Ðộng Tam Cốc

Bài- ảnh: Trần Công Nhung

Mới bốn giờ sáng tôi đã dậy chuẩn bị trả phòng để lên đường. Chặng đầu, chụp ảnh chùa Sơn Thủy. Chùa nằm không xa về hướng đông thành phố Ninh Bình. Thành phố Ninh Bình không lớn, chỉ có đại lộ Trần Hưng Ðạo là đường hai chiều, buôn bán tương đối tấp nập. song cũng không có công trình xây cất gì lớn lắm. Các khu phố khác thì im lìm như khu cư dân.
Ra đến bến chùa, trời còn mờ mờ. Ghé vào quán ở ngã ba đường, làm ly cà phê đợi nắng lên. Quán lơ thơ vài khách ngồi bàn trong. Chúng tôi ngồi chiếc bàn nhỏ kê phía ngoài. Chị chủ quán chạy ra vồn vả:
– Các anh dùng gì ạ?
– Chị cho mấy tách cà phê sữa nóng.
– Cà phê phin hay cà phê tan ạ?
Tôi không hiểu, hỏi nhỏ người học trò:
– Cà phê tan là gì em?
– Dạ cà phê cho vào khuấy, không phải lọc.
Tôi ngước nhìn cô bán hàng:
– Chị cho hai phin một tan.
Buổi sáng trời se lạnh, nhâm nhi cà phê cũng là một cái thú. Hồi xưa, cứ mỗi lần từ Nha Trang đáp xe lửa về Sài Gòn, lúc tàu về đến địa phận Gò Vấp, khoảng 4 giờ sáng, trời lạnh thế mà người uống cà phê đã đầy quán. Tôi thì có thuê cũng không đi uống vào giờ đó. Cái gì cũng phải trong nghề mới hiểu. Không là dân ghiền, khó mà thấy cái lý thú đi uống cà phê trong lúc thiên hạ đang say ngủ.
Trời hừng hừng sáng. Chúng tôi ra đầu cầu sắt, đặt máy ngắm về phía chùa. Chùa nằm trên mũi đất nhô ra trên hữu ngạn sông Ðáy. Sông Ðáy nước vàng đục như sông Hồng. Chùa không lớn nhưng nhìn chung có nét đẹp riêng. Dọc bờ sông trước chùa thuyền đậu san sát một dãy dài. Một bức ảnh bố cục dọc, theo hình số 7. Thuyền chạy từ dưới chân ảnh lên, trên cùng bên góc trái là quần thể kiến trúc chùa với cây cối um tùm.
Máy gắn trên chân, lúc thấy phía cầu có hình ảnh hay thì quay máy lại chụp. Chiếc cầu duy nhất nối hai bờ sông, dùng cho xe lửa, và đủ các loại xe khác. Hai lối đi phụ bên ngoài thành cầu dành cho xe đạp và khách bộ hành. Có lúc thấy một chiếc xe bò đủng đỉnh dần đầu, theo sau là một đoàn ô tô. Một hình ảnh hiếm có. Trời đã sáng hẳn, ánh sáng màu chì vì mặt trời bị mây ám. Cảnh vật kém tươi tuy nhiên bấm máy vẫn thích. Người nhân viên gác ghi cũng muốn chia sẻ sự sảng khoái của người nhiếp ảnh. Anh vui vẻ hỏi:
– Các bác ở Hà Nội về làm phim đấy à?
Ðể cho tiện việc tôi nhận bừa:
– Vâng đúng đấy ạ.
– Lát nữa tàu về bác quay cảnh tàu nhé.
– Vâng, tàu bao giờ về?
– Dạ, chừng 30 phút nữa ạ. Bác nhớ quay có ảnh em nữa nhá.
– Ðược, anh yên chí.
Anh nhân viên làm phận sự cách ngây thơ. Một lát sau, tôi đang mãi chụp cảnh chùa thì nghe tiếng anh gọi:
– Tàu về, có làm thì quay máy lại nào.
Ðể vui lòng anh, tôi giả vờ hướng máy về phía đoàn tàu đang từ từ qua cầu. Ðến bây giờ hỏa xa vẫn dùng đầu máy GM của Mỹ từ thời trước 75. Thường tàu chỉ kéo khoảng mười hai toa, kể cả toa hàng hóa.
Cảnh thuyền bè trên sông khá hay, nhưng nắng không có, cứ nhòm chừng hễ mặt trời ló ra khỏi mây là bấm. Ðã nửa buổi vẫn chưa mấy nắng, có chụp thêm cũng thế thôi, chúng tôi lên xe chạy vào Tam Cốc.
Ra khỏi thành phố, ngang qua chợ Rồng, chợ họp ngay bên kia sông. Tiếng là chợ Rồng nhưng trông như “rắn liu điu”. Nhìn những lều vải che chắn, những con thuyền không ra thuyền, chẳng khác gì những cái chòi di động đậu ngay bến là biết đời sống dân chúng cực khổ thế nào. Lúc này ánh sáng có tươi hơn, bấm máy thoải mái. Cứ dần theo khúc sông dọc đường cũng còn nhiều cảnh để chụp.
