ĐỨA TRẺ THỨ 44

ĐỨA TRẺ THỨ 44

Tom Rob Smith

Dịch giả: Võ Hồng Long

Leo bất ngờ vì Raisa ngoảnh lại:

– Nó ở đâu ra, cái giác ngộ chớp nhoáng này? Nghe thật rẻ tiền. Sau khi bị lột bỏ hết đồng phục, văn phòng, quyền lực, giờ anh cố vớt vát với tôi. Phải thế không? Điều chưa bao giờ quan trọng với anh trước đây – là chúng ta – lại trở thành quan trọng bởi vì anh thấy mình không còn gì khác?

– Em không yêu anh, anh biết thế. Nhưng có một lý do khiến ta lấy nhau, có điều gì đó giữa hai ta, một mối liên hệ nào đó. Ta đã đánh mất nó. Anh đã đánh mất nó. Ta có thể tìm lại.

Cửa toa mở ra, một nhóm hành khách đang xuống. Thời gian hết dần. Raisa nhìn vào toa, cân nhắc những lựa chọn. Họ thật đáng thương. Cô không có bạn bè để tìm đến, không gia đình để che chở, không có tiền và phương tiện để lo cho bản thân. Cô thậm chí còn không có vé. Leo đã phân tích đúng. Nếu cô đi, có thể cô sẽ bị chính quyền bắt giữ. Cô nhụt hết ý chí trước ý nghĩ đó. Cô nhìn chồng mình. Họ chỉ còn có nhau, cho dù họ có quý mến nhau hay không.

Cô thả va li xuống. Leo mỉm cười, rõ ràng tin là họ có thể làm lành. Bực mình vì cách hiểu ngây ngô này, cô giơ tay dập tắt ngay nụ cười của gã:

– Tôi đã lấy anh bởi vì tôi sợ, sợ rằng nếu tôi khước từ sự theo đuổi của anh tôi sẽ bị bắt, có lẽ không bị bắt ngay mà một lúc nào đó, vì một cái cớ nào đó. Tôi còn trẻ, Leo, mà anh lại quá uy quyền. Đó là lý do chúng ta lấy nhau. Câu chuyện anh kể rằng tôi giả vờ lấy tên Lena ư? Anh thấy chuyện đó buồn cười, lãng mạn ư? Tôi nói tên giả cho anh bởi tôi lo sợ anh sẽ tìm ra tôi. Cái mà anh hiểu là sự quyến rũ thì tôi lại hiểu là sự giám sát. Mối quan hệ của chúng ta được xây dựng trên sự sợ hãi. Có thể không từ cách nhìn của anh – anh chẳng có lý do gì phải sợ tôi, tôi thì có quyền lực gì? Tôi đã bao giờ có quyền lực gì chưa? Anh hỏi cưới tôi và tôi đồng ý vì đó là điều mọi người làm. Họ chấp nhận mọi thứ; họ chịu đựng để tồn tại. Anh chưa bao giờ đánh tôi hay chửi mắng tôi, anh chưa bao giờ say xỉn. Nên, chung quy lại, tôi cho rằng mình may mắn hơn nhiều người. Nhưng khi anh bóp cổ tôi, Leo, anh đã vứt bỏ đi lý do duy nhất mà tôi có để ở lại cùng anh.

Tàu đã chuyển bánh. Leo nhìn nó rời đi, cố gắng hiểu hết điều cô vừa nói. Nhưng cô không cho gã nghỉ ngơi, cô nói như thể những lời này đã định hình trong đầu cô nhiều năm qua. Bây giờ, được khơi ra, chúng tự do tuôn trào:

– Vấn đề khi không còn quyền lực, như anh bây giờ, là mọi người bắt đầu nói với anh sự thật. Anh không quen với nó, anh đã sống trong một thế giới được bảo vệ bằng sự sợ hãi anh gây ra. Nhưng nếu chúng ta sẽ ở với nhau, hãy dẹp bỏ sự lãng mạn ảo tưởng ấy đi. Hoàn cảnh là chất keo giữa chúng ta. Tôi có anh. Anh có tôi. Chúng ta không còn gì khác. Và nếu chúng ta sẽ sống cùng nhau, từ bây giờ tôi sẽ nói cho anh nghe sự thật, không phải những lời dối trá dễ chịu – chúng ta bình đẳng như chưa bao giờ như thế. Anh chấp nhận điều đó hoặc là tôi sẽ đợi chuyến tàu sau.

Leo không đáp. Gã chưa sẵn sàng bị vùi dập, bị át lời. Trước đây, gã quen với địa vị có chỗ ở tốt, có thức ăn ngon. Gã không tưởng tượng gã đã sử dụng điều đó để lấy vợ. Giọng cô dịu đi chút ít:

– Có quá nhiều thứ phải sợ rồi. Anh không thể là một trong số đó.

– Anh sẽ không bao giờ như thế nữa.

– Tôi lạnh quá, Leo. Tôi đã đứng trên sân ga này ba tiếng đồng hồ rồi. Tôi sẽ quay lại căn phòng. Anh có đi không?

Không, gã không muốn quay lại, đi bên nhau, một hố ngăn cách giữa họ.

– Anh sẽ ở lại một lát nữa. Hẹn gặp em ở nhà.

Cô xách vali, quay vào nhà ga. Leo ngồi trên ghế, nhìn chằm chằm vào rừng, lục lại những ký ức trong mối quan hệ của họ, kiểm nghiệm lại từng ký ức một, điều chỉnh lại hiểu biết, viết lại quá khứ.

Gã đã ngồi đây không biết được bao lâu thì gã nhận ra có người đang đứng bên cạnh. Gã nhìn lên. Đấy là người ở trong phòng vé, một cậu thanh niên, người họ đã gặp lúc đến đây:

– Tối nay không còn chuyến tàu nào nữa.

– Cậu có thuốc không?

– Tôi không hút thuốc. Tôi có thể lấy cho anh một điếu ở nhà tôi. Ở trên tầng thôi.

– Thôi, không cần đâu. Cảm ơn cậu.

– Tôi là Aleksande.

– Tôi là Leo. Cậu có phiền không nếu tôi ở đây một chút nữa?

– Không đâu, để tôi đi lấy điếu thuốc cho anh.

Leo chưa kịp trả lời thì anh ta đã vội vã chạy đi.

Leo ngồi dựa ra và đợi. Gã thấy một căn nhà gỗ nằm lùi sâu so với đường ray. Đó là nơi xác cô bé được tìm thấy. Gã nhận ra được chỗ bìa rừng, hiện trường tội phạm – mặt tuyết bị giày xéo bởi các thám tử, thợ ảnh, luật sư điều tra – tất cả đều điều tra cô bé bị chết kia, miệng há rộng, bị nhét đất.

Một ý nghĩ lóe lên, Leo đứng dậy, vội vã bước tới, khom mình ra khỏi sân ga, đi qua đường ray và tiến đến chỗ rừng. Có tiếng gọi với đằng sau:

– Anh đang làm gì đấy?

Gã quay lại và thấy Aleksandr đứng bên mép sân ga, cầm một điếu thuốc. Gã ra hiệu cho anh ta đi theo.

Leo đến chỗ tuyết bị giẫm xuống. Có dấu ủng hình chữ chi theo mọi hướng. Gã vào rừng, đi bộ vài phút, đến ngay nơi gã nghĩ là cái xác từng nằm đó. Gã cúi xuống. Aleksandr bắt kịp. Gã nhìn lên:

– Cậu biết chuyện xảy ra ở đây?

– Tôi là người đã nhìn thấy Ilinaya chạy vào ga. Cô ấy bị đánh bầm giập, run rẩy – mãi cô ấy mới nói được. Tôi đã gọi dân quân.

– Ilinaya?

– Cô ấy đã nhìn thấy cái xác, đã giẫm phải nó. Cô ấy và người đi cùng.

Đôi trai gái trong rừng – Leo biết có gì đó không ổn.

– Tại sao cô ấy bị đánh?

Aleksandr tỏ vẻ lo lắng:

– Cô ấy là gái điếm. Người đi cùng cô ấy đêm hôm đó là một quan chức quan trọng. Làm ơn, đừng hỏi tôi nữa.

Leo hiểu rồi. Quan chức này không muốn để lộ tên mình trong hồ sơ. Nhưng có thể ông ta là kẻ khả nghi giết cô bé không? Leo gật đầu với người thanh niên, cố trấn an anh ta:

– Tôi sẽ không nói tên cậu đâu, tôi hứa đấy.

Tay gã thọc qua lớp tuyết mỏng.

– Miệng cô bé bị nhét đất, đất mềm. Thử tưởng tượng tôi đang vật lộn với cậu, ngay ở đây, và tôi với tay ra tìm thứ gì đó để nhét vào miệng cậu bởi vì tôi sợ cậu sẽ hét lên, tôi sợ ai đó nghe thấy.

Ngón tay Leo chạm tới mặt đất. Đất rất cứng, như bề mặt của một tảng đá. Gã thử chỗ khác, rồi chỗ khác và chỗ khác nữa. Không có đất mềm. Đất cứng đóng băng.

Chương 31

18 tháng ba

Đứng ngoài bệnh viện 379, Leo đọc lại biên bản khám nghiệm tử thi, những điểm chính mà gã chép tay lại từ bản gốc:

Nhiều vết đâm. Độ dài lưỡi dao không xác định được. Bị tổn thương nặng ở phần thân và nội tạng. Bị cưỡng hiếp trước hoặc sau khi chết. Miệng có nhiều đất nhưng cô bé không bị ngạt thở; mũi vẫn thông. Có lẽ đất dùng cho mục đích khác – để bịt miệng?

Leo khoanh vòng điểm cuối. Vì đất bị đóng băng nên kẻ giết người hẳn phải mang theo đất. Hắn ta hẳn đã có kế hoạch giết người. Có ý định trước, có chuẩn bị. Nhưng tại sao lại mang theo đất? Đấy là một phương cách vướng víu để bịt miệng ai đó; một miếng giẻ, mảnh vải, hoặc thậm chí bàn tay cũng có thể dễ dàng hơn nhiều. Không có câu trả lời, Leo đành phải muộn mằn nghe theo lời khuyên của Fyodor. Gã sẽ tự mình đi xem cái xác.

Khi gã hỏi xác cô bé được giữ ở đâu, người ta cho biết ở bệnh viện 379. Gã không trông đợi sẽ có phòng khám nghiệm pháp y, bác sĩ bệnh học, hoặc một nhà xác riêng. Gã biết không có một bộ phận chuyên biệt nào để xử lý những cái chết sai trái. Làm sao có được khi mà cái chết sai trái không tồn tại. Trong bệnh viện, dân quân buộc phải tranh thủ thì giờ rảnh rỗi của bác sĩ, như giờ nghỉ ăn trưa hoặc mười phút trước khi phẫu thuật. Những bác sĩ này, không được đào tạo nhiều hơn chuyên môn y khoa của mình, sẽ phán đoán dựa trên hiểu biết của họ về chuyện gì đã xảy ra với nạn nhân. Báo cáo khám nghiệm tử thi Leo đã đọc dựa trên những ghi chép trong các cuộc hỏi ý kiến ngắn ngủi này. Những ghi chép được đánh máy tổng hợp lại vài ngày sau, bởi một người khác hoàn toàn. Có thể chắc chắn rằng phần lớn sự thật đã lọt mất trong quá trình đó.

