nó không phải luôn tự làm mọi việc.

Còn một số biểu hiện khác, Michael đang quan sát – điều này có thể phản ánh cuộc sống trước đây của nó. Chẳng hạn, nó rất quen với việc ra ngoài dùng bữa. Trong quán “Pizza ngon tuyệt” cách nhà trọ nửa con phố, nó thành thạo vắt chiếc mền lên lưng ghế, rồi leo lên ghế ngồi, chờ thức ăn được dọn ra. Nhưng hình như trước đây Pagan chưa từng thấy bánh hot-dog, vì khi bưng món này ra, nó nhìn với vẻ ngờ vực. Sau khi biết cách ăn, Pagan liền ăn ngấu nghiến, cắn từng miếng từ trái sang phải. Dường như Pagan cũng chẳng mấy quen thuộc với thức uống có gas, vừa uống một ngụm pepsi nó đã nhăn mũi, nhưng sau đó nó nhanh chóng uống hết chỗ còn lại. Michael cảm thấy trước đây nó toàn ăn những món híp-pi, không có đường, thịt cũng rất ít. Pagan có cách ăn khoai tây riêng. Nó ăn hết phần của mình, rồi hầu như ăn cả phần của Pauline, sau khi ăn xong một que khoai thì vội liếm đầu ngón tay của mình. “Ngon không?’, Pauline hỏi, nó gật đầu.

Có lẽ Pagan không biết nói, nhưng Destiny bảo rằng trước đây nó từng nói chuyện. Giờ Michael cũng chẳng còn nhớ bọn trẻ bắt đầu nói chuyện từ năm mấy tuổi. “Cháu bao nhiêu tuổi rồi?”, anh hỏi nhưng chẳng hy vọng nó trả lời.

Điều làm anh ngạc nhiên là Pagan nhìn thẳng mặt anh. Lông mày của nó mỏng như sợi chỉ, đậm hơn màu tóc nhiều. Nó chau mày tựa như một ông lão. Cuối cùng, Pagan tìm được câu trả lời. “Bốn tuổi”, giọng thâm trầm đến lạ kỳ, chẳng giống tiếng trẻ con chút nào.

Pauline khẽ khóc. “Bốn tuổi rồi! Đứa bé thông minh ghê!”, cô nói, “Nó bốn tuổi rồi”. Cô thì thầm với Michael.

“Anh biết”. Michael có vẻ lạnh lùng.

Pagan tự bảo bốn tuổi, chứ không đưa ra bốn ngón tay, có lẽ mẹ nó rất thông minh và thường nói chuyện với nó. Anh rất muốn nghĩ tốt về Lindy.

“Bà đoán chắc cháu từng đi học”, Pauline nói, “lớp 1, bạn bè chơi chung, mẫu giáo…” gần như cô nói hết những danh từ có thể. Nhưng hình như Pagan cảm thấy lạ lẫm với hai từ “đi học”.

“Ăn ngon chứ ạ?”, cô nhân viên hỏi, “Thêm khoai không ạ?”.

“Không, cám ơn”. Michael nói.

Cô là một nhân viên vui vẻ, dịu dàng và cho ta cảm giác như một người mẹ, trước đây Michael thường thấy những nhân viên như thế ở Baltimore. Anh rất mong cô hiểu được rằng, cháu ngoại của họ bẩn thế không phải lỗi tại họ.

Nếu Pagan không biết chơi chiếc xe cứu hỏa đó thì sao? Pauline lấy chiếc xe trong xách tay ra, vừa vào phòng đã đặt nó dưới chân giường. “Hụ!” cô nói, “Xem gì đây nào?”, nhưng thằng bé đứng từ xa nhìn nó với ánh mắt ngờ vực suốt mấy phút mới dám bước tới dùng đầu ngón tay sờ cửa kính trên thân xe. Khi Michael đi lấy một chiếc giường nhỏ về, dường như tình hình có chút tiến triển: Pagan gói gọn chiếc xe cứu hỏa lại, bỏ vào trong chiếc mền của nó.

Pagan chưa từng thấy ti vi. Nó ngồi cạnh Pauline nhìn chằm chằm màn hình, người dựa vào gối há mồm to. Sau loạt phim nhiều kỳ trên truyền hình là chương trình game show, sau đó là bản tin buổi tối, mỗi hình ảnh chớp qua đều thu hút sự chú ý của nó. “Nói xem nào”. Lúc này, Michael hỏi, “cháu có nơi nào muốn đi không? Công viên? Sân chơi?” nhưng Pagan vẫn nhìn chăm chú màn hình ti vi. Lúc này, Michael thấy rất mệt nên cũng không hỏi nữa.

Chắc đứa bé này mắc chứng trầm cảm, cũng có lẽ nó chưa từng xem ti vi, bởi vì trong một mẫu quảng cáo xe second-hand, một chàng hề ngã đập mông xuống đất, nhưng Pagan chẳng chút phản ứng.

Lúc phát tin tức, toàn những tin về chiến tranh, Michael ngồi đó ngủ thiếp đi, nghiêng đầu dựa trên song sắt của giường. Lúc anh tỉnh dậy, thấy miệng khô khốc, đầu óc cứ mơ mơ màng màng, dù biết mình chỉ mới ngủ có vài phút, vì trong ti vi đang chiếu cảnh một toán binh lính đầu đội nón cối đang vượt qua một khu rừng rậm cây cối um tùm. Căn phòng hầu như bao trùm một mảng tối mờ, duy chỉ có ánh sáng ti vi phản chiếu làm căn phòng có màu xanh. Anh nhìn đồng hồ, rồi nói: “Ông mua ít pizza ăn tối được không?”.

Pagan bỗng nhiên tỉnh người, gật mạnh đầu.

