Đêm Galveston…

Anh bạn tôi người Phan Thiết nên tôi cũng như những người bạn khác đều nghĩ và tin là anh ghiền hơi biển, cứ vài tháng là anh lại rủ rê anh em về Houston, Galveston chơi. Và lần nào cũng thế, cứ về tới Houston là ghé ăn uống, đi chợ. Sau đó chạy tuốt xuống Galveston câu cá, câu ghẹ, quăng chài, rồi về nhà trọ nấu nướng mớ cua cá câu được và mua thêm của ngư dân. Cuối cùng là nhậu một bữa có gió biển, tiếng sóng. Sang hôm sau mọi người dậy được cũng đã gần trưa, lại trở về Houston ăn uống, đi chợ, rồi về lại Dallas là chiều tối.Những cuộc đi chơi như đi dã ngoại kiểu này thích hợp với những người trẻ hơn vì sáng thứ bảy lên đường sớm, chiều tối Chủ nhật mới về tới nhà mà sáng thứ hai đi làm lại thì hơi ngại cho đêm thứ bảy ngủ được vài tiếng nhưng lái xe đường dài suốt hai hôm cuối tuần, nên dần dà những người bạn đã có tuổi lặn êm.

Tôi không thích thấy ai buồn, nhất là bạn bè nên cắn răng theo anh mấy chuyến trong mùa dịch. Trên xe chỉ có hai anh em như những gã bụi đời vì mùa dịch nên không dám ngủ trọ ở đâu hết. Cứ rong ruổi đi chơi, đi ăn cũng chẳng được ngồi quán mà mua ra xe ăn, rồi đi câu, tối ngủ xe, sáng ra đi nhờ nhà vệ sinh ở cây xăng mùa dịch thật hãi hùng, rồi lại ăn cơm tay cầm để lấy sức mà về lại Dallas.

Có những buổi tối ở biển Galveston, chúng tôi ngồi uống bia với mấy món hải sản mua ở nhà hàng trong khi cua cá câu được thì bỏ thùng nước đá sau xe để đem về Dallas tính sau. Có những khoảng lặng về đêm bên bờ biển, anh ngồi nhìn biển đêm không nói một lời dù chỉ có hai người đi với nhau. Thỉnh thoảng anh uống ngụm bia như uống canh quên lãng của Mạnh Bà, hay uống để đẩy đưa dòng nhớ, hay uống cho bớt khô ký ức tràn về. Tôi chỉ thấy anh bớt chậm chạp, lù khù như khi ở Dallas. Với anh dường như được hít thở không khí biển, lội chân trần xuống biển là anh tỉnh táo ra, linh hoạt hơn sống với không khí thành phố và bốn bức tường câm ở Dallas.

Cuối tuần rồi, dịch covid-19 coi như kết thúc khi ông sếp lớn ở hãng nói với toàn thể nhân viên, “từ sáng thứ hai tuần tới, ai thích cứ mang mask còn ai không thích thì thôi. Hãng không bắt buộc mang nữa.” Có đến ba phần tư người hoan hô, một phần tư phản đối vì họ đương nhiên là không chịu bỏ cái mask khi làm việc nhưng họ muốn mọi người cũng vậy là cách phòng ngừa cho họ. Riêng anh bạn già nói với tôi, “cuối tuần này mình đi Galveston để trả thù mấy lần trước phải ngủ xe. Tôi lo hết, anh chỉ cần ngồi bên trò chuyện với tôi là được… tôi nhớ biển quá rồi!”

Tôi thì sợ ăn bờ ngủ bụi trong mấy chuyến trước nhưng chuyến này cũng khó từ chối anh bạn nhớ biển, đúng hơn là không nỡ từ chối anh bạn già vì từ khi chị nhà không đi bụi theo anh được nữa thì anh mới rủ anh em, nhưng anh em oải đều nên lặn hết, bây giờ tôi cũng lặn luôn thì thương anh mấy ngày cuối tuần ngồi hít khói xe ở Dallas mà mơ về biển Phan Thiết, biển Galveston không đẹp như biển quê nhà anh nhưng cũng đỡ thèm cho người dân biển.

Thế là chúng tôi lên đường gọn nhẹ, dễ dàng như khi còn trẻ, bạn bè ngồi uống bia ở Sài gòn tới quá nửa đêm thì nổi hứng kéo nhau về Mỹ Tho ăn hủ tiếu sáng. Có khi cả đám ra tới Vũng tàu thì biển chẳng còn ai, hàng ghế bố chơ lơ ngoài bãi biển gọi mời thì mỗi đứa một cái, ngủ khỏi trả tiền vì sáng hôm sau, chủ ghế còn chưa ra bãi thì chúng tôi đã cuốn gói, đi ăn sáng rồi về lại Sài gòn để sinh hoạt ngày mới.