Bệnh viện 379 là một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất cả nước và được cho là một trong những bệnh viện miễn phí cho mọi người tốt nhất thế giới. Nằm ở cuối đường Chkalova, nó rộng chừng vài héc ta và có mặt bằng được tạo hình khung cảnh đẹp đẽ kéo dài đến tận rừng. Leo rất ấn tượng. Đây không đơn thuần là dự án tuyên truyền. Rất nhiều tiền đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và gã có thể hiểu tại sao người ta nói rằng những quan chức đi nhiều ki lô mét để điều dưỡng trong khung cảnh đẹp đẽ thế này. Gã cho rằng số tiền ấy ban đầu nhằm bảo đảm duy trì sức khỏe và năng suất làm việc của nguồn nhân lực ở Volga.

Ở bàn lễ tân, gã đề nghị được nói chuyện với bác sĩ, giải thích rằng gã cần giúp đỡ khám nghiệm một nạn nhân bị giết, một cô bé mà họ đang giữ trong nhà xác. Nhân viên lễ tân dường như khó chịu trước yêu cầu đó, đã hỏi việc này có khẩn cấp không và gã không thể đến vào lúc rảnh rỗi hơn sao. Leo hiểu: người này không muốn liên quan gì đến vụ án.

– Khẩn cấp.

Người đàn ông miễn cưỡng đi tìm xem có ai rảnh rỗi không.

Ngón tay Leo gõ gõ trên bàn. Gã thấy lo, liếc ra sau về phía cửa vào. Chuyến viếng thăm của gã chưa được cho phép, đấy là việc làm…. Gã hy vọng đạt được gì? Công việc của gã là tìm bằng chứng xác nhận tội trạng của nghi can, không phải đi nghi ngờ bản thân tội trạng. Mặc dù gã đã bị đuổi khỏi cái thế giới danh tiếng những tội phạm chính trị xuống những bí mật bẩn thỉu của tội phạm thông thường thì quy trình cũng hầu như không đổi. Gã đã bác bỏ cái chết của con trai Fyodor, coi đó là một tai nạn không phải vì bất kỳ bằng chứng nào. Gã đã thực hiện những vụ bắt bớ dựa trên danh sách những cái tên đưa cho gã, những cái tên được viết ra đằng sau những cánh cửa khép kín. Đó từng là phương pháp của gã. Leo không ngây thơ đến mức nghĩ rằng gã có thể thay đổi hướng điều tra. Gã không có thẩm quyền. Thậm chí nếu gã là một quan chức cấp cao gã cũng không thể đảo ngược quy trình. Một quy trình đã được xác lập, một kẻ bị tình nghi đã được chọn. Không thể tránh khỏi rằng Babinich sẽ bị cho là có tội và không thể tránh khỏi rằng cậu ta sẽ chết.

Và dù sao thì điều đó có liên quan gì tới gã? Đây không phải là thị trấn của gã? Đây không phải người của gã? Gã đã không thề thốt với bố mẹ cô bé rằng gã sẽ tìm ra kẻ giết người. Gã không biết cô bé hoặc xúc động vì câu chuyện cuộc đời cô bé. Và nữa, nghi can là một mối nguy hiểm cho xã hội – nó đã ăn cắp một đứa bé. Đây chính là những lý do tuyệt hảo để không phải làm gì và bên cạnh đó lại còn một lý do nữa:

“Mình có thể thay đổi được gì?”

Người lễ tân quay lại cùng một người đàn ông đâu mới ngoài bốn mươi tuổi, bác sĩ Tyapkin, người đồng ý dẫn Leo xuống nhà xác miễn là không liên quan gì đến giấy tờ hồ sơ và với một điều kiện là tên anh ta không xuất hiện trong giấy tờ gì hết.

Khi họ bước đi, vị bác sĩ tỏ ý không chắc xác cô bé có còn ở đó không:

– Chúng tôi không giữ xác lâu trừ phi được yêu cầu. Chúng tôi có cảm giác rằng dân quân đã có tất cả thông tin họ cần.

– Anh có thực hiện khám nghiệm ban đầu không?

– Không. Nhưng tôi đã nghe về vụ án mạng. Tôi nghĩ các anh đã bắt được người chịu trách nhiệm.

– Đúng, có thể vậy.

– Tôi hy vọng anh không phiền nếu tôi hỏi, nhưng trước giờ tôi chưa gặp anh.

– Tôi mới đến.

– Anh ở đâu đến?

– Moscow.

– Thuyên chuyển đến đây?

– Đúng.

– Tôi bị điều tới đây ba năm trước, cũng từ Moscow. Chắc chắn anh thất vọng vì phải ở đây?

Leo im lặng.

– Đúng, đừng trả lời. Lúc đầu tôi cũng thất vọng. Tôi có danh tiếng, quen biết, gia đình. Tôi là bạn thân của giáo sư Vovsi. Tôi cảm thấy đến đây giống như một sự giáng chức. Tất nhiên, hóa ra đó lại là một điều may mắn.

Leo nhận ra cái tên – giáo sư Vovsi là một trong những bác sĩ Do Thái hàng đầu bị bắt.

Không hiểu được dòng suy nghĩ của người đồng hành, Tyapkin vui vẻ nói tiếp:

– Tôi đã lo mình bị chuyển về một bệnh xá nông thôn. Nhưng 379 đã trở thành chỗ đáng thèm muốn của vùng này. Có lẽ quá thành công. Nhiều người lao động trong nhà máy thích ở một đêm trên những chiếc giường sạch sẽ, có phòng vệ sinh trong nhà và vòi nước hơn là ở nhà họ. Chúng tôi biết tỏng rằng không phải ai cũng ốm như họ kêu. Giải pháp duy nhất là có nhân viên MGB canh gác bệnh viện. Chẳng phải chúng tôi không thông cảm với công nhân nhà máy. Chúng tôi đã xem nhà của họ. Nhưng nếu năng suất chung giảm xuống do tình hình ốm đau thì chúng tôi lại bị buộc tội tắc trách. Giữ sức khỏe cho mọi người trở thành vấn đề sống còn không chỉ cho bệnh nhân mà cho cả những bác sĩ chúng tôi nữa.

– Tôi hiểu.

– Anh từng làm dân quân ở Moscow?

Leo có nên thừa nhận gã là nhân viên MGB hay nói dối và giả vờ gã chỉ là dân quân? Một lời nói dối sẽ dễ dàng hơn. Gã không muốn làm hỏng tâm trạng hay chuyện của ông bác sĩ này. Đúngvậy.

Nhà xác nằm ở tầng hầm, được xây sâu dưới lòng đất, lạnh băng trong suốt mùa đông dài. Do đó, hành lang lạnh tự nhiên. Tyapkin dẫn Leo đến một phòng lớn có sàn lát gạch và trần thấp. Một bên có một cái bể to hình chữ nhật, như một bể bơi nhỏ. Đầu kia căn phòng là cánh cửa thép dẫn vào nhà xác.

– Trừ phi người thân có thể sắp xếp, nếu không chúng tôi sẽ thiêu xác trong vòng mười hai tiếng. Bệnh nhân lao bị thiêu trong vòng một tiếng. Chúng tôi không có nhu cầu kho trữ nhiều lắm. Chờ ở đây, tôi sẽ quay lại.

Bác sĩ mở cánh cửa thép và đi vào nhà xác. Trong khi chờ, Leo đi lại chỗ bể, nhìn qua thành. Trong bể chứa thứ chất lỏng sền sệt, tối đen. Gã không thể thấy gì ngoại trừ bóng của mình. Bề mặt lặng yên, đen ngòm, mặc dù nhìn những vết bẩn trên thành bê tông, gã có thể thấy màu cam sẫm. Trên thành có một cái móc, cái gậy kim loại dài với một đầu bẻ cong. Gã cầm nó lên, ngập ngừng thọc qua bề mặt. Như xi rô, nó vỡ ra rồi kết lại, phẳng lì trở lại. Leo nhúng cái móc sâu hơn, lần này cảm thấy gì đó động đậy – cái gì đó nằng nặng. Gã nhấn mạnh hơn. Tyapkin ra khỏi nhà xác đẩy theo một băng ca:

– Những xác kia sẽ được ướp đá và chuyển đến Sverdlovsk để mổ xẻ. Ở đó họ có trường y. Tôi đã tìm thấy cô bé cho anh.

Larisa Petrova nằm ngửa. Da cô bé tái nhợt, nhằng nhịt mạch máu xanh nhỏ như mạng nhện. Tóc cô bé màu vàng. Một mảng lớn tóc bị cắt không đều: phần tóc Varlam đã lấy. Miệng cô bé không còn đất nữa – đã bị lấy đi – nhưng hàm vẫn há ra, cứng trong tư thế cũ. Răng và lưỡi rất bẩn, vẫn dính màu nâu do đất bị nhét vào còn sót lại.

– Có đất trong miệng cô bé.

– Vậy sao? Tôi xin lỗi, đây là lần đầu tôi nhìn thấy xác.

– Miệng cô bé bị nhét đất.

– Có lẽ bác sĩ đã lấy ra để khám nghiệm cổ họng.

– Nó không được giữ lại sao?

– Tôi nghĩ ít khả năng lắm.

Mắt cô bé mở to. Mắt màu xanh. Có lẽ mẹ cô bé bị chuyển đến từ một thành phố gần biên giới Phần Lan, một vùng ở Baltic. Nhớ lại điều mê tín rằng khuôn mặt kẻ sát nhân bị chụp lại trong mắt nạn nhân, Leo cúi gần hơn, xem xét đôi mắt xanh của cô bé. Bỗng nhiên thấy ngượng, gã đứng thẳng lên. Tyapkin mỉm cười:

– Tất cả chúng tôi đã xem – các bác sĩ cũng như các điều tra viên. Sẽ chẳng sao nếu lý trí bảo với chúng ta rằng không có gì trong đó; chúng ta chỉ muốn chắc chắn. Tất nhiên điều đó sẽ khiến công việc của anh dễ dàng hơn rất nhiều nếu đúng như vậy.

– Nếu đúng thì những kẻ giết người sẽ luôn móc mắt nạn nhân.