Lại là một manh mối! Nhưng khi hỏi thằng bé muốn ăn nhân gì, nó lại không nói gì, “Bình thường? Nấm? Xúc xích cay kiểu Ý?”, Michael hỏi, nhưng nó vẫn im lặng.

“Bánh ếch thì sao?”, Pauline kiến nghị, nó miễn cưỡng cười, Pauline cũng cười rồi dương dương tự đắc nói với Michael, “Ông ngoại, hãy mua cho bà cháu tôi một chiếc pizza ếch”.

“Dĩ nhiên!”, Michael vừa vui mừng trả lời vừa bò ra khỏi giường đi mua pizza.

Anh muốn cháu ngoại gọi mình là “Ông” – vì hồi trước anh gọi ông của mình như thế. Nhưng, nếu Pagan gọi anh là “ông ngoại” thì cũng được.

Khi chờ pizza ở “Quán ngon”, Michael gọi một cú điện thoại. Anh tìm thấy số điện thoại ở quầy thông tin, bỏ đồng xu vào, điện thoại reo mười tiếng hoặc mười hai tiếng, một người phụ nữ nghe máy.“Có phải viện điều dưỡng Nineteen Fleet Street không?”, anh hỏi.

“Xin chào, tôi có thể… gặp Becoming không?”.

Đầu dây bên kia phát ra một chuỗi tiếng soàn soạt, sau đó chẳng ai nói gì. Phía sau quầy hàng, đầu bếp đang rưới sốt cà lên pizza.

“Tôi là Becoming”, Michael nghe có tiếng người nói, “tôi giúp được gì cho ngài?”.

“Tôi là Michael Anton. Anh nhớ chứ, tôi là bố của Serenity”. “A”.

“Anh xem, chúng tôi đã đặt vé chuyến bay về Baltimore vào sáng mai cho con bé rồi. Cả mẹ nó và tôi sẽ cùng về với nó, còn cả con trai nó nữa. Chắc anh tán thành cho nó ở cạnh con trai chứ!”.

“Tôi không biết cô ấy có con”. Becoming nói.

Lẽ nào con bé không nói sự thật sao? Lúc thế này, Michael thấy lòng mình rối bời, nhưng anh liền trấn tĩnh lại: “Vậy giờ anh hiểu rồi chứ…”.

“Quả thật, chuyện này cũng làm tôi rất khó xử. Có đứa trẻ thì rắc rối đây”.

“Chắc giờ anh hiểu tại sao tôi phải đưa cả nó về rồi chứ?”.

“Anh bạn thân yêu”, Becoming nói với giọng thân thiết, “tôi nghĩ anh chưa hiểu rõ chuyện chúng tôi đang làm”.

“Phải”, Michael nói, “hãy cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra”.

“Cô gái này đuối sức vì hút ma túy, ý chí suy sụp, giống như say rượu vậy, hơn nữa lại hay kích động bất ngờ…”.

“Hút ma túy!”.

“Anh bạn, chắc chắn cô ấy không thể lên máy bay. Cả bậc thang trước mặt cô ấy cũng bước không nổi”.

“Ý anh là… thứ thuốc gây tê sao?”.

“Tất cả các loại thuốc viên, thuốc bột và thuốc nang có trên đời. Các thuốc làm ta phấn chấn, trấn tĩnh, bán trực tiếp cho khách hàng không qua giao dịch và cả loại buôn bán trái phép…”.

Michael choáng váng dựa người vào tường.

“Thậm chí cả chỗ này cô ấy cũng không bước ra nổi, hai vị sao trông chừng cô ấy được? Hai vị sao có thể để con trai cô ấy thấy bộ dạng cô ấy bây giờ?”.

Michael không tài nào trả lời được. Dường như cổ họng anh bị cái gì đó chặn nghẹn lại.

“Anh bạn? Anh vẫn còn nghe tôi đấy chứ?”. Anh gác máy.

“Quán ngon” không bán mang về, Michael đành phải cầm chiếc pizza bọc giấy bạc rất nóng tay. Nhưng không sao, cơ thể anh đã lạnh thấu xương. Hai hàm răng của anh đang đánh bò cạp, bước chân cũng nặng nề.

“Đuối sức”. Trong đầu anh không ngừng vang lên hai từ này. “Ý chí sa sút”, “hưng phấn” và “kích động” – với anh những từ ngữ này hoàn toàn mới lạ, cả cụm từ “vô trách nhiệm” của Destiny cũng lạ lẫm vô cùng. Khuôn mặt Destiny lại hiện ra trước mắt anh, hoa tai của cô lắc nhẹ chạm vào cái bớt màu xanh nhạt ở một bên cằm của cô. Lúc đó, anh không chú ý đến cái bớt, nhưng giờ nó lại khắc sâu trong trí nhớ anh tựa như một vết sẹo.

Khi về đến phòng, Michael không nói chuyện này với Pauline. Trong đầu anh nghĩ, chắc phải nói cho Pauline biết thôi, nhưng quả thật bây giờ anh không tài nào mở miệng được. Anh chỉ nói: “Anh có gọi cho Becoming, hình như phải một thời gian nữa Lindy mới được ra ngoài”.

Anh gắng gượng mình chuẩn bị trả lời những chất vấn của vợ, nhưng may mắn thay Pauline chỉ nói, “Ồ”, đồng thời ngồi yên một lúc, có lẽ cô đã đoán biết, “Thế nên em thấy tốt nhất chúng ta về trước, sau đó lại đến đón nó, được không?”.

“Xem ra giờ chỉ còn cách này thôi”. Michael nói. Pauline thẳng hai vai đứng lên mở đèn.