Tôi kể cho anh bạn tôi nghe về cuộc sống của tôi ở Sài gòn trước khi qua Mỹ. Anh thích nghe chuyện kể về Sài gòn sau biến cố lịch sử vì anh người Phan Thiết nhưng vào học đại học ở Sài gòn, sau đó đi lính rồi đi luôn từ 1975. Chuyện đời anh lưu linh cũng ngậm ngùi như tôi ở lại khi nghe anh kể nỗi nhớ nhà của chàng lính trẻ gãy súng tháng tư, của người dân biển lại phải giam mình nơi phố thị, trong hãng xưởng điện tử ở Mỹ.

Khi chúng tôi thoát ra khỏi Dallas downtown đã thấy nhẹ người nhờ bớt kẹt xe, trực chỉ Houston theo xa lộ 45 south chừng 4 tiếng lái; có người nói đường về xứ biển này làm nhớ đến đường về miền tây vì cây lá hai bên đường, những quãng đường tít tắp trên đồng bằng xuôi nam. Riêng tôi chỉ lắng nghe âm thanh của gió mặn ngày càng đậm hơn trong không khí. Gió, nhớ người đi về hướng gió trên núi Sedona bên Arizona, quen nhau từ khi còn đi học nên mấy mươi năm sau mới gặp lại, không ngờ còn nguyên vẹn bồi hồi như ngày xưa quen nhau, làm nhớ tháng ngày cơ man với những lọn gió hẻm hóc ở Sài gòn chật chội, gió hanh hao về với hoa cúc hoa mai, với mùa xa còn đọng những tháng ngày. Nhớ gió biển San Diego mấy năm trước đi làm phóng sự, chỉ nghe mùi nước hoa vì biển đông người… cũng không giống gió Houston. Cái gió không làm cho người ta thấy mát khi ra biển mà cứ hầm hập trên da người nhưng lại không nóng bỏng như gió Nevada, gió nóng đến khô cả mồ hôi của vùng sa mạc đó cũng khác gió Lào trên Trường Sơn thổi xuống những tỉnh miền trung. Gió Houston khó tả cho chính xác để người ở xa có thể hình dung. Thật ra gió không mang niềm nhớ, gió chỉ mang vào ký ức cuồng phong những đã qua…

Tôi chịu trận với gió Houston cũng thường vì thỉnh thoảng vẫn xuống thành phố biển với bạn bè, và thật mừng hôm nay khi nghĩ ra gió biển Houston giống gió biển Cần Giờ. Cái gió làm cho người thành phố thấy sảng khoái khi tiếp giáp không khí vùng biển. Nhưng chỉ cần tiến sâu vô Houston – cũng như Cần Giờ chừng gần tới trung tâm thị trấn thì đã cảm nhận được hơi muối trong không khí. Sau đó là da rít rít, từ từ thấy khó chịu. Một phần khó chịu khác hơn hơi muối là độ ẩm của không khí, hầm hập trên da. Nếu đêm đầu đến Houston mà được ngủ trên cái giường sạch sẽ, căn phòng thoáng đãng, máy điều hoà không khí mở thật lạnh, thì đó là một diễm phúc. Bằng không, là một đêm trằn trọc, bực bội, chỉ muốn rời Houston tức khắc. Trường hợp này tôi đã có cách đối phó như ngày xưa xuống Cần Giờ. Đêm đầu là nhậu xỉn hết biết, khi mở mắt ra sau mặt trời, mọi chuyện chỉ còn lại những vết đỏ cùng người do muỗi chích.

Nếu muốn thích nghi ngay với Houston-Cần Giờ thì ào xuống biển tắm. Nhưng khi lên, đừng tắm lại nước ngọt. Gió sẽ hong khô bạn, gió sẽ giúp bạn từ khó chịu vì rít nhưng không lâu khoan khoái lạ thường khi dùng tay này cào nhẹ lên cánh tay kia đã thấy những đường mốc trắng như những làn khói máy bay trên trời cao. Nói một cách khác là khi người bạn đã được tráng một lớp muối thì bạn không cảm thấy rít nữa, hết nhơm nhớp, chỉ còn cảm giác cánh tay mình trơn bóng như cây gậy dò đường của người mù. Nhưng cũng đừng chải đầu cho gãy lược vì tóc bạn đã cứng hơn xịt keo. Cái ổ quạ đó chỉ dùng tay mà vò cho tơi ra, vuốt sơ mười ngón là được. Ở vùng biển gió, ít ai trách ai không chải đầu vì coi như phải gió.