Trước đây chưa bao giờ gã khám xét một xác chết, ít ra là về mặt pháp y, Leo không biết phải làm gì tiếp. Trong suy nghĩ của gã, phanh thây là chuyện điên rồ đến mức nó chỉ có thể là sản phẩm của kẻ mất trí. Thân trên cô bé bị xé toang. Gã thấy đủ rồi. Varlam Babinich thật quá phù hợp. Hẳn nó đã mang theo đất vì lý do nào đó không thể hiểu được.

Leo đã sẵn sàng quay đi, nhưng Tyapkin, vì đã xuống tận tầng hầm rồi, dường như không vội gì. Anh ta cúi xuống sát hơn, nhìn chằm vào cái dường như không gì khác hơn là một đống hổ lốn thịt và mô. Dùng đầu bút chọc vào phần cơ hoành bị cắt nham nhở, kiểm tra vết thương:

– Anh có thể cho tôi biết báo cáo nói gì không?

Leo lôi tờ ghi chép ra và đọc to. Tyapkin tiếp tục kiểm tra:

– Nó đã không nói được là dạ dày của cô bé bị mất. Nó bị cắt ra, từ thực quản.

– Cắt chính xác ra sao, ý tôi là theo góc độ…

– Ý anh là một bác sĩ có làm việc này không à?

Tay bác sĩ mỉm cười, nhận xét:

– Có thể, nhưng vết cắt lởm chởm, không phải phẫu thuật. Không khéo léo lắm. Mặc dù tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu đây là lần đầu họ dùng dao, ít nhất là để cắt thịt, vết cắt không phải khéo lắm, nhưng rất tự tin. Nó là có chủ ý hẳn hoi, không phải ngẫu nhiên.

– Đây có lẽ không phải đứa bé đầu tiên mà hắn giết?

– Tôi ngạc nhiên đấy.

Leo sờ trán và thấy rằng dù đang lạnh nhưng gã đang đổ mồ hôi. Làm sao hai cái chết – con trai của Fyodor và cô bé này – lại liên quan với nhau được?

– Dạ dày cô bé lớn thế nào?

Ở vùng thân trên cô bé, Tyapkin dùng bút khoanh một vòng hình dạ dày cô bé. Anh ta hỏi:

– Không tìm thấy ở gần đó sao?

– Không.

Có thể bị bỏ qua trong khi tìm kiếm, điều này ít có khả năng, hoặc nó đã bị kẻ giết người lấy đi.

Leo vẫn yên lặng một lúc, rồi hỏi:

– Cô bé có bị hiếp không?

Tyapkin kiểm tra âm đạo:

– Cô bé không còn trinh.

– Nhưng thế không có nghĩa cô bé bị hiếp.

– Cô bé có quan hệ tình dục trước đó?

– Tôi nghe nói vậy.

– Không có tổn thương ở bộ phận sinh dục. Không vết thâm, không vết rách. Cũng lưu ý rằng các vết thương không nhằm vào bộ phận sinh dục. Không có vết cắt ở ngực hay trên mặt. Kẻ làm điều này quan tâm đến khoảng hẹp dưới lồng ngực và phía trên âm đạo, là phần bụng – bộ phận tiêu hóa. Trông khá man rợ nhưng thực sự có chủ ý.

Leo đã vội vã kết luận rằng đây là một vụ tấn công điên rồ. Máu và sự phanh thây nói lên sự hỗn độn trong đầu hắn. Nhưng không phải như vậy. Nó có trật tự, chính xác và được lập kế hoạch.

– Các anh có đánh dấu người chết khi xác được mang về đây – vì mục đích xác minh danh tính?

– Theo tôi biết thì không.

– Cái gì kia?

Quanh cổ chân cô bé là một vòng dây. Nó bị buộc chặt và một đoạn ngắn thõng xuống băng ca. Trông như vòng chân của kẻ ăn xin. Có vết thâm do sợi dây siết vào da.

Tyapkin nhìn thấy anh ta trước. Chỉ huy Nesterov đang đứng ở cửa. Không thể nói anh ta đã ở đó bao lâu, nhìn họ. Leo bước xa khỏi cái xác.

– Tôi đến đây để làm quen với thủ tục.

Nesterov nói với Tyapkin:

– Chúng tôi nói chuyện riêng được không?

– Tất nhiên.

Tyapkin liếc nhìn Leo, như thể chúc gã may mắn, trước khi bước đi. Nesterov tiến đến. Bằng một cách thô thiển để đánh lạc hướng, Leo bắt đầu tóm tắt những quan sát mới đây:

– Báo cáo ban đầu không nhắc đến việc dạ dày cô bé bị mất. Chúng ta có một câu hỏi cụ thể đặt ra cho Varlam: tại sao nó cắt dạ dày cô bé ra và nó đã làm gì với cái dạ dày sau đấy?

– Cậu đang làm gì ở Voualsk?

Nesterov đang đứng đối diện với Leo. Giữa họ là xác cô bé:

– Tôi bị thuyên chuyển đến đây.

– Tại sao?

– Tôi không thể nói.

– Tôi nghĩ cậu vẫn là một MGB.

Leo không nói gì. Nesterov tiếp tục:

– Điều đó không giải thích được tại sao cậu quá quan tâm đến vụ án mạng này. Chúng tôi đã thả Mikoyan mà không cáo buộc gì, như chúng tôi đã được chỉ thị.

Leo không biết Mikoyan là ai.

– Phải, tôi hiểu.

– Ông ta không liên quan gì đến cái chết của cô bé này.

Mikoyan hẳn là tên vị quan chức. Ông ta đã được bảo vệ.

Nhưng có phải người đã đánh cô gái điếm cũng là người đã giết cô bé này? Leo không nghĩ vậy. Nesterov tiếp tục:

– Tôi không bắt Varlam vì nó nói điều sai trái. Tôi bắt nó vì nó giết cô bé, vì nó nguy hiểm, và vì thị trấn này an toàn hơn khi nó bị giam giữ.

– Nó không làm chuyện đó.

Nesterov gãi mặt:

– Cho dù cậu được cử đến đây làm gì thì cũng nên nhớ là cậu không còn ở Moscow nữa. Ở đây, chúng ta có một dàn xếp. Người của tôi được an toàn. Chưa ai trong số họ bị bắt và sẽ không bao giờ bị bắt. Nếu cậu làm bất cứ điều gì nguy hại cho đội của tôi, nếu cậu báo cáo bất cứ điều gì ảnh hưởng đến quyền lực của tôi, nếu cậu không tuân lệnh, nếu cậu làm sai lệch cáo trạng, nếu cậu mô tả nhân viên của tôi là thiếu năng lực, nếu cậu có bất cứ tố cáo nào liên quan đến người của tôi: nếu cậu làm bất cứ gì trong những điều này, tôi sẽ không buông tha cho cậu.

Chương 32

20 tháng ba

Raisa sờ vào khung cửa sổ. Những đinh ốc đóng vào để khóa chặt cửa sổ phòng ngủ đã bị cạy ra hết. Cô quay lại, đi về phía cửa và mở ra. Trong hành lang, cô có thể nghe tiềng ồn ở quán bên dưới nhưng không thấy Basarov đâu. Đã chiều tối, thời điểm bận rộn nhất của hắn. Đóng cửa và khóa lại, Raisa quay về cửa sổ, mở ra và nhìn xuống. Ngay bên dưới là phần mái nghiêng của nhà bếp. Tuyết bị xáo trộn nơi Leo đã trèo xuống. Cô nổi đóa. Sau khi đã thoát chết trong chân tơ kẽ tóc, giờ gã lại đánh cược với tính mạng của cả hai người.

Hôm nay là ngày thứ hai của Raisa ở Trường Trung học 151. Hiệu trưởng, Vitali Kozlovich Kapler, một người trạc cuối tứ tuần, đã hết sức vui mừng khi Raisa gia nhập đội ngũ giáo viên bởi cô sẽ đảm trách nhiều giờ dạy của anh ta, cho phép anh ta, như anh ta nói, làm kịp mấy công việc hành chính của mình. Liệu việc cô đến đây có thực sự giải phóng cho anh ta để làm những việc khác không, hay chỉ cho anh ta làm việc ít hơn, Raisa không thể biết chắc. Theo những ấn tượng ban đầu, anh ta dường như là người thích các công việc giấy má hơn là giảng dạy. Nhưng cô hết sức hạnh phúc khi được làm việc ngay. Học sinh từ đủ thành phần xuất thân khác nhau, những gia đình tới đây từ mọi miền đất nước – kinh nghiệm chung của chúng đối lập nhau một trời một vực. Điều đó cũng đúng với những giáo viên. Hầu hết các giáo viên bị chuyển về Voualsk từ mọi miền khác nhau. Cũng trải qua biến động tương tự như cô vừa mới trải qua, họ đối xử với cô khá tốt. Họ cũng nghi ngờ cô, tất nhiên rồi. Cô là ai? Tại sao cô ở đây? Cô có đúng như vẻ bề ngoài không? Nhưng cô không bận tâm, đây là những câu hỏi mà mọi người đều hỏi về nhau. Lần đầu kể từ khi đến thị trấn này, Raisa có thể tưởng tượng tạo lập một cuộc sống ở đây.

Cô nấn ná ở lại trường cho đến tối muộn, để đọc tài liệu, chuẩn bị bài giảng. Trường 151 dễ chịu hơn nhiều so với căn phòng ầm ĩ phía trên cửa hàng hôi hám. Điều kiện tồi tàn ấy có dụng đích là một hình phạt, và trong khi nó khiến Leo khó chịu thì nó lại là thứ vũ khí vô hại đối với cô. Trên tất cả mọi điều, cô có khả năng thích nghi siêu việt. Cô không quyến luyến những tòa nhà hay thành phố hay vật sở hữu. Những tình cảm ấy đã bị tước đi trong con người cô, đã bị gột sạch vào cái ngày cô chứng kiến sự tàn phá ngôi nhà thời thơ ấu. Trong năm đầu tiên chiến tranh, lúc mười bảy tuổi, cô đi tìm thức ăn ở trong rừng, nấm ở túi này, quả mọng ở túi bên kia, rồi những quả bom rơi xuống. Chúng không đánh xuống gần cô, mà ở rất xa. Leo lên cây cao nhất, cảm thấy sức rung chuyển qua thân cây, cô đứng trên một cành cao, như một chú chim, nhìn về ngôi làng cách xa vài ki lô mét đã biến thành khói bụi, một thị trấn thực sự hất tung lên bầu trời. Chân trời biến mất đằng sau làn khói nhân tạo, bị phá hủy từ mặt đất. Sự tàn phá quá nhanh chóng, quá mênh mông, quá triệt để đến mức cô không cảm thấy một chút hy vọng nhỏ nhoi về gia đình mình. Sau khi bom đã ngừng ném, cô trèo xuống và xuyên rừng quay về trong tình trạng sững sờ, túi bên phải nhỏ những giọt nước quả mọng giập nát.