Pizza hơi ướt, hơn nữa chẳng mùi vị gì, Michael thấy dù thế nào họ cũng chẳng còn tâm trạng ăn uống. Anh cũng không nhớ phải mua nước uống, Pauline cầm ba ly nhựa đến nhà vệ sinh ở đối diện hành lang lấy ít nước lạnh. Lúc đưa ly cho mọi người, Pauline còn nói: “Cạn ly!” nhưng trông cô cứ như đang suy nghĩ chuyện gì khác. Mấy lần cô nói được nửa chừng thì giọng trở nên nhỏ. “Ồ, cháu ngoan, Pagan, bà lau cho nào… ở đây thoải mái đấy chứ… ai muốn ăn thêm nào? Có ai muốn ăn thêm… không?”.

Pagan thờ ơ cắn vài miếng pizza của mình, chỗ còn dư thì vẫn để đó, mắt dán chặt vào ti vi. “Ăn ngon không?”, Michael hỏi nó. Pagan không trả lời, dưới ánh đèn chói lóa trên đầu, nó híp mắt lại, người khom xuống, trông bộ dạng cứ lén la lén lút.

Đối diện với hiện thực đi nào, đứa trẻ này chỉ là vật thay thế. Nó không phải đứa con thật sự của họ – đứa con mà họ bay xuyên lục địa để đến tìm.

Pagan không đánh răng, không chải đầu, cũng không có thói quen đi tắm. Lúc đầu nó mặc chiếc quần lót mòn rách màu xám trốn ở góc tường, toàn thân xương xẩu, người không ngừng run lên. Quả thật nó có quần áo ngủ, không cần người khác giúp, nó tự mặc vào – bộ quần áo ngủ dài đến gót chân có in hình phi thuyền, không sạch sẽ lắm. Mỗi chiếc áo chiếc quần trong túi đều có mùi vị ngòn ngọt như đường caramen, trên người nó cũng thế.

Lúc tắt đèn và kéo rèm cửa sổ che ánh đèn ở ngoài đường, Pagan không phản đối, mà bò lên giường Pauline, cuộn tròn trong chiếc mền, chỉ để lộ mỗi cái đầu. Chiếc xe cứu hỏa vẫn để trong hộp. Nó ngủ ngay, hơi thở gấp rút và đều đặn, Michael thấy như tiếng thở nhẹ của mèo con. Nó không mút ngón cái, không bực bội cũng không ngáy, nhưng nó lại tè dầm.

Suốt mấy năm nay, từ sau khi Lindy bỏ nhà đi, Michael luôn nghĩ rốt cuộc họ đã làm gì sai. Họ quá nuông chiều nó sao? Quá nghiêm khắc sao? Họ chưa một lần đánh nó. Pauline luôn nghĩ gì nói nấy – Ồ, mỗi khi bọn trẻ chọc giận cô, cô luôn lải nhải không ngừng. Anh không thể không trách Pauline, Lindy hầu như “sở hữu” lại mọi khuyết điểm của Pauline: nóng nảy, cực đoan, không thể đoán biết trước. Nhưng dù thế, chẳng phải Pauline đã nhiều lần than rằng biểu cảm khó đoán biết của Lindy rất giống với anh sao? Có lẽ do họ chú ý quá nhiều đến Lindy và kỳ vọng quá cao ở nó. Tại sao lại như thế? Tại sao?

Michael ngủ thiếp đi, dường như anh đã thừa nhận thất bại của mình vậy, trong mơ anh đã nói: “Quên chuyện này đi, tôi bỏ cuộc rồi”.

“Chào mừng Lindy về nhà”. Sally viết thế trên tấm bảng nhỏ; George tay cầm một bó hoa, loại mua trong các cửa hiệu dọc đường; Karen đứng ở chỗ gần cổng nhất, làm hành khách mới phải đổi hướng để tránh cô bé. “Chúng con ở đây! Bên này nè!”, cô bé vui mừng đến nhảy cỡn lên. Cô bé mặc chiếc váy ngắn in vân tròn, dù ngày thường cô bé chỉ toàn mặc quần bò và áo thun, tóc búi tròn, trông như người mẫu quảng cáo tạp chí. Chắc hẳn cô bé đã sửa soạn từ khi trời vừa sáng. Michael nhìn thấy khuôn mặt quen thuộc của cô bé đang tìm lối bước đến trong đám đông. George đang vươn cổ nhìn hành khách bên cạnh anh. Sally chẳng biết gì cả, vẫn nhanh miệng thế, nhưng nụ cười trên mặt hai người kia dần tắt đi. “Chị ấy đâu?”, George hỏi bố mẹ.

Pauline không trả lời, mà đẩy Pagan ra trước. “Xem bố mẹ đưa ai về nè!”, cô nói với chúng. “Đây là Pagan, con trai Lindy. Pagan, đây là dì Karen, mợ Sally, còn đây là cậu George…”.

“Lindy đâu mẹ?”, Karen hỏi.

“Ồ, chị con phải ở lại San Francisco một thời gian, nó sẽ về sau”.

“Tại sao? Chị ấy vẫn khỏe chứ ạ? Bố mẹ có gặp chị ấy không?”.

“Nói chính xác, không được gặp trực tiếp, nhưng…”. “Đoán xem mợ có gì nào, Pagan!”, Sally nói, “tèng… teng!” và lấy ra một con chuột túi bông màu nâu, trong túi nó còn có một con chuột con.“Cho cháu nè”. Sally nói với nó.

Pagan đưa tay nhận con chuột túi, ngẩng đầu buồn bã nhìn vào mắt của Sally.

“Cháu phải nói cám ơn đi chứ?”, Pauline nhắc nó. “Cám ơn ạ”. Nó nói với giọng trầm thấp nhưng rõ ràng. Pauline ôm Pagan khóc nấc lên, tựa như nó vừa tạo ra một kỳ tích vậy.