Rồi bạn sẽ quen đi, quen đến quên đi, hết hồn khi chợt nghĩ tới khả năng thích ứng của con người. Từ đó về sau chỉ còn nỗi nhớ dài lâu về phong thổ, con người miền biển. Có lẽ do không khí Houston giống Cần Giờ làm tôi nhớ Cần Giờ đến chi tiết trong chuyến xuống Houston lần này. Tôi nhớ một lần ngồi ngó chiều đi ở Cần Giờ vì mấy ông thầy giáo đều đã bị cộng sổ ngoài quán nhiều hơn tiền lương chưa lãnh, nên không đi quán nữa. Mà không đi quán thì làm gì cho hết một buổi chiều. Một người bạn tôi ném hú hoạ không ngờ hòn đá trúng con mòng biển xấu số. Thế là chúng tôi vui hẳn lên, xách con mòng biển trở về khu tập thể giáo viên. Anh nuôi ra tay nhổ lông, thui lửa. Con mòng biển hy sinh vì sự nghiệp giáo dục thật vĩ đại, nhưng nó nhỏ nhoi quá nên không biết làm sao đủ ăn cho cả chục người. Anh hiệu phó chuyên môn ra ý kiến, “Bây giờ bằm ra, nấu cháo mới đủ ăn…” Quần chúng hưởng ứng ngay nhưng lao nhao, gạo đâu mà nấu cháo?”

Câu hỏi đơn giản vậy mà cả chục trí thức bó tay. Đến người bị xem thường nhất trong tập thể giáo viên là người dạy thể dục, thầy vai u thịt bắp ấy vậy mà thông minh, thầy nhớ ra mấy miếng cơm cháy của một cô giáo phơi nắng ngoài hồ nước. Cô là người ngoài bắc vào nên cơm cháy không bỏ, cứ phơi khô như thời kháng chiến. Nhưng ai là người dám đi ăn trộm mấy miếng cơm cháy khô ấy vì chả ai muốn vây vô miệng lưỡi bắc kỳ độc hơn nọc rắn. Cuối cùng, anh hiệu phó chuyên môn đi ăn trộm. Đám ngồi đợi bàn về kẻ trộm trong xã hội xã hội chủ nghĩa phải là kẻ có chức sắc thì người bị trộm không dám lớn tiếng trong thời buổi cướp đêm là giặc cướp ngày là quan…

Đến giai đoạn anh nuôi cho biết, “Không có tí mỡ để xào chim bằm với rễ tranh (thay tỏi) thì nồi cháo tanh lắm, sẽ không ăn được. Chim biển tanh hơn cá, tụi bay đừng có cãi tao…” Thế là anh em lại họp khẩn để tìm ra tí mỡ.

Tôi đi ra tiệm tạp hoá, định mua chịu nhưng không gặp người quen là đứa học trò, cũng không mở lời mua chịu được với cha mẹ nó đang cãi nhau. Tôi đi về phía biển trong niềm tin đi về hướng gió sẽ gặp may. Và đúng là may thật, một chú bé chả biết lớp nào, “Thầy đi đâu đó?” Nó dẫn về nhà, xớt cho thầy nửa chén mỡ cá rún mà nó cứ nói là cá gúng mới đúng, cho thầy luôn cái chén nên cho nó đúng đi cho nó vui. Tôi nhanh chân về trại tập trung, vừa đúng lúc tới ba hòn gạch làm bếp, vấp phải nhánh chà của một kẻ không mời mà đến nào đó, góp nhánh chà làm củi, coi như có góp phần thì sẽ có phần, chén mỡ cá ụp xuống đất cát.

Gió vẫn mang hơi biển về, hơi biển Houston có lọn thương, lọn nhớ Cần Giờ da diết. Gió đêm dịu bớt cái nóng ban ngày nhưng hầm hập như xưa. Căn phòng thoáng đãng, giường nệm trắng phau, đêm sâu vào nỗi nhớ những mặt người, những năm tháng không quên. Tiếng gà gáy như đưa người về tới nơi tới chốn, dãy nhà cất vội bằng cột tre mái lá cho mấy ông thầy giáo ở đã xây lại bằng xi măng. Lớp giáo viên trẻ trung như ngày nào, nhưng họ không còn đốt đèn dầu, họ ngồi soạn giáo án trên laptop, chỉ có gió Cần Giờ không thay đổi, vẫn hầm hập da người như gió Houston, mang hương vị cháo mòng biển tanh tanh, khét khét của cơm cháy, những gương mặt bạn bè trẻ trung, trong trẻo như tiếng con gà cồ tơ nào mới biết gáy nên hăng, gáy từ ba giờ sáng, gáy miết tới rạng đông như gọi mặt trời về xứ biển.

Tôi vừa chập chờn ngủ thì ông bạn đã gọi dậy, “Ra biển ông ơi! Tôi chài mớ cá sép biển cho bà xã tôi, ông muốn câu thì câu. Chừng mười giờ đi ăn sáng rồi về…”

Anh đúng là đứa con của biển, anh ra biển như cá gặp nước. Gần bảy mươi rồi mà còn quăng được cái chài biển tròn như cái bánh đa. Hơn hết là anh đang sống chứ không phải chỉ tồn tại, chờ chết theo ngày tháng qua như ở Dallas.

Phan