Bước lùi khỏi cửa sổ, Raisa đang cố giữ bình tĩnh. Leo đã cầu xin cô ở lại với gã, nói chi tiết những rủi ro khi bỏ đi. Cô đồng ý không vì lý do nào khác ngoài việc đây là cơ may tốt nhất của cô, không nhiều nhặn gì, nhưng vẫn cứ là cơ may tốt nhất. Và bây giờ gã đang gây nguy hiểm cho cơ hội thứ hai của họ. Nếu họ sống sót được trong thị trấn mới này, họ phải giữ kín đáo, không làm gì bất thường – không nói gì và không gây hấn với ai. Họ chắc chắn đang chịu sự giám sát. Basarov rất có thể là chỉ điểm. Vasili hầu như có thể có mật vụ trong thị trấn theo dõi họ, chỉ chờ có lý do để đi xa hơn, nâng mức hình phạt của họ từ lưu đày sang tử hình.

Raisa tắt đèn. Trong bóng đêm, cô đứng nhìn qua cửa sổ. Cô không thấy ai bên ngoài. Nếu có mật vụ đang theo dõi họ, chắc chắn bọn chúng phải ở dưới nhà. Có lẽ đó là lý do cửa sổ bị đóng chặt. Cô phải nhớ nhắc Leo mang mấy con đinh ốc về lại để thay. Basarov có thể sẽ kiểm tra cửa sổ khi họ đi làm. Cô đeo găng tay và mặc áo khoác vào, rồi trèo ra cửa sổ, hạ thấp người sát xuống mái nhà băng phủ, cố không gây tiếng động. Cô đóng cửa sổ lại và leo xuống đất. Cô đã bắt Leo phải hứa một điều kiện họ ngang hàng như chưa bao giờ là những người ngang hàng trước đó. Thế mà gã đã nuốt lời rồi. Nếu gã nghĩ rằng cô sẽ âm thầm ủng hộ gã – một người vợ vâng lời và khuyến khích chồng trong khi gã gây nguy hiểm cho tính mạng của cô vì lý do cá nhân của gã, thì gã đã nhầm.

Chương 33

Cùng ngày

Một khu vực với bán kính gần năm trăm mét tính từ nơi thấy xác Larisa đã được lục soát trong cuộc điều tra chính thức. Mặc dù không có kinh nghiệm về điều tra án mạng, nhưng Leo thấy hình như một phạm vi như vậy là nhỏ. Không phát hiện được gì ngoại trừ quần áo cô bé, vứt cách cái xác chừng bốn mươi bước chân, sâu vào trong rừng. Tại sao quần áo – áo sơ mi, váy, mũ, áo khoác, và găng tay – lại được chất thành đống gọn gàng cách xa cô bé như vậy? Quần áo không có vết máu, chúng không có dấu dao, không vết rạch hay cắt. Larisa Petrova bị lột bỏ quần áo hay tự cô bé làm điều đó. Có lẽ cô bé cố chạy trốn, đến bìa rừng, để rồi bị bắt trước khi đến chỗ rừng thưa. Nếu đúng như vậy, cô bé chạy mà không mặc gì. Kẻ giết người hẳn đã thuyết phục cô bé đi theo hắn, có lẽ đòi mua dâm. Khi trốn khá sâu trong rừng, lúc cô bé cởi quần áo ra, hắn ta mới tấn công. Nhưng Leo thấy khó mà áp dụng logic cho vụ tội phạm này. Chi tiết khó hiểu – đất, cắt bỏ dạ dày, sợi dây – thật xa lạ với gã, nhưng đồng thời gã không thể thôi nghĩ về nó.

Ít có khả năng tìm được bất cứ điều gì mới liên quan đến cái chết của Larisa, ngay cả khi đã tính đến sự thiếu năng lực và việc bỏ sót của nhóm điều tra trước. Do đó Leo đang ở trong tình thế mâu thuẫn khi thấy cần phải tìm cái xác thứ hai. Vào mùa đông, khu rừng hoang vắng, một cái xác có thể nằm đó hàng tháng, được gìn giữ như xác của Larisa. Leo có lý do tin rằng cô bé không phải nạn nhân đầu tiên. Ông bác sĩ đã cho rằng kẻ giết người biết hắn muốn gì, một năng lực và một sự tự tin có được từ thực hành. Cách thức đó gợi ý một sự thường xuyên, một sự thường xuyên gợi ý một chuỗi hành động. Và nữa, tất nhiên, có cái chết của Arkady – một sự việc vẫn đọng lại trong Leo lúc này.

Tìm kiếm nhờ ánh trăng và kín đáo dùng đèn pin, tính mạng của Leo phụ thuộc vào việc không bị phát giác. Gã tin hoàn toàn vào lời đe dọa của tay chỉ huy. Tuy nhiên, nhu cầu giữ bí mật của gã gặp trở ngại khi người thanh niên làm việc ở nhà ga, Aleksandr, thấy gã đi vào rừng. Anh ta đã gọi và Leo, không thể nghĩ ra lời nói dối hợp lý nào, đành phải nói thật, rằng gã đang thu thập bằng chứng liên quan đến cái chết của cô bé. Rồi gã bảo Aleksandr đừng nói với ai, rằng điều đó sẽ phá hỏng việc điều tra. Aleksandr đồng ý và chúc gã may mắn, rồi anh ta nhận định rằng anh ta vẫn luôn cho rằng kẻ giết người đang đi trên một chuyến tàu. Nếu không thì tại sao cái xác lại gần nhà ga như vậy? Ai đó sống trong thị trấn phải biết rõ hơn về những nơi hẻo lánh trong rừng. Leo đồng ý rằng vị trí là một gợi ý, gã tự nhắc mình ghi nhớ để kiểm tra lại anh ta. Mặc dù anh ta dường như khá tử tế nhưng vẻ vô tội thì không đáng tin cậy mấy, mặc dù, Leo ngẫm nghĩ, sự vô tội cũng chẳng đáng tin cậy hơn.

Sử dụng bản đồ lấy trộm ở văn phòng dân quân, Leo đã chia khu rừng xung quanh nhà ga thành bốn vùng. Gã không tìm thấy gì ở vùng đầu tiên, là nơi xác nạn nhân được phát hiện. Nhiều chỗ đất bị giẫm đạp dưới hàng trăm gót ủng. Thậm chí vết tuyết dính máu cũng không còn, mà bị mất đi, chắc chắn trong nỗ lực nhằm xóa mọi dấu vết của tội ác này. Như Leo có thể đoán, ba khu vực còn lại chưa được tìm kiếm: tuyết chưa bị động vào. Gã phải mất chừng một tiếng để tìm kiếm vùng thứ hai, lúc đó những ngón tay gã tê cứng vì lạnh. Tuy nhiên, lợi thế của tuyết là gã có thể đi khá nhanh, quét một vùng đất khá rộng để tìm dấu chân, dùng vết chân của gã để đánh dấu những phần gã đã đi qua.

Sau khi kết thúc vùng thứ ba, gã dừng lại. Gã nghe thấy bước chân – tiếng lạo xạo của tuyết. Gã tắt đèn pin, gã đến sau gốc cây, khom xuống. Nhưng gã không thể trốn được, người kia dường như đang theo dấu chân gã. Gã có nên chạy không? Đó là cơ hội duy nhất của gã.

– Leo?

Gã đứng lên, bật đèn. Là Raisa.

Leo hạ ánh đèn tránh mặt cô.

– Em có bị theo dõi không?

– Không.

– Sao em ở đây?

– Tôi ở đây để hỏi anh câu đó.

– Anh nói rồi. Một cô bé bị giết, người ta đã bắt được kẻ bị tình nghi nhưng anh không nghĩ…

Raisa cắt ngang, hết kiên nhẫn và cộc lốc:

– Anh không nghĩ nó có tội?

– Đúng.

– Từ bao giờ chuyện đó lại quan trọng với anh?

– Raisa, anh chỉ cố…

– Leo, dừng lại, vì tôi không nghĩ tôi có thể chịu nổi việc anh nói rằng anh được ý thức công lý thúc đẩy. Chuyện này sẽ kết thúc tồi tệ, và khi nó kết thúc tồi tệ cho anh, nó cũng kết thúc tồi tệ cho cả tôi.

– Em muốn anh không làm gì ư?

Raisa trở nên tức giận:

– Tôi phải tuân phục cái cuộc điều tra cá nhân này của anh sao? Có đầy người vô tội bị kết tội oan ức, bị bỏ tù và đang chết dần và tôi không thể làm gì ngoài việc cố không trở thành một trong số họ.

– Em tin rằng cứ cúi mặt xuống, không làm gì sai, cách đó sẽ bảo vệ ta sao? Trước đây em không làm gì sai, nhưng họ muốn xử tử em là kẻ phản bội. Không làm gì không bảo đảm được rằng ta sẽ không bị bắt – anh đã học được bài học đó.

– Nhưng anh như một đứa trẻ có một dữ kiện mới. Mọi người đều biết không có sự bảo đảm nào. Đó là rủi ro. Và đây là rủi ro không thể chấp nhận được. Anh nghĩ nếu anh có thể bắt một người thực sự có tội thì tất cả những người đàn ông đàn bà vô tội mà anh đã bắt sẽ bị xóa mờ đi sao? Đây không phải là chuyện cô bé, mà là về anh.

– Em ghét anh khi anh phục tùng. Em ghét anh khi anh làm điều đúng đắn.

Leo tắt đèn. Gã không muốn cô thấy gã thất vọng. Tất nhiên, cô nói đúng, mọi điều cô nói đều đúng. Số mệnh của họ gắn liền với nhau; gã không có quyền dấn thân vào cuộc điều tra này mà không được sự đồng ý của cô. Và gã không đủ tư cách tranh luận đạo đức.

– Raisa, anh không tin bọn họ sẽ để ta yên. Anh đoán bọn họ sẽ chờ vài tháng, có lẽ một năm, từ lúc ta đến đây tới lúc anh bị bắt.

– Anh không biết điều đó.

– Bọn họ không để mọi người được yên. Có lẽ bọn họ cần tạo một vụ án chống lại anh. Có lẽ bọn họ chỉ muốn anh chết mòn trong tăm tối trước khi hạ gục anh. Nhưng anh không có nhiều thời gian. Và đây là cách anh muốn dùng thời gian ấy, cố gắng tìm ra kẻ đã làm điều này. Hắn phải bị bắt. Anh rất hiểu điều đó không giúp gì em. Tuy nhiên, có một cách để em sống sót. Ngay trước khi anh bị bắt, họ sẽ tăng cường giám sát. Lúc đó, em nên đi tim họ, cho họ biết vài chuyện về anh, hay tỏ ra đang phản bội anh.

– Thế tôi phải làm gì từ giờ đến lúc đó? Ngồi trong căn phòng kia và đợi ư? Nói dối cho anh ư? Che giấu cho anh ư?