Trên đường về nhà, Michael ngồi phía trước, Pauline ngồi phía sau, Pagan ngồi trên chân cô. Giờ Pauline bắt đầu bịa một câu chuyện về Lindy, làm Michael thấy chán ngắt. “San Francisco đẹp tuyệt vời”, cô bắt đầu nói, “chúng con cũng nên đến đó du lịch. Lindy ở nơi tuyệt diệu thế. Bố mẹ có nói chuyện với chủ quản nơi đó, dĩ nhiên bố mẹ cũng muốn đưa con bé về ngay lúc đó, nhưng con biết đấy, họ có quy tắc riêng, họ có thể dùng cách hiệu quả giúp con người giải tỏa áp lực và trạng thái căng thẳng. Về mặt đó, họ tiến bộ hơn Baltimore nhiều! Thế nên thời gian sau chị con mới về. Nhưng, giờ chúng ta có Pagan đây! Chẳng phải rất tốt sao? Cháu trai Pagan của chúng ta! Chúng con không thấy mắt nó rất giống Lindy sao?”.

Thỉnh thoảng, Michael cũng thấy bất mãn trước sự thật mà Pauline kể, vì anh hay nghĩ đến sĩ diện của mình.

Nhưng giờ đây, anh lại thấy cảm động. Anh phát hiện trong vợ anh ẩn chứa một sức mạnh to lớn, cũng chính những người phụ nữ như Pauline đã giúp cuộc sống có thể tiếp tục.

Tình yêu cháy bỏng và sự kiên trì không biết mệt mỏi của Pauline dành cho Pagan đã làm Micheal nể phục cô. Dĩ nhiên Michael cũng góp sức, mỗi tối sau bữa ăn anh đều đọc truyện cho Pagan nghe, hoặc cùng nó chơi trò bóng chày dành cho trẻ con ở sau vườn. Pauline luôn có những thay đổi mới lạ, nhưng bất hạnh thay, hình như đều không có hiệu quả. Pagan cảm thấy hơi nghi hoặc và sợ hãi trước những thay đổi này. Dường như phản ứng của nó hơi chậm và vẻ mặt luôn u buồn. Nó thường dùng ánh mắt xoi mói nhìn người khác, mắt nó chẳng chớp lấy một cái, hơn nữa trông có vẻ ngờ nghệch. Nó rất ít nói, hầu như không hề trả lời câu hỏi của ai và luôn cảnh giác, đề phòng người khác. “Cháu yêu của bà… Pagan!” lúc sáng, Pauline gọi tên và hôn vào trán nó. Nó ngủ trong phòng Lindy, giống như một vị khách tạm trú luôn ngại ngùng, mãi đến khi có người gọi mới chịu dậy. “Bé Pagan ngoan! Đến xem bà chuẩn bị bữa sáng ngon tuyệt cho cháu đây!”, Pagan chỉ nhìn một cái mà chẳng có phản ứng gì. Nhưng Pauline chẳng chút nản lòng. “Trứng đấy, cháu yêu, cả nước cam tươi nữa!”.

Quả thật Pauline là người tốt, Michael thấy mình cũng vậy, có điều hai người họ ở chung với nhau thì chẳng mấy tốt. Có lẽ… ý anh muốn nói, họ không mấy thân thiện. Bản thân anh cũng không biết tại sao.

Mỗi tối khoảng 7 giờ, Michael đều gọi điện đến Viện điều dưỡng. Anh nghĩ lúc đó là thích hợp nhất. “Tôi có thể gặp Becoming không?”, anh hỏi thẳng. Cái tên đó cũng chẳng còn kỳ lạ với anh nữa, thậm chí anh có thể gọi cái tên mới của Lindy chẳng chút do dự. “Tôi muốn hỏi thăm tình hình của Serenity, tôi là bố của con bé”.

Michael thấy cái tên “Serenity” chẳng có ý nghĩa gì với Pagan. Nhưng những việc này lại cảnh tỉnh anh, vì lúc anh gọi cú điện thoại thứ ba, anh phát hiện Pagan đang đứng dưới chỏ tay của anh, im lặng lắng nghe, chẳng hề cử động thậm chí là nín thở. “Cô ấy khỏe hơn nhiều rồi”, Becoming nói, “giờ cô ấy biết hai vị đã mang con cô ấy đi, chúng tôi có nói với cô ấy”.

“Nó bảo sao?”, Michael hỏi.

“Ơ, giờ cô ấy vẫn rất ít nói. Nhưng chúng tôi tin rằng sẽ khỏi thôi!”.

Sau khi gác máy, Michael nói với Pagan bằng giọng rất thoải mái: “Xem ra cũng tốt, chỉ cần thêm một ít thời gian”. Anh cố tình nói mơ hồ, để tránh Pagan nghe được gì đó, nhưng thằng bé bỗng nhiên buông rũ vai, Michael hiểu rằng nó đã biết. Nó còn biết những gì? Nó hiểu được bao nhiêu?

Ông bác sĩ già khoa nhi Amble vẫn chưa nghỉ hưu. Sau vài tuần Pagan về đến nhà, họ đưa nó đi kiểm tra sức khỏe. Họ nghĩ rằng, có thể trước đây Pagan chưa từng khám bác sĩ, vì lúc đầu nó chẳng chút nghi ngờ, chẳng thích thú gì với đồ chơi và kiểu bày trí như mẫu giáo trong phòng chờ khám bệnh. Nhưng trong quá trình kiểm tra bỗng nhiên Pagan lại rất ngang ngạnh, cũng không chịu nghe lời. Nó không lên tiếng, nhưng kiên trì không cởi áo, rồi vội chạy xuống khỏi chiếc cân. Khi ống nghe của bác sĩ vừa chạm vào ngực, nó liền hất ra. “Ừm”. Bác sĩ Amble nói với họ, dường như Pagan chỉ có 3 tuổi. “Nó bảo 4 tuổi rồi”, Michael nói, “lẽ nào nó nhỏ hơn tuổi đó sao?”, nhưng bác sĩ Amble nói không phải, ông dám khẳng định bằng danh dự nghề nghiệp của mình rằng đứa bé chỉ mới 3 tuổi. Điều này làm Michael có suy nghĩ khác. Giờ anh nhớ lại, lúc đó thằng bé dừng hồi lâu, mày chau lại, dường như chuẩn bị nói quá tuổi mình để người khác tin phục hơn. Michael toét miệng cười, đây là lần đầu tiên anh cảm thấy cháu mình còn có hy vọng… Ồ, anh thấy đấy là biểu hiện ý thức của cái tôi.