Từ Ninh Bình đi vào non mươi cây số, có con đường đất chạy về hướng tây, lối vào động Tam Cốc. Chúng tôi chỉ hỏi thăm, mò dần vào chứ không hề thấy bảng chỉ dẫn. Ðây là điều rất lạ, các điểm du lịch chính yếu mà không nơi nào lưu ý việc này. Nếu khách không đi theo Tours tất phải tự tìm đường, điều này không phải dễ đối với người từ xa đến. Mười lăm phút sau chúng tôi vào ngay một bến đò. Trước mặt là núi vôi liên tiếp, màu sắc đi từ nâu qua xanh lá cây rồi nhạt màu xanh lam. Núi từng lớp, mờ ảo nhè nhẹ như tranh thủy mạc.
Thuyền nan có cả trăm chiếc. Khách đang sắp hàng mua vé. Tôi thấy chưa vội, hoạt cảnh nơi này cũng bắt mắt. Căn nhà gạch phía bên kia có sân thượng, tôi qua xin phép lên đấy chụp. Ðây là trạm Bưu Ðiện địa phương, mấy cô đang làm việc thấy tôi đai bị máy móc cũng có vẻ nể, chắc lại nghĩ tôi là nhà báo. Tôi hỏi mượn chìa khóa mở cửa lên sân thượng. Từ đây nhìn xuống con sông ngoằn ngoèo qua đồng lúa xanh, thuyền đưa khách nối đuôi nhau, áo màu rực rỡ. Tôi nghĩ ai cũng thấy đẹp, nhưng chắc người chơi ảnh vẫn thấy đẹp hơn. Ðẹp và ý nghĩa nữa. Tôi bấm máy say sưa, một vùng núi sông hùng vĩ thơ mộng.
Chụp một lúc tôi xuống ra ngay bến đò. Nơi đây, hoạt cảnh được lắm tuy nhiên phải có điểm cao mới bao quát được hết. Tôi vào một nhà dân tìm thuê cái thang. Một chị đang ngồi ngay trước thềm, bên cạnh chiếc bàn nhỏ bày mấy chai nước ngọt và tủ thuốc lá. Tôi làm quen:
– Chào chị, nhà có cái thang nào không, tôi thuê một chốc?
– Ðể làm gì hả bác?
– Ðể dựng vào hàng rào đình đằng kia, tôi muốn có chỗ cao để chụp ảnh.
– Nhà cháu có thang tre được không bác?
– Tốt lắm, chị vác ra, tôi thuê.
Người đàn bà vác thang ra. Tôi nói:
– Chị làm ơn đi theo tôi.
Người đàn bà ngoái vào trong gọi lớn:
– Bướm ơi, ra trông hàng cho mẹ.
Một cô bé chừng 15 tuổi chạy ra, chị bảo:
– Con coi nhà mẹ giúp bác một lát.
Cô bé nhìn tôi rồi nhìn mẹ đang vác cái thang, chẳng hiểu chuyện gì. Tôi đi trước chị theo sau. Ðến chỗ hàng rào cạnh bờ sông, tôi bảo chị dựng thang cho tôi leo lên. Vì hàng rào kẽm cứ lung lay nên chị đứng nguyên tại chỗ giữ giùm cái thang. Xong việc tôi trả tiền chị:
– Ðây tiền thuê cái thang 10 ngàn. Tiền công chị 10 ngàn. Chị thấy được chưa?
Người đàn bà nhận tiền, cười không nói gì. Vừa quay lưng ra lại gặp một cô gái hăm hở đến:
– Chú đi thuyền vào động không cháu chở?
Ái chà đang lúc công việc linh tinh vầy mà cô đưa tôi vào “động” thì rồi làm sao. Tuy nghĩ thế nhưng cũng trả lời cho cô lái vui:
– Có, nhưng tôi chưa mua vé, à mà vé bao nhiêu vậy cô?
– Dạ, vé 5 nghìn, thuyền 3 nghìn, mỗi người 8 nghìn. Chú khỏi mua vé.
– Không mua vé?
– Dạ chú cho tiền thẳng cháu.
– Vậy nhỡ họ bắt được thì rầy rà lắm.
– Không sao chú ạ, cháu vẫn đi như thế. Chú mua vé thì họ sẽ phân chú ngồi chung với nhiều người khác, không tự do, mà cháu thì chỉ được ít thôi.
Lời cô lái đò rất phải, tôi đồng ý, cô vui mừng chạy đi lấy thuyền. Thường lệ khách mua vé phải đợi ngay tại trạm bán vé rồi xuống thuyền theo thứ tự. Khách ngoại quốc hai người một thuyền, người mình 4 người lớn một thuyền, học sinh thì cả chục. Không mấy ai vòng ra sau bến để đi theo kiểu chúng tôi.
Lúc mới xuống thuyền tôi thấy không yên tâm, thuyền chồng chềnh rất dễ bị lật. Một lát, thuyền nhẹ nhàng trôi. Cô lái đò hai tay hai chèo, thong thả đẩy thuyền đi tới. Tôi bảo cô:
– Em cứ chèo thong thả, không theo những thuyền kia làm gì. Lúc nào tôi bảo dừng thì dừng nhá.