– Anh xin lỗi.

Raisa lắc đầu, quay bước về thị trấn. Còn lại một mình, Leo bật đèn lên. Năng lượng của gã đã cạn kiệt, cử động uể oải – những ý nghĩ của gã không tập trung vào vụ án nữa. Đây chẳng là gì hết ngoài sự liều mạng ích kỷ, vô bổ sao? Gã chưa đi quá xa thì lại nghe thấy tiếng chân trên tuyết. Raisa quay lại:

– Anh có chắc kẻ này giết người trước đây?

– Anh chắc. Và nếu ta tìm thấy một nạn nhân khác thì vụ án sẽ mở lại. Bằng chứng chống lại Varlam Babinich liên quan cụ thể đến cô bé này. Nếu có một vụ án mạng thứ hai, vụ án chống lại cậu bé sẽ không còn nữa.

– Anh nói cậu bé Varlam này có vấn đề về hiểu biết. Nghe như một người hoàn hảo để gán cho bất cứ tội nào. Có lẽ họ sẽ cáo buộc nó vì cả hai vụ giết người.

– Em nói đúng. Đó là một nguy cơ. Nhưng cái xác thứ hai là cơ hội duy nhất anh có để mở lại vụ này.

– Vậy, nếu ta tìm được cái xác khác, anh sẽ có một cuộc điều tra. Nếu không tìm được, nếu ta không tìm thấy gì hết, anh có hứa buông xuôi chuyện này.

– Đồng ý.

– Được rồi. Anh đi trước.

Lúng túng, không chắc chắn, họ bước đi, vào sâu trong rừng. Sau gần ba mươi phút, cả hai người bước cạnh nhau, Raisa chỉ phía trước, cắt ngang đường đi của họ là hai loạt dấu chân, một của người lớn và một của trẻ con, bên cạnh nhau. Không có dấu hiệu bị xáo trộn nào cả. Đứa trẻ không bị kéo đi. Dấu ủng của người lớn to và sâu. Hắn ta cao và nặng người. Dấu chân đứa trẻ mờ nhạt. Đứa trẻ còn bé.

Raisa quay sang Leo:

– Mấy dấu này ắt kéo dài hàng dặm, đến thẳng một ngôi làng nông thôn nào đó.

– Có thể lắm.

Cô hiểu ra. Leo định theo dấu đến cùng.

Họ đã đi được một lúc, theo dấu chân, không thấy có dấu hiệu khác lạ nào hết. Leo bắt đầu tự hỏi liệu Raisa có đúng không. Có lẽ có một lời giải thích vô tội. Bỗng nhiên gã dừng bước. Phía trước, một vùng tuyết bị san bằng, như thể ai đó nằm xuống. Leo bước lên. Dấu chân bắt đầu bị nhòe đi, như có một cuộc giằng co. Người lớn bước đi khỏi chỗ nhòe vết, trong khi dấu của đứa trẻ mờ dần theo hướng ngược lại, dấu chân của họ bước đi không đều, chệch choạc – đứa trẻ đang chạy. Từ những gì trên tuyết, rõ ràng đứa trẻ bị ngã; chỉ có một dấu tay. Nhưng đứa trẻ đứng lên và tiếp tục chạy trước khi lại ngã tiếp. Một lần nữa đứa trẻ giãy giụa trên đất, mặc dù không thể biết được họ đang vật lộn với ai hoặc với cái gì. Không có dấu chân khác. Cho dù chuyện gì xảy ra ở đây, đứa trẻ vẫn đứng dậy được, tiếp tục chạy. Có thể đọc thấy trên tuyết sự tuyệt vọng. Tuy nhiên, dấu chân người lớn không thấy đâu nữa. Rồi, cách vài mét phía trước, nó lại xuất hiện. Dấu ủng sâu xuất hiện sau những gốc cây. Nhưng có gì thật lạ – người lớn chạy theo đường dích dắc, bên này rồi bên kia, hướng một cách thiếu chính xác về vị trí của đứa bé. Không thể hiểu nổi. Sau khi đi xa đứa trẻ, người đàn ông lại đổi ý và loạng choạng quay lại. Xét từ góc của dấu chân, người lớn này đã bắt kịp ở cây tiếp theo.

Raisa dừng lại, nhìn chằm vào điểm phía trước khi các dấu vết sẽ phải gặp nhau. Leo vỗ lên vai cô:

– Ở yên đây.

Leo tiến lên, bước ra sau cây. Gã thấy trước hết là tuyết dính máu, rồi đôi chân trần, rồi thân trên bị cắt nhiều chỗ. Là một cậu bé, có lẽ không quá mười ba mười bốn tuổi. Cậu bé người nhỏ, nhẹ. Cũng như cô bé nằm ngửa, cậu bé này cũng vậy, nhìn chằm lên trời. Có gì đó trong miệng. Nhìn liếc Leo thấy có gì động đậy. Gã quay lại thì thấy Raisa đứng đằng sau, nhìn chằm chằm xuống thi thể đứa bé:

– Em có sao không?

Raisa từ từ giơ tay che miệng. Cô khẽ gật đầu.

Leo quỳ xuống bên cạnh đứa bé. Có dây buộc quanh cổ chân nó. Sợi dây đã bị cắt: chỉ một đoạn ngắn thò ra trên tuyết.

Da cậu bé đỏ ửng nơi sợi dây cọ xát, cắt vào da thịt. Leo lấy can đảm, quay sang nhìn khuôn mặt cậu bé. Miệng bị nhét đất.

Nó khiến cậu bé trông như đang gào thét. Không giống Larisa, không có lớp tuyết nào trên người cậu bé. Cậu bé bị giết sau cô bé, có lẽ trong khoảng vài tuần qua. Leo cúi tới trước, đưa tay đến gần miệng cậu bé và lấy một nhúm đất đen. Gã vò chúng trong ngón tay. Nó thô và cứng. Thớ không như đất. Có những mẩu gỗ lớn, xù xì. Dưới sức ép ngón tay gã, những mẩu vụn vỡ ra. Không phải đất. Đó là vỏ cây.

Khoảng ba mươi sáu tiếng sau khi gã và Raisa phát hiện ra xác đứa bé, Leo vẫn chưa báo cáo phát hiện này. Raisa nói đúng. Thay vì mở lại vụ án, vụ giết người thứ hai này có thể bị vu cho Varlam Babinich. Nó không có ý thức tự vệ, nó dễ nghe theo gợi ý – cứ thì thầm gì đó vào tai nó là nó sẽ làm theo. Nó đúng là giải pháp thuận lợi và nhanh chóng cho hai vụ giết người kinh hoàng. Tại sao phải tìm một kẻ khả nghi thứ hai khi đã có một người bị bắt giữ? Khó có khả năng Babinich có chứng cứ ngoại phạm, xét rằng những nhân viên làm trong internat sẽ không nhớ nổi các hoạt động của nó hoặc không sẵn sàng làm chứng cho nó. Cáo buộc hầu như sẽ vọt từ một vụ giết người thành hai.

Leo không thể chỉ đơn giản thông báo đã phát hiện thấy xác của đứa bé. Trước hết gã phải chứng minh Varlam Babinich không biết gì về chuyện này. Đó là cách duy nhất để cứu nó: đánh đổ những cáo buộc đối với nghi can chính của dân quân – nghi can duy nhất của họ. Tuy nhiên, đây lại đúng là điều Nesterov đã cảnh báo Leo không được làm. Nó có nghĩa một vụ án hình sự sẽ được mở ra mà không có nghi can nào: một vụ án hình sự chống lại những người chưa biết. Vấn đề càng trầm trọng hơn bởi việc Babinich đã thú nhận. Các nhân viên MGB địa phương hầu như chắc chắn sẽ tham gia vào nếu họ biết lời thú tội bị dân quân nghi ngờ. Lời thú tội là nền tảng của hệ thống tư pháp và tính bất khả xâm phạm của nó cần được bảo vệ bằng mọi giá. Nếu có ai khác phát hiện ra cái xác thứ hai trước khi Leo chứng minh sự vô can của Babinich, người ta có thể quyết định rằng sẽ dễ dàng hơn, đơn giản hơn và an toàn hơn cho mọi người liên quan bằng cách sửa đổi lời thú tội và mớm cung cho nghi can những chi tiết cần thiết – một cậu bé mười ba tuổi bị đâm trong rừng, phía bên kia đường ray, cách đây vài tuần. Giải pháp này thật gọn gàng, hiệu quả và không làm ai thất vọng, thậm chí với cả Babinich, bởi vì có lẽ nó sẽ không thể hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chỉ có một cách đảm bảo rằng tin tức về cái xác thứ hai không lan truyền đi là Leo phải giữ miệng. Khi quay lại nhà ga, gã không báo động hay gọi cấp trên của mình. Gã không trình báo về vụ án mạng hay dựng hiện trường tội phạm. Gã không làm gì hết. Raisa hoang mang khi gã đề nghị cô không nói gì cả, giải thích rằng sáng hôm sau gã mới tiếp cận Babinich được, thế nghĩa là để cho cái xác vẫn ở trong rừng qua đêm. Nếu cậu bé sẽ có một cơ hội trước công lý, gã không thấy còn lựa chọn nào khác.

Babinich không còn là mối quan tâm của dân quân – nó đã được viện kiểm sát chuyển sang bên luật sư. Một đội sledovatyel đã có lời thú tội giết Larisa Petrova. Leo đã đọc tài liệu. Có những điểm khác nhau giữa lời thú tội dân quân lấy được và lời thú tội do sledovatyel thu được, nhưng chuyện đó cũng chẳng quan trọng mấy: về đại thể chúng giống nhau – cậu ta có tội. Trong bất kỳ trường hợp nào, tài liệu của dân quân không phải là chính thức và sẽ không được viện dẫn ở tòa: công việc của họ chỉ đơn thuần là chỉ ra nghi can khả dĩ nhất. Lúc Leo đề nghị nói chuyện với tù nhân thì cuộc điều tra gần như đã hoàn tất. Họ đã sẵn sàng ra tòa.