Kiểm tra xong, bác sĩ Amble gọi Michael đến phòng làm việc của mình, lúc đó Pauline đang mặc quần áo cho Pagan. “A”, bác sĩ ngồi xuống ghế, sau đó nói, “dĩ nhiên, chúng tôi có thể đoán biết rất nhiều điều. Tôi dám nói cậu bé chưa từng tiêm chủng phòng ngừa, tôi sẽ bảo y tá xử lý”. Ông cầm cây viết bi lên, sau đó cúi đầu nhìn tờ giấy, nói: “Không có ngày tháng năm sinh, nơi sinh, tên lót… thậm chí cả họ của nó cũng không xác định, theo lời vợ anh”.

“Tôi dám khẳng định, nó họ Anton”, Michael nói.

Anh không muốn nhắc nhở bác sĩ Amble, tất cả chuyện này đều không phải do anh hay Pauline làm ra. Họ chỉ đưa Pagan đến kiểm tra, sau đó tiêm chủng cho nó!

Sau đó bác sĩ Amble nói: “Có tin tốt”. “Sao?”.

“Anh xem, quả thật nó có quan hệ máu mủ với anh chị, anh xem lúc đau nó dựa dẫm vợ anh thế nào!”.

“Phải đấy, nhưng… nó chẳng mấy nói chuyện với chúng tôi, gần một tháng nay rồi. Tốc độ thích ứng với chúng tôi của nó quá chậm”.

“Đấy cũng là chuyện tốt, điều này chứng tỏ quan hệ hai mẹ con nó rất mật thiết”.

Tội nghiệp quá, Michael cũng không ngờ mình dễ mủi lòng đến thế.

“Tôi có thể gặp Becoming không?”.

“Tôi nghe”.

“Tôi là Michael Anton. Tôi muốn hỏi thăm tình hình của Serenity”.

“A, vâng”. Michael chờ đợi.

“Serenity chẳng còn ở chỗ chúng tôi nữa”. Becoming nói.

Tim Michael như ngừng đập. Anh hỏi: “Anh nói sao?”. “Tối hôm qua, lúc chúng tôi kiểm tra phòng cô ấy, phát hiện cô ấy biến mất rồi”.

“Tôi không hiểu”.

“Xem ra, cô ấy quyết định từ bỏ mọi giúp đỡ của chúng tôi”.

“Nhưng… ý anh là, nó bỏ đi? Anh từng nói với tôi cả bậc thang trước mặt nó cũng không bước nổi mà!”.

“Ồ, nhưng khoảng thời gian mới đây cô ấy không ngừng tiến bộ. Cô ấy nói muốn bắt đầu lại với con trai mình. Chúng tôi đều cho rằng cô ấy có tiến bộ! Nhưng giờ cô ấy lại cố tình từ chối làm lại cuộc đời. Chuyện thế này thỉnh thoảng cũng xảy ra, chúng tôi không biết phải làm sao”.

Giọng Becoming tỏ ra rất bi ai, thâm trầm hơn bình thường. Nhưng Michael đã nổi lửa giận. Lindy từng nhắc đến con trai mình!

Dĩ nhiên, nó đã bỏ đi. Nó lại trở thành người tự do có thể nó sẽ về Baltimore đòi lại con trai.

Anh hỏi Pauline còn nhớ cách liên lạc với Destiny không. Nhưng cô bảo không nhớ. Anh luôn nằng nặc đòi giữ lại những hóa đơn điện thoại cũ, phải, giờ chắc cô hiểu tại sao anh làm thế. “Em gọi đi, em nói chuyện với cô ấy tốt hơn”, anh nói với Pauline, “hỏi xem Lindy có ở đó không. Nói với Destiny, nếu Lindy đến, con bé có thể ở lại đó, cho đến khi chúng ta gởi tiền vé máy bay sang cho nó”.

Pagan ra ngoài chơi bóng chày với George và Sally, đây là điều may mắn, nó không ở nhà để chứng kiến cảnh hỗn loạn này. Ngăn tủ bàn tựa như bị gió bão tấn công, Michael dùng tay túm lấy tóc mình, Pauline cũng hoảng hốt, cô thử bấm số điện thoại, nhưng lại bấm nhầm. Destiny nói với Pauline rằng chẳng thấy Lindy đâu. Dĩ nhiên, nếu Lindy đến chỗ cô ấy, cô ấy sẽ nhắn tin lại. Nếu có tin gì cô ấy cũng gọi điện đến báo, dĩ nhiên nhà Anton phải trả tiền điện thoại. Nhưng nói thật, cô chẳng hy vọng nhiều.

Sau khi gác điện thoại, Pauline trông rất ủ rũ. “Bây giờ, anh xem đấy! Chúng ta lại trở về trạng thái ban đầu”, cô nói, “con gái chúng ta lại bỏ đi nơi khác, hơn nữa chúng ta chẳng biết nó đi đâu!”.

Lần này Michael lại rất lạc quan. “Em biết bọn trẻ giờ thế nào mà. Quá giang xe hoặc đi xe bạn dễ dàng thôi, chắc nó đang trên đường về nhà, hơn nữa đã đi được nửa đường rồi! Anh thấy… lúc nào, hôm nay là thứ bảy, anh chắc chắn thứ hai nó sẽ về, không chừng sớm hơn”.