Theo đoàn thuyền đưa người vào động, có những xuồng bán hàng rong, cặp vào thuyền khách bán quà. Tôi thử đứng thẳng người, thuyền vẫn bình, bấm máy với tốc độ 500, thế nào cũng có ảnh. Dòng sông tuy rộng, thuyền vẫn đi một hàng, tạo cho cảnh trí nét mảnh mai thanh nhã khác hẳn cảnh thuyền bè rộn rịp trong các bến ở Miền Nam. Khách du phái nữ và trẻ em đa số mặc áo màu, những chiếc áo màu vàng, xanh, những chiếc dù màu đỏ làm cho cảnh tươi vui khácï thường. Ðiều lạ là hai bên dòng sông lại trồng lúa. Hỏi ra, đây không phải sông mà cánh đồng ngập nước. Do nhu cầu thực tế, người ta vạch một dòng sông uốn lượn quanh co qua cánh đồng lúa xanh, giữa hai dãy núi vôi. Dòng sông chỉ sâu hơn ruộng lúa một tí thôi, không thể chết đuối người.
Núi dựng đứng hai bên, dáng núi tròn trịa hiền lành. Cây nhỏ mọc phủ núi, như để tô điểm thêm vẻ đẹp mà thôi. Gọi là núi nhưng núi có dạng đảo, chân núi, cách mặt nước chừng một mét, có đường rãnh xoi mòn ngang một mực, núi nọ sang núi kia, giống như đảo ở Hạ long. Ðây là dấu tích của thời xa xưa khi biển ăn vào vùng này. Bởi vậy vùng này ngày nay còn gọi là Hạ Long Cạn.
Lưng chừng vách đá, nhiều đốm trắng di động, cô lái đò cho biết “dê nuôi thả”. Không hiểu làm sao dê lên được đấy, từ xa trông rất cheo leo, tưởng có thể lăn xuống bất cứ lúc nào. Lúc thuyền đến gần cửa động thứ nhất, nhìn vào trong thấy tối thui, tôi hỏi cô lái đò:
– Trong động tối thế sao em không mang theo đèn? (Vào động Phong Nha, phải có đèn măng sông)
– Dạ, thấy vậy nhưng bên trong sáng đấy ạ.
Vừa lúc thuyền vào động, không khí mát rượi, vòm động cao và rộng hơn động Phong Nha rất nhiều. Thuyền đi được một đoạn thì nhìn thông qua cửa bên kia. Ðúng là bên trong ánh sáng nhờ nhờ đủ cho khách ngắm nhìn. Tôi nghĩ, do ánh sáng từ hai phía cửa động phản chiếu theo mặt nước đội vào. Ðộng thứ nhất dài hơn hai động kia. Ra khỏi động tôi yêu cầu thuyền cập vào bờ rồi leo lên mõm đá cao. Nhiều tay ảnh đã lên đặt máy nơi này, dấu tích là những võ film vứt rải rác đó đây. Thật là đẹp, dòng sông màu nước vàng đất, thuyền nối đuôi chạy tít rồi mất hút sau những núi phủ sương lam..Không chụp vội, nghỉ một lúc ngắm cho đã mắt. Tôi có cảm tưởng như mình ở trên tiên giới nhìn xuống cỏi trần. Lúc này mà có một bình trà mới là tuyệt. Cảnh vật vừa trong tầm hoạt động của tele zoom tiêu cự 80-200. Nếu cần một ảnh Panorama thì thay ống kính góc rộng. Chụp một lúc thấy đã vừa, chúng tôi xuống thuyền đi tiếp. Cảnh trên dòng sông vẫn vậy nhưng núi hai bên thay đổi từng đoạn và như khép gần lại.
Qui định cho thuyền đưa khách chỉ đến động thứ ba. Tôi thấy thế cũng vừa, còn dành thời gian chạy vào Thanh Hóa. Trên đường trở ra, nhìn ngược cảnh ban sáng cũng có nhiều cái hay. Thuyền đi cảnh đổi, chụp rồi mà cứ tưởng chưa. Cảnh càng đi càng thấy đẹp, ngắm mãi không muốn rời.
Tam Cốc chỉ mới một điểm của Ninh Bình nhưng việc đầu tư du lịch chưa nghiên cứu để phục vụ đúng mức, và cũng chưa tìm cách phô hết vẻ đẹp của thắng tích. Nhà hữu trách chỉ tìm cách khai thác mặt kinh doanh mà quên vấn đề xây dựng và tổ chức nên không có sức thu hút du khách. “Ngao du sơn thủy” không chỉ tìm cái đẹp của sông núi, đi sâu vào đời sống từng địa phương, từng con người thì còn gặp bao điều lý thú, nhiều điều lạ, những cảm tình mộc mạc chất phác của người mới quen, đấy là tình tự quê hương.

Trần Công Nhung

Xem thêm

Nhận báo giá qua email