Leo buộc phải lập luận rằng nghi can có lẽ đã giết nhiều cô bé nữa và rằng trước khi cậu ta bị mang ra xét xử, dân quân và sledovatyel nên cùng xét hỏi cậu ta để xác định xem còn nạn nhân nào khác nữa không. Nesterov đã thận trọng đồng ý: đấy lẽ ra là điều họ nên làm rồi. Anh ta khăng khăng được tham gia thẩm vấn, điều này rất hợp ý Leo; càng nhiều nhân chứng càng tốt. Với hai sledovatyel và hai dân quân khác có mặt, Babinich đã bác bỏ, nói rằng nó không biết bất cứ nạn nhân nào khác. Sau đó, đội thẩm vấn đã thống nhất rằng không thể nào bị cáo giết thêm ai khác. Theo như họ biết, không còn cô gái tóc vàng nào khác mất tích, là động cơ trong vụ này. Sau khi đạt được thỏa thuận chung là Babinich không thể giết thêm ai khác, Leo giả vờ chưa chắc chắn, nói rằng họ nên tìm kiếm trong rừng để cho chắc, mở rộng phạm vi tìm kiếm ra các khu vực khác trong khu rừng trong chu vi ba mươi phút đi bộ từ thị trấn. Đánh hơi thấy Leo đang có kế hoạch, sự bất an của Nesterov tăng dần. Trong hoàn cảnh bình thường, nếu Leo không có liên hệ với MGB, đề nghị của gã đã bị bác bỏ rồi. Ý nghĩ rằng nhân lực của dân quân phải được sử dụng để tích cực tìm kiếm một tội ác thật là lố bịch. Nhưng dù không tin Leo, Nesterov dường như cũng không dám chống lại đề nghị này, sợ rằng như vậy sẽ quá nguy hiểm vì có thể mệnh lệnh là từ Moscow đưa xuống. Cuộc tìm kiếm đã được sắp đặt diễn ra hôm nay: ba sáu tiếng sau khi Leo và Raisa tìm thấy xác đứa bé.

Trong những giờ qua, ký ức về cậu bé nằm trên tuyết chiếm hết suy nghĩ của Leo. Gã gặp những cơn ác mộng trong đó một cậu bé nằm giữa rừng, trần trụi, bị moi ruột, hỏi tại sao họ bỏ mặc nó:

“Sao cô chú bỏ cháu?”

Cậu bé trong mơ là Arkady – con trai của Fyodor.

Raisa nói với Leo là lúc ở trường cô thấy khó mà tập trung được khi biết rằng có một cậu bé chết trong rừng trong khi mình vẫn giả vờ như không có gì sai trái. Cô cảm thấy cái thôi thúc muốn cảnh báo lũ trẻ, bằng cách nào đó báo động cho cả thị trấn – các bậc cha mẹ không biết gì về mối nguy hiểm này. Không ai báo cáo có một đứa con mất tích. Sổ sách của trường không cho thấy có học sinh nào nghỉ học bất thường. Cậu bé trong rừng là ai? Cô muốn biết tên nó, tìm ra gia đình nó. Điều duy nhất Leo yêu cầu cô là chờ đợi. Mặc dù thấy khó chịu nhưng cô nghe theo ý kiến của gã rằng đó là cách duy nhất để trả tự do cho cậu bé vô tội và bắt đầu một cuộc truy tìm kẻ chịu trách nhiệm. Tính ngờ nghệch trong cách lập luận đó làm cho nó có vẻ hoàn toàn chấp nhận được.

Chương 34

Sau khi huy động công nhân nhà máy gỗ để lập đội tìm kiếm, Nesterov chia họ thành bảy nhóm, mỗi nhóm mười người. Leo được phân vào nhóm tìm kiếm vùng rừng bên cạnh bệnh viện nhà nước 379, đối diện với phần bên kia thị trấn nơi có xác đứa bé. Điều này thật lý tưởng, vì sẽ tốt hơn nếu gã không phải là người phát hiện. Cũng có khả năng rằng sẽ tìm thấy nhiều cái xác nữa. Gã tin rằng những nạn nhân này không phải là đầu tiên.

Mười thành viên của đội Leo chia ra thành hai nhóm ba và một nhóm bốn. Leo đi cùng cấp phó của Nesterov, một người được chỉ thị, chắc chắn, để mắt đến gã. Đi cùng họ là một phụ nữ, công nhân nhà máy. Họ mất gần cả ngày trời mới hoàn tất khu vực tìm kiếm của mình, vài ki lô mét vuông qua những đống tuyết gay go và phải dùng gậy chọc để cho chắc là không có gì bên dưới. Không tìm thấy cái xác nào. Tập trung lại ở bệnh viện, hai đội kia cũng không tìm thấy gì. Vùng rừng này trống tron. Leo nóng lòng muốn biết chuyện xảy ra phía bên kia thị trấn.

* * *

Nesterov đang đứng ở bìa rừng gần nhà bảo trì đường ray được trưng dụng làm trụ sở tạm thời. Leo tiến đến, cố tỏ ra tự nhiên và thờ ơ. Nesterov hỏi:

– Cậu tìm thấy gì không?

– Không có gì.

Và sau một lúc ngừng có tính toán, Leo nói thêm:

– Còn ở đây?

– Không, không có gì, không có gì hết.

Vẻ lạnh lùng thờ ơ của Leo biến mất. Nhận ra phản ứng của mình đang bị theo dõi, gã quay đi, cố nghĩ xem đã có gì sai. Làm sao họ lại có thể không thấy cái xác được? Nó còn đó không? Dấu vết rất rõ ràng. Có khả năng phạm vi tìm kiếm chưa xa đến chỗ cái xác, nhưng hẳn phải xa đến nơi có dấu vết. Đội tìm kiếm có theo dấu vết đến tận cùng không? Nếu họ không có động lực gì, có lẽ họ đã từ bỏ ngay khi dấu vết đi tiếp quá vùng ranh giới khu vực họ được phân công tìm kiếm. Hầu hết các đội đã trở lại: không còn nhiều thời gian trước khi toàn bộ cuộc tìm kiếm chấm dứt mà xác cậu bé vẫn ở trong rừng.

Leo bắt đầu hỏi những người quay về. Hai dân quân, không ai quá mười tám tuổi, là thành viên nhóm tìm kiếm khu vực rừng gần cái xác nhất. Họ thừa nhận có thấy dấu vết, nhưng chúng dường như vô can bởi họ thấy bốn loạt dấu chân thay vì hai: họ cho rằng đó chỉ là một gia đình đang đi dạo. Leo đã sơ suất không tính đến việc gã và Raisa đã thêm vào hai loạt dấu chân song song với những dấu của nạn nhân và kẻ giết người. Cố nén bực tức, gã quên rằng gã không còn thẩm quyền gì và ra lệnh cho hai người quay trở lại rừng để theo dấu vết đến cùng. Hai dân quân kia không nghe. Dấu vết đấy có thể kéo dài đến hàng ki lô mét. Và quan trọng hơn: Leo là ai mà đòi ra lệnh?

Leo không còn cách nào khác đành phải đến chỗ Nesterov, dùng bản đồ để cho thấy là không có ngôi làng nào theo hướng đó, lập luận rằng dấu vết kia là khả nghi. Nhưng Nesterov đồng tình với hai dân quân kia. Sự thật là có bốn loạt dấu chân nên đó không thể là dấu vết được và không đáng để lần theo. Không thể kiềm chế được nỗi thất vọng, Leo nói:

– Tôi sẽ đi một mình.

Nesterov nhìn gã chằm chằm:

– Cả hai chúng ta sẽ đi.

Leo đi theo dấu chân mình sâu vào rừng, đi cùng gã chỉ có Nesterov. Gã muộn mằn nhận ra mình đang gặp nguy, không có vũ khí và một mình cùng với người đang muốn gã phải chết. Nếu gã sắp bị giết thì đây là một chỗ thật tiện. Nesterov dường như bình tĩnh. Anh ta đang hút thuốc.

– Nói đi Leo, chúng ta sẽ thấy gì ở cuối dấu vết này?

– Tôi không biết.

– Nhưng đây là dấu chân của cậu?

Nesterov chỉ dấu chân đằng trước và rồi dấu chân mà Leo vừa mới tạo ra. Chúng y hệt nhau.

– Chúng ta sẽ thấy xác một đứa trẻ.

– Mà cậu đã phát hiện ra?

– Cách đây hai ngày.

– Nhưng cậu không trình báo?

– Tôi muốn chứng minh Varlam Babinich không biết gì về vụ giết người này.

– Cậu lo chúng tôi sẽ buộc tội cậu ta?

– Giờ tôi vẫn lo.

Nesterov có rút súng ra không? Leo chờ đợi. Nesterov hút hết điếu thuốc và tiếp tục bước. Họ không nói gì cho đến khi tới chỗ cái xác. Cậu bé nằm ngay chỗ như Leo nhớ, nằm ngửa, trần truồng, miệng đầy vỏ cây, thân trên bị tàn phá. Leo đứng lui ra, nhìn Nesterov khám xét. Anh ta rất chậm rãi. Leo có thể thấy rằng cấp trên của mình ghê tởm trước tội ác này. Vậy là khá yên tâm.

Cuối cùng, Nesterov đến bên Leo:

– Tôi muốn cậu quay lại, gọi cho viện kiểm sát. Tôi sẽ ở đây canh cái xác. Nhớ ra nghi ngại của Leo, Nesterov nói thêm:

– Rõ ràng là Varlam Babinich không liên quan gì đến vụ giết người này.

– Tôi đồng ý.

– Đây là hai vụ khác nhau.

Leo nhìn trân trân, ngơ ngác trước sự quả quyết này:

– Nhưng những đứa trẻ này do cùng một người giết.

– Một cô bé bị cưỡng hiếp rồi bị giết. Còn một cậu bé bị cưỡng hiếp rồi bị giết. Đây là hai tội phạm khác nhau. Chúng là những hành vi suy đồi khác nhau.

– Nhưng cả hai đều có vỏ, vỏ cây, vỏ cây nghiền nát nhét trong miệng.

– Miệng Larisa bị nhét đất.

– Không đúng.

– Varlam Babinich đã thừa nhận nhét đất vào miệng cô bé.

– Đó là lý do nó không thể giết cô bé – đất đóng băng. Nếu đó là đất thì cậu ta lấy ở đâu? Miệng cô bé bị nhét vỏ cây cũng giống như cậu bé này. Vỏ cây được chuẩn bị từ trước, tôi không biết tại sao.

– Babinich đã thú nhận.

– Cậu ta thú nhận bất kỳ điều gì nếu anh yêu cầu cậu ta nhiều lần.

– Tại sao cậu lại quá chắc là cùng một kẻ giết người? Một đứa trẻ bị giết gần nhà ga: bất cẩn, khinh suất, gần như lồ lộ ra.

Hành khách cũng có thể nghe thấy tiếng thét. Đó là tội ác của một kẻ điên và một kẻ điên đã thú tội. Nhưng đứa trẻ này bị dẫn đi vào rừng chừng một tiếng đi bộ. Có sự thận trọng, để không ai có thể cản trở hắn ta. Đây là một người khác.

– Ai biết chuyện gì xảy ra với cô bé, có lẽ hắn muốn đi sâu vào rừng và cô bé đổi ý nên hắn giết cô bé ở đó. Tại sao cả hai đều có dây buộc ở cổ chân?

– Đây là một tội phạm khác.

– Đừng nói rằng anh muốn truy tố đến mức anh sẽ nói và

– tin bất cứ điều gì.