Khi Pagan chơi bóng trở về, nó hoàn toàn không đoán được có chuyện gì khác thường xảy ra. Pauline vẫn vui vẻ như mọi ngày. Michael vẫn bình tĩnh thế, lạc quan cho rằng Lindy đang dần trở về bên họ. Anh dường như đang thấy Lindy đi giữa con đường cao tốc, cô bé cũng đang nhìn anh, môi nở nụ cười. Anh thấy như cô bé không phải độ tuổi này. Dù sự thật thế nào, nhưng anh vẫn muốn nghĩ thế này: Lindy là một cô bé khoảng tám chín tuổi, thắt hai bím tóc, mặc chiếc quần ngắn bên trong chiếc váy, như thế nó có thể lộn nhào và trồng chuối khắp nơi. Đầu gối Lindy đã đóng mày, cô bé chính là Lindy nhí nhảnh, hoạt bát và nghịch ngợm của anh, giờ cô bé sắp về nhà rồi.

Có một khoảng thời gian ngắn nhà Anton nuôi một con chó chăn cừu. Nó được gọi là quý bà. Nó thích kêu la, hơn nữa lại hay phấn khởi khác thường. Bất kỳ lúc nào, chỉ cần có đứa trẻ ra khỏi nhà, nó đều chạy đến chỗ cửa kính, đứng bằng hai chân sau, dùng chóp mũi vén màn cửa sổ lên. Nó không ngừng sủa vào ban đêm, mình rung lên, nhưng chưa từng giơ vuốt nhe nanh.

Mấy ngày này gia đình Anton đang chờ Lindy. Michael luôn nhìn về phía cửa, dõi mắt ra đường. Mỗi chiếc xe hơi, mỗi người đi ngang đều làm tim anh đập thình thịch. Mãi đến chủ nhật, anh luôn ngồi trước cửa sổ, gần như bất động, dù thỉnh thoảng anh né tránh Pauline, không muốn để cô nhìn thấy. Pauline luôn chờ điện thoại, hơn nữa cô cố tình không nghe điện thoại của ai đó quá lâu.

Tối chủ nhật George và Sally đến ăn tối, nhưng Michael không ngừng rời khỏi bàn ăn. Đêm đó anh cũng thức dậy nhìn ra cổng mấy lần, còn vờ như đi vệ sinh. Thứ hai anh ở nhà không đi làm, anh bảo đã nhờ quản lý trông nom cửa tiệm. Nhưng sau đó, Michael không ngừng gọi điện thoại hỏi tình hình ở đó, Pauline luôn nói: “Đủ rồi đấy, Michael, đừng gọi điện nữa được không?”. Cháu trai của Wanda Lipska nhà hàng xóm mời Pagan đi chơi, nhưng khi Pauline bảo Michael lái xe đưa nó đi, Michael lại nói tốt nhất không nên làm thế, vì có lẽ cửa hiệu đang cần đến anh. Pauline gào lên, sau đó tức giận lấy chìa khóa xe đi. Sau khi cô đi, Michael luôn đứng trước cửa kính dù chẳng thấy một ai đi ngang qua đấy. Ngoài xe tải, cũng chẳng có chiếc xe nào cả, mãi đến khi Pauline lái xe về, Michael mới kéo màn cửa sổ lại.

Thứ ba anh cũng không đi làm, anh bảo đau cổ họng. Thứ tư anh đi làm như mọi ngày.

Họ không nhắc đến chuyện này, chẳng ai nói với ai một câu. Họ chỉ im lặng.

Có một khoảng thời gian, dù Michael gọi điện lúc nào đều phát hiện Pagan đang đứng bên cạnh. Nhưng dần dà không thế nữa, Pagan bắt đầu đến bể bơi, còn kết bạn với mấy bé gái nhà hàng xóm. Phòng nó chất đầy mọi thứ: đường ray xe lửa, tập tô màu, xe hơi nhỏ làm bằng hộp diêm, xe cứu hỏa đã lấy khỏi hộp từ lâu, con chuột túi bông màu nâu và chuột túi con, bánh quy bẻ vụn, khủng long nhựa, cánh tay và con mắt của “Mr Bean”.

Michael nghĩ, một ngày nào đó, có lẽ Pagan sẽ kể về cuộc sống trước đây của nó và Lindy. Tuy trong trí nhớ bất chợt của trẻ con chỉ là những chuyện vụn vặt, nhưng vẫn có ích, điều này có thể cho họ chút manh mối. Dường như, Pagan đã quên hết mọi chuyện trước đây, thỉnh thoảng Michael nghĩ rằng nó không biết chuyện gì đã xảy ra với mình.

Một sáng nọ, Michael lái xe đưa Pagan tham gia cắm trại, Pagan bỏ quên chiếc mền ở nhà, lại phải chạy về lấy, tuần này đã là lần thứ hai nó quên rồi. Michael chẳng còn nhẫn nại: “Có lẽ cháu không có nó cũng được, chỉ lần này thôi đấy”. Anh nói. Nhưng Pagan bảo: “Cháu cần nó, ông ngoại, cháu cần mang theo nó”. Thế là Michael đạp mạnh thắng, trở ngược đầu xe, ngay chính lúc đó, bỗng nhiên anh nhớ đến cuốn sách trước đây cho các con đọc, có tên là “Heidi”. Heidi là một bé gái, nó được đưa lên núi Alps sống chung với ông ngoại. Michael nhớ rằng, trong sách chủ yếu miêu tả khả năng thích ứng môi trường mới của Heidi. Nhưng giờ anh nghĩ, ông cô bé sẽ thế nào? Có ai nghĩ đến cảm nhận của người ông đó về việc phải thích ứng cuộc sống với một cô bé không?