– Vậy cậu thử nói xem loại người nào lại hiếp một cô bé, rồi giết, và rồi hiếp một cậu bé và giết? Người này là ai? Tôi đã làm trong dân quân hai mươi năm. Tôi chưa bao giờ gặp phải hạng người như thế. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến một người như thế. Cậu có thể cho ví dụ được không?

– Cô bé không bị hiếp.

– Cậu nói đúng. Có một lý do cô bé bị giết – cô bé bị giết vì mái tóc vàng. Cô bé bị giết bởi một kẻ bệnh hoạn. Có một lý do cậu bé này bị giết. Cậu bé bị giết bởi một kẻ khác, với một loại bệnh hoạn khác.

Chương 35

23 tháng ba

Aleksandr đóng cửa phòng vé, hạ rèm xuống và ngả người ra ghế. Mặc dù phòng vé nhỏ, không quá vài mét vuông nhưng anh ta thích ở chỗ nó là của anh ta. Anh ta không chia sẻ nó với ai cũng như không có ai giám sát công việc của anh ta. Anh ta có một thứ tự do, không chịu áp lực về chỉ tiêu, hiệu quả. Chỉ có một nhược điểm khi làm công việc này. Mọi người biết anh ta đều cho rằng anh ta hẳn thất vọng với cuộc sống.

Cách đây năm năm, Aleksandr là người chạy nước rút nhanh nhất ở Trường Trung học 151. Mọi người tin anh ta sẽ đạt thành công ở tầm quốc gia, có lẽ thậm chí ở tầm quốc tế nếu Liên Xô thi đấu ở các kỳ Thế vận hội. Thế mà cuối cùng anh ta lại làm cái công việc nhàn hạ ngồi phòng vé, ngắm nhìn mọi người lên tàu trong những chuyến đi trong khi anh ta không đi đâu cả. Anh ta mất nhiều năm theo đuổi chế độ tập luyện hà khắc, thắng ở các cuộc thi trong vùng. Rồi để làm gì? Những lịch tàu và những chiếc vé: công việc mà ai cũng có thể làm. Anh ta nhớ chính xác khoảnh khắc giấc mơ tan vỡ. Anh và ông bố đã bắt tàu đi Moscow, tham dự cuộc tuyển lựa tại Câu lạc bộ Thể thao Quân đội Trung ương – CSKA – thuộc Bộ Quốc phòng. CSKA nổi tiếng là lựa chọn những vận động viên giỏi nhất trên toàn quốc và đào luyện họ trở thành đặc biệt. Chín mươi phần trăm ứng viên bị loại. Aleksandr đã chạy cho đến khi anh nôn bên lề đường đua. Anh đã chạy nhanh hơn bao giờ hết, vượt qua chính mình. Anh ta không qua nổi cuộc tuyển chọn. Trên chuyến tàu trở về, ông bố đã cố nêu ra điểm tích cực khi bị loại. Nó sẽ thúc đẩy họ tập luyện gian khổ hơn nữa, anh ta chắc chắn sẽ qua được kỳ tuyển chọn năm tới, và anh ta sẽ mạnh mẽ hơn vì đã đấu tranh cho ước mơ của mình. Nhưng Aleksandr đã dồn hết tất cả mà như thế vẫn chưa đủ. Sẽ không có năm sau. Mặc dù ông bố tiếp tục nhấn mạnh nhưng tâm trí Aleksandr đã không đặt vào nó nữa và rồi không lâu sau ông bố cũng vậy. Aleksandr nghỉ học, bắt đầu đi làm, quen với nhịp sống đơn giản.

Lúc anh ta xong việc thì đã tám giờ tối. Anh ta rời phòng vé, khóa cửa lại. Anh không phải đi xa, vì anh sống chung với bố mẹ ở khu nhà phụ phía trên nhà ga. Thực ra mà nói, cha anh ta chịu trách nhiệm ở nhà ga. Tuy nhiên, ông không được khỏe. Không ai trong bệnh viện biết ông bị gì ngoại trừ việc ông bị tăng cân và uống rất nhiều. Mẹ anh còn khỏe, ngoài căn bệnh của chồng ra thì nói chung bà khá vui vẻ. Bà có lý do – họ là một gia đình may mắn. Tiền lương làm việc cho đường sắt nhà nước rất ít ỏi, thế lực khá nhỏ nhoi. Nhưng lợi thế thực sự là chỗ ở. Thay vì phải ở chung với một gia đình khác, họ được toàn quyền sử dụng căn hộ có hệ thống ống nước, nước nóng, và cách nhiệt – còn mới như nhà ga. Đổi lại, họ phải túc trực hai tư giờ mỗi ngày. Có một cái chuông có thể rung lên bất kỳ lúc nào được nối từ nhà ga thẳng đến căn hộ. Nếu có chuyến tàu đêm hay tàu sớm họ phải luôn sẵn sàng. Nhưng những bất tiện nhỏ nhặt này, mà mọi người trong gia đình chia sẻ cùng nhau, còn lâu mới sánh được với sự thoải mái mà họ tận hưởng. Họ có một căn hộ khá lớn cho hai gia đình. Chị của Aleksandr lấy một nhân viên lau dọn làm việc ở nhà máy lắp ráp xe hơi, nơi chị cũng làm việc, và họ đã chuyển đến căn hộ mới trong một khu rất tốt. Họ sắp sinh con đầu lòng. Điều này nghĩa là Aleksandr, hai mươi hai tuổi, không còn phải lo lắng gì. Một ngày nào đó, anh ta sẽ tiếp quản điều hành nhà ga và căn nhà phụ sẽ là của anh ta.

Trong phòng ngủ, anh ta thay bộ đồng phục, mặc lại thường phục, và vào bàn ăn cùng bố mẹ: có món xúp đậu với cá ê phin, rồi bánh kiều mạch nướng. Ông bố ăn một phần nhỏ gan bò nấu chín. Mặc dù rất đắt và rát khó kiếm nhưng gan là món ăn các bác sĩ khuyến nghị. Bố của Aleksandr đang ở chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, gồm cả kiêng rượu, điều mà ông tin sẽ khiến ông trầm trọng thêm. Họ không nói chuyện trong bữa ăn. Ông bố tỏ ra hơi khó ở. Ông hầu như không ăn gì. Sau khi rửa bát đĩa xong, Aleksandr cáo lui: anh ta sẽ đi xem phim. Lúc này ông bố đã đi nằm. Aleksandr hôn chúc ông ngủ ngon, bảo ông đừng lo lắng, anh sẽ thức dậy lo liệu cho chuyến tàu đầu tiên.

Chỉ có một rạp chiếu phim ở Voualsk. Ba năm trước không có cái nào. Một nhà thờ đã biến thành phòng chiếu sáu trăm chỗ ngồi, ở đó có hàng đống phim nhà nước được trình chiếu, đa số các bộ phim người dân thị trấn không xem. Trong đó gồm cả Những chiến binh, Tội lỗi không tội lỗi, Bí mật phản gián, và Gặp nhau ở Elbe, những bộ phim thành công nhất trong mười năm qua, tất cả Aleksandr đều đã xem vài lần. Từ khi rạp chiếu mở cửa, nó đã nhanh chóng trở thành nơi giải trí ưa thích của anh ta. Do đã từng chạy, anh ta không thích uống rượu và anh ta cũng không bặt thiệp lắm. Đến phòng chờ, anh ta nhận thấy phim Nezabyaemy God đang chiếu. Aleksandr mới xem phim này cách đây vài đêm, chưa kể rất nhiều lần trước đó nữa. Aleksandr quyết định không xem phim nữa. Anh ta đi qua phòng chờ. Anh ta không xếp hàng, mà đi thẳng đến công viên.

Ở giữa công viên Chiến Thắng có một tượng đài ba người lính bằng đồng, nắm tay siết chặt vung lên trời, súng khoác trên vai. Theo quy định, công viên đóng cửa vào ban đêm. Nhưng không có hàng rào và quy định chưa bao giờ được tuân thủ. Aleksandr biết đi lối nào: một lối đi cách xa đường chính và hầu như không thấy được, khuất đằng sau cây cối và bụi rậm. Anh ta cảm thấy được nhịp tim đập nhanh háo hức, luôn là như vậy, khi anh ta bước chậm vòng quanh công viên. Dường như đêm nay chỉ có anh ta, và sau vòng thứ hai, anh ta định về nhà.

Phía trước có người. Aleksandr dừng lại. Người đàn ông quay về phía anh ta. Một khoảng ngừng căng thẳng báo rằng cả hai người họ ở đây cùng chung lý do. Aleksandr tiếp tục đi tới và người đàn ông vẫn đứng yên, chờ anh ta theo kịp. Khi đã ở cạnh nhau, cả hai liếc quanh, để chắc rằng chỉ có hai người họ, rồi mới nhìn nhau. Người kia trẻ hơn Aleksandr, có lẽ chỉ mười chín đôi mươi. Anh ta tỏ vẻ ngần ngại và Aleksandr đoán ngay rằng đây là lần đầu tiên của anh ta. Aleksandr phá tan sự im lặng:

– Tôi biết một nơi chúng ta có thể đến.

Người thanh niên nhìn quanh một lần nữa rồi gật đầu, không nói gì. Aleksandr nói tiếp:

– Theo tôi, giữ khoảng cách.

Họ bước đi cách xa nhau. Aleksandr đi trước, cách vài trăm bước chân. Anh ta quay lại nhìn. Người kia vẫn đi theo.

Quay về nhà ga, Aleksandr chắc chắn rằng bố mẹ mình không đứng nơi cửa sổ căn hộ. Không ai nhìn thấy anh ta vào tòa nhà ga chính như thể anh ta sắp bắt chuyến tàu. Anh ta mở cửa phòng vé mà không bật đèn lên, rồi đi vào trong và để mở cửa. Anh ta đẩy chiếc ghế sang bên. Không có nhiều chỗ trống nhưng vừa đủ. Anh ta đợi, xem đồng hồ, tự hỏi sao người kia lâu đến vậy rồi mới nhớ ra rằng mình đi nhanh quá. Cuối cùng, anh nghe tiếng ai đó vào nhà ga. Cánh cửa phòng vé đẩy mở.

Người thanh niên bước vào trong và cả hai người lần đầu tiên nhìn nhau hẳn hoi. Aleksandr bước đến đóng cửa. Tiếng khóa cửa khiến anh ta phấn khích. Thế nghĩa là họ được an toàn. Họ gần như đã chạm vào nhau nhưng không hẳn, không ai dám chắc mình sẽ hành động trước. Aleksandr thích khoảnh khắc này và anh ta đợi cho tới khi hết chịu được nữa rồi mới cúi xuống hôn người kia.

Ai đó đập thình thình lên cửa. Aleksandr thoạt đầu nghĩ hẳn là bố anh ta – hẳn ông đã nhìn thấy, hẳn ông đã biết ngay từ đầu.