Bây giờ, Michael thấy vừa sùng bái vừa ngưỡng mộ ông.

Ngày Quốc tế lao động, họ nướng thịt và bày tiệc ngoài trời như mọi năm. Hầu như đây đã là truyền thống của gia đình. Số khách mời cũng rất đông: Karen trở về sau khi kết thúc năm học, dĩ nhiên có cả George và Sally, bố và vợ chồng chị em gái của Pauline, cả con của họ cũng đến. Pauline và Michael lấy ghế trong nhà xe ra, sau đó bắt đầu bận rộn chuẩn bị. Pauline sợ không đủ rau, cô trộn thêm một ít xà lách. Lúc gọi điện bảo George về, cô dặn nó nhớ mang thêm ít thịt bò xay, ít phút sau lại gọi bảo nó mua bánh mì hamburger. “Em không hiểu sao chúng ta cứ mãi làm thế”, cô nói với Michael, “hình như chúng ta đều không thích thế này, em sắp mệt chết rồi!”, quả thật trên mặt cô hiện đầy nếp nhăn, trông rất mệt mỏi.

Michael không muốn ở đó, thế là anh quyết định đến thăm Eustace. Đấy là thói quen của anh, dù giờ Eustace được trợ cấp bảo hiểm xã hội, nhưng thỉnh thoảng anh vẫn lái xe vào thành phố thăm và cho anh ấy ít tiền. Trước khi đi, anh gào to: “Lát nữa sẽ về!”. Cũng may, suốt mấy tuần nay anh luôn muốn làm chuyện này, chắc cô biết.

Thế nhưng, cô chẳng biết gì cả – hoặc vờ như không biết. Khi anh về đến nhà, cô vừa thấy đã hỏi: “Anh đi đâu đó hả?”.

“Đến nhà Eustace. Anh nói với em rồi mà, sao thế?”. Anh hỏi vặn, sau đó nhìn đồng hồ sau lưng cô, mới bốn giờ rưỡi, buổi họp mặt 5 giờ mới bắt đầu.

Nhưng Pauline càu nhàu: “Anh có nói với em đâu! Em sắp điên rồi! Nửa giờ trước bố đã đến, ngồi một mình trong đó, ngoài Pagan chẳng ai nói chuyện với ông. Karen đi mua đá, nhưng giờ vẫn chưa về, hơn nữa đến giờ anh vẫn chưa nhóm lửa ở giá nướng!”.

“Còn nhiều thời gian mà!”. Michael chống chế, thật ra anh chỉ nói dõi theo sau lưng Pauline, vì cô đã ngoảnh mặt bỏ đi.

Từ lúc đó đến khi buổi họp mặt kết thúc, anh chẳng có cơ hội nói chuyện với cô. Cô cứ đi đi, đi lại, sau khi vị khách cuối cùng rời khỏi, Karen chủ động đưa Pagan đi ngủ, lúc này Michael mới ý thức được Pauline vẫn còn giận anh. Anh mang một chồng đĩa vào bếp, bỗng nhiên cô nói: “Cám ơn! Việc này em tự làm được”. Cô giành lấy chồng đĩa trong tay anh, đặt mạnh xuống, nhưng đĩa không vỡ, đúng là kỳ tích.

“Poll”. Anh gọi.

“Đừng gọi em là Poll!”.

“Pauline, anh xin lỗi, chiều nay anh ra ngoài, nhưng chỉ đến thăm Eustace thôi, em cũng biết mà, nếu anh không đến, anh ấy sẽ rất buồn”.

“Đúng rồi, dù thế nào, chúng ta cũng phải nghĩ đến cảm nhận của Eustace! Người đàn ông già làm thuê cho anh ngàn kiếp trước. Bỏ mặc em chuẩn bị buổi họp mặt lớn thế này, bên cạnh còn có đứa bé ba tuổi, ông bố tội nghiệp của em, chắc ông đang nghĩ sao chẳng ai chào đón mình!”.

“Sao anh biết được bố em đến sớm chứ?”.

“Bố là người nhà, Michael! Bố muốn đến lúc nào chẳng được! Anh chỉ nghĩ đến người nhà anh thôi, bà mẹ hay gắt gỏng của anh, em chăm sóc mãi đến ngày bà mất, cả một câu cám ơn cũng không có. Nhưng khi mẹ em đi lạc, anh chẳng chịu giúp em!”.

“Anh giúp em tìm mẹ mấy lần đấy thôi! Trời ạ, hai năm cuối lúc mẹ còn sống, anh đã tập thành thói quen để mắt tới mẹ em! Có một tối chỉ mình anh, thậm chí chẳng ai đóng cửa hiệu…”.

“Ồ, cửa hiệu, cửa hiệu! Anh chỉ biết cửa hiệu yêu quý của anh thôi!”.

“Con muốn gì?”, Pauline hỏi Karen, cô bé đang đứng trước cửa bếp.

“Không có gì”. Karen hoảng hốt nói, “Con chỉ muốn chúc bố mẹ ngủ ngon”. Cô bé khéo léo né tránh vấn đề.

“Ngủ ngon, con yêu”. Michael nói với Karen, nhưng Pauline lại không, những lúc thế này, cô luôn lẫn lộn mọi thứ lại với nhau, nếu giận ai, cô muốn cho cả thế giới biết là cô đang giận.

“Thậm chí cả khi con gái anh bỏ nhà đi”, cô nói, “anh ở đâu chứ? Ở cửa hiệu! Lúc nào cũng cửa hiệu!”.

“Em nghĩ anh có thể đi đâu chứ? Còn em, ngoài việc chăm sóc ba đứa con, em làm được những gì…”.

“Ồ, thật bất công, Michael. Thật chẳng công bằng gì cả! Lẽ nào anh nghĩ Lindy bỏ nhà đi là lỗi tại em sao? Còn anh? Anh làm bố mà lạnh nhạt, quái gở thế, bọn trẻ sao lại không muốn bỏ đi sớm để tránh xa người bố lạnh lùng như anh? Đấy chính là lý do tại sao con gái lớn bỏ đi với bạn trai, con trai chưa tốt nghiệp đại học đã kết hôn, con gái út nghỉ hè, thậm chí cũng không về nhà!”.

Lúc cãi nhau với Pauline, Michael luôn rất giận, anh không thể không ra ngoài. Pauline gọi đấy là hành động lẩn tránh – qua đó càng chứng tỏ thái độ thờ ơ của anh. Nhưng Pauline không biết rằng, chỉ có như thế, cô mới chịu im lặng.

Anh ra ngoài qua cửa sau và đóng cửa chắn gió ầm một cái. Khu vườn tối om, những chiếc ghế vẫn để thành từng chồng, anh túm lấy một chiếc ghế, xoay một vòng, thế là ghế không hướng vào nhà nữa. Anh ngồi lên đó, ngẩng mặt nhìn trời, đầu trống rỗng.

Sau lưng anh, đèn trong nhà tắt hết cái này đến cái khác. Trời tối hơn, sao cũng sáng hơn. Anh nghe hàng loạt tiếng đóng cửa: cửa bếp, cửa phòng ngủ, có lẽ còn có cả cửa tủ âm tường. Nhưng anh vẫn ngồi đó, hy vọng tim mình có thể bình yên trở lại.

Một người phụ nữ điên cuồng, làm người ta khó chịu, tinh thần bất ổn; khi tâm trạng cô ấy vui, giọng nói lại toát lên sự hưng phấn khác thường, mắt cũng sáng lấp lánh, nhưng sự hưng phấn này của cô thật dễ sợ. Tại sao? Tại sao? Tại sao mình lại chọn kết hôn với cô ấy chứ? Lúc đó mình có thể cưới cô gái Ba Lan dễ thương khỏe mạnh nhà hàng xóm, hoặc là những cô gái trẻ tốt bụng trong căng tin hội chữ thập đỏ ở Virgina! Sao mình lại chọn một người không thể nào nắm bắt được chứ?

Cô không có quyền trách móc quan hệ giữa anh và các con. So với bố anh, anh đã gần gũi với các con nhiều lắm rồi. Còn cửa hiệu, cô ấy nghĩ tiền đi cắm trại, học nhạc, học đại học và du lịch lấy ở đâu ra chứ? Ồ, cô ấy chưa từng nhận thức được sự nghiệp của anh thành công thế nào. Ngay từ đầu, cô luôn hối thúc anh từ bỏ cửa hiệu cũ, dù cửa hiệu cũ đó mang đến cho họ một khoản thu nhập rất khá. Sau đó cô lại muốn có một siêu thị hoàn chỉnh, thắp đèn huỳnh quang, có hành lang rộng, bày đầy hàng hóa. Nhưng Michael biết rất rõ vùng ngoại ô thiếu thứ gì, chính là cửa hiệu tạp hóa kiểu cũ, quy mô không lớn nhưng có thể phục vụ mỗi người. Nhân viên phải gọi tên khách hàng, đặt hóa đơn của họ trên mặt bàn, hơn nữa có thể cung cấp kẹo cho con họ. Giờ anh đã có một lượng khách hàng cố định, nhưng Pauline có từng khen anh một lần không? Không có, mãi đến hôm nay cô vẫn không ngừng khuyên anh mở siêu thị, chỉ cần anh bắt đầu tranh luận, cô lại la toáng lên. “Nếu không phải em, giờ anh vẫn còn ở cái nơi hẻo lánh đó, đúng không?”, cô nói, “Mỗi ngày bán cho ba bà lão 3,5 panh (1 panh bằng 0.473 lít) sữa!”.

Thỉnh thoảng, anh thấy họ giống anh em hơn vợ chồng: không ngừng cạnh tranh, tỵ nạnh nhau. Những đôi vợ chồng khác cũng thế sao? Ít ra dưới mắt người ngoài, họ không phải như thế.

Anh tin rằng, tất cả họ, những thanh niên kết hôn trong thời kỳ chiến tranh đều có chút sai lầm. Anh thấy họ đi dọc theo các con đường trong thành phố, giống như những người anh gặp lúc đi lính, sau đó từng đôi hứa hẹn và cùng nhau thay đổi. Chỉ anh và Pauline vẫn thế, trở thành đôi tuyển thủ nghiệp dư cuối cùng còn lại trên thao trường duyệt binh.

Anh nhắm mắt lại, mong được tâm sự với ai đó về vấn đề này. Nhưng tâm sự với ai đây? Anh mất liên lạc với những anh bạn sống ở nhà cũ rồi. Cuộc sống xã giao của anh đều là những buổi hội họp đã lên kế hoạch trước – tiệc cocktail và bữa tối ở Emlview Acres. Thực tế, anh chẳng muốn tham gia, vì ở đó anh không có bạn bè. Anh từng thích ai đó sao? Có ai từng thích anh sao? Lẽ nào anh là người lạnh lùng, vô tình?

Thế nhưng, một lúc sau, cửa chắn gió mở ầm một cái, rồi đóng nhẹ lại. Có người đi chân trần qua các phiến đá lót sân tiến đến chỗ anh. Michael thấy an ủi hơn, có thể nói Pagan luôn là người bạn thân của anh, chính Pagan giúp anh xóa bỏ những đè nén và cảm giác cô độc ngột ngạt.

Đứa bé ra sức bò lên ghế. Michael mở mắt ra, anh đưa tay xoa nhẹ đầu Pagan, rồi hai ông cháu ngồi nhìn bầu trời đêm đầy các vì sao trầm mặc.