Nhưng rồi anh ta nhận ra tiếng đập cửa không phải từ bên ngoài.

Người thanh niên này đang đấm thình thịch lên cửa, gọi với ra.

Anh ta đã đổi ý chăng? Anh ta đang báo cho ai? Aleksandr bối rối. Anh ta nghe thấy tiếng nói ngoài văn phòng. Người thanh niên không còn vẻ ngoan ngoãn và lo lắng nữa. Đã có sự thay đổi. Anh ta tức giận, kinh tởm. Anh ta nhổ nước bọt vào mặt Aleksandr. Đống nước dãi dính vào má anh ta. Aleksandr quệt đi. Không biết nghĩ gì, không hiểu chuyện gì đang xảy ra, anh ta đấm người thanh niên, làm người này té xuống sàn.

Núm của kêu cách. Gỉọng nói bên ngoài gọi vào:

– Aleksandr, chỉ huy Nesterov đây, người đang ở với cậu là dân quân. Tôi ra lệnh cho cậu mở cửa. Hoặc là cậu tuân lệnh hoặc tôi sẽ gọi cha mẹ cậu và đưa họ đến đây chứng kiến tôi bắt cậu. Cha cậu đang ốm, đúng không? Cha cậu sẽ chết mất khi phát hiện ra tội của cậu.

Nesterov nói đúng – chuyện này sẽ giết chết ông bố. Aleksandr vội vã cố mở cửa, nhưng căn phòng nhỏ quá, mà thân hình cậu thanh nhiên thì nằm một đống chặn lối. Anh ta phải lôi cậu ta sang bên rồi mới mở khóa và mở cửa được. Ngay khi cửa mở ra, một bàn tay với vào, nắm lấy anh ta và lôi từ phòng vé ra phòng lớn.

Leo nhìn Aleksandr, người đầu tiên gã gặp khi xuống chuyến tàu từ Moscow, người đã kiếm cho gã điếu thuốc, người đã giúp gã tìm kiếm trong rừng. Gã không thể làm gì để giúp anh ta.

Nesterov liếc vào phòng vé, nhìn xuống nhân viên của mình, vẫn choáng váng trên sàn, xấu hổ vì bị áp đảo.

– Lôi cậu ta ra.

Hai nhân viên đi vào và giúp người bị thương lên xe. Chứng kiến điều anh ta đã làm với quân của mình, cấp phó của Nesterov thụi một đấm vào mặt Aleksandr. Trước khi anh ta kịp đánh tiếp, Nesterov đã can:

– Đủ rồi.

Anh ta đi quanh nghi can, cân nhắc lời lẽ:

– Tôi thật thất vọng thấy cậu làm chuyện này: tôi chưa bao giờ nghĩ đó là cậu.

Aleksandr phun máu xuống sàn nhưng không đáp. Nesterov nói tiếp:

– Cho tôi biết tại sao?

– Tại sao ư? Tôi không biết tại sao.

– Cậu đã phạm một tội rất nghiêm trọng. Quan tòa sẽ cho cậu ít nhất năm năm, và ông ta không quan tâm cậu đã nói xin lỗi bao nhiêu lần.

– Tôi chưa nói xin lỗi.

– Can đảm đấy, Aleksandr, nhưng cậu có can đảm như vậy không nếu mọi người biết? Cậu sẽ bị sỉ nhục, bị ghét bỏ. Thậm chí sau năm năm ở tù, cậu sẽ không thể sống hay làm việc ở đây nữa. Cậu mất hết.

Leo bước đến:

– Chỉ hỏi cậu ta thôi.

– Có một cách để tránh được nỗi ô nhục này. Chúng tôi cần danh sách tất cả đàn ông trong thị trấn này có quan hệ tình dục với những đàn ông khác, những đàn ông quan hệ tình dục với những người đàn ông trẻ hơn, những người đàn ông quan hệ tình dục với các cậu bé. Cậu sẽ giúp chúng tôi lập danh sách này.

– Tôi không biết bất kỳ ai khác. Đây là lần đầu tôi…

– Nếu cậu quyết định không giúp thì chúng tôi sẽ bắt cậu, đưa cậu ra tòa, và mời cha mẹ cậu đến tòa. Giờ họ đã chuẩn bị đi ngủ chưa? Tôi có thể cử người đi xem thử, và đưa họ xuống.

– Đừng.

– Hợp tác với chúng tôi thì có lẽ chúng tôi sẽ không cần phải nói gì cho cha mẹ cậu. Hợp tác với chúng tôi rồi thì có lẽ cậu sẽ không phải ra tòa. Có lẽ điều hổ thẹn này được giữ kín.

– Chuyện là thế nào?

– Vụ giết một cậu bé. Cậu sẽ lao động công ích và sửa chữa sai phạm của mình. Cậu có lập danh sách không?

Aleksandr sờ vệt máu nơi miệng:

– Chuyện gì sẽ xảy ra cho những người trong danh sách?

Chương 36

29 tháng ba

Leo ngồi bên mép giường nghĩ ngợi về việc làm sao nỗ lực của gã nhằm mở lại vụ điều tra lại đẩy đến cuộc tàn sát toàn thành phố. Trong tuần qua, dân quân đã lùng bắt một trăm năm mươi người đồng tính. Chỉ riêng hôm nay Leo đã bắt sáu người, đưa con số người gã bắt lên hai mươi. Một số bị bắt tại nơi làm việc, bị còng tay giải đi trước sự chứng kiến của đồng nghiệp.

Những người khác bị bắt tại nhà riêng, căn hộ, bị giải đi khỏi gia đình – vợ họ van xin, tin rằng hẳn có sự nhầm lẫn nào đấy, không thể hiểu được những cáo buộc.

Nesterov có lý do để hài lòng. Khá tình cờ, anh ta tìm ra được một kẻ đáng khinh ghét thứ hai: một nghi can anh ta có thể gọi là giết người mà không làm xáo trộn lý thuyết xã hội. Giờ anh ta có thể tuyên bố rằng họ đang khởi động một cuộc săn lùng kẻ giết người lớn nhất mà dân quân Voualsk từng phát động, một lời tuyên bố có thể khiến anh ta tiêu tan sự nghiệp nếu anh ta không nhằm vào một nhóm thiểu số người không thể tha thứ như vậy. Do thiếu phòng giam, các văn phòng được chuyển thành phòng giam và phòng thẩm vấn tạm thời. Thậm chí với những biện pháp ứng biến này họ vẫn buộc phải nhốt vài người chung một phòng, bảo vệ được chỉ thị rõ phải luôn theo dõi những người này. Nguyên nhân là do lo ngại có những hành vi tình dục lầm lạc tự phát. Không ai biết rõ mình đang đối mặt chuyện gì. Nhưng họ chắc chắn nếu sinh hoạt tình dục như vậy mà diễn ra tại trụ sở dân quân là họ làm tổn hại trụ sở. Nó lẽ ra là một sự lăng mạ nguyên tắc công lý. Bên cạnh sự cẩn mật cao độ này, mọi nhân viên còn được xếp lịch làm việc theo ca mười hai tiếng, tra hỏi những nghi can liên tục, hai mươi tư tiếng mỗi ngày. Leo buộc phải hỏi đi hỏi lại chừng ấy câu hỏi, từ những câu trả lời phải lựa chọn ra điểm bất nhất dù là nhỏ nhoi nhất. Gã đã thực hiện nhiệm vụ này như một người máy vô tri, tin ngay cả trước khi họ bắt một ai rằng những người này vô tộỉ.

Danh sách của Aleksandr bị rà từng người một. Khi lập danh sách này, anh ta giải thích rằng anh ta có thể làm vậy không phải vì anh ta từng chung đụng, ít nhất cũng không tới mức có quan hệ tình dục với chừng một trăm người. Thực tế, nhiều cái tên trong danh sách là những người anh ta chưa bao giờ gặp. Thông tin của anh ta có được là do trò chuyện với chừng mười người mà anh ta đã có quan hệ tình dục. Mỗi người kể lại mối quan hệ của mình với những người khác nên, tựu trung lại, có thể vẽ ra một sơ đồ những mối quan hệ tình dục trong đó mỗi người biết vị trí của mình trong mối tương quan với người khác.

Leo đã nghe lời giải thích này, một thế giới ngầm mở ra, một tồn tại niêm phong kín đáo hình thành trong phạm vi gần như toàn xã hội. Sự nguyên vẹn của những tem niêm phong là thiết yếu. Aleksandr mô tả là những người trong danh sách gặp nhau tình cờ trong những tình huống quen thuộc, đứng xếp hàng mua bánh mì, ăn cùng bàn trong căn tin nhà máy. Trong bối cảnh thường nhật này, việc trò chuyện ngẫu nhiên bị cấm đoán, chỉ được phép nhiều nhất là một cái liếc nhìn, và thậm chí điều đó cũng cần phải ngụy trang. Những quy tắc này được đưa ra không phải do thỏa thuận hay mệnh lệnh, không ai cần phải nói ra, chúng xuất phát từ sự tự vệ.

Ngay khi làn sóng bắt bớ đầu tiên diễn ra, tin tức về vụ thanh trừng hẳn đã lan ra trong toàn cộng đồng của họ. Những điểm gặp gỡ bí mật – không còn bí mật nữa – trở nên vắng vẻ. Nhưng biện pháp đối phó tuyệt vọng này đã vô ích. Đã có cái danh sách. Cái niêm phong quanh thế giới của họ đã bị xé. Nesterov không cần phải bắt người đang làm hành vi tình dục suy đồi. Thấy tên của mình được liệt kê ra, hết người này đến người khác, và nhận ra giới của mình bị vỡ, hầu hết mọi người chịu thua trước sức ép sự phản bội này. Như chiếc tàu ngầm Đức đã nấp dưới mặt nước quá lâu, bỗng dưng họ thấy tất cả vị trí của mình bị tiết lộ. Khi họ buộc phải lộ diện, họ được ban cho một lựa chọn, không nhiều nhặn lắm tuy nhiên cũng là một lựa chọn: họ có thể phản bác buộc tội kê gian và đối mặt với kiểm sát, chắc chắn có bản án, bỏ tù, vân vân. Hoặc họ chỉ mặt kẻ đồng tính chịu trách nhiệm cho tội ác kinh khủng này, tội giết một cậu bé.

Như Leo có thể dám chắc, Nesterov dường như tin rằng tất cả những người này bị một chứng bệnh nào đó. Trong khi vài người bị bệnh theo nghĩa nhẹ nhàng nhất, bị giày vò vì tình cảm dành cho đàn ông khác như một người bình thường bị hành hạ bởi chứng đau đầu kinh niên, những người khác thì lại bị bệnh nghiêm trọng, những triệu chứng biểu hiện dưới dạng nhu cầu với những bé trai. Đây là dạng đồng tính cực đoan nhất. Kẻ giết người là một kẻ như thế.

Khi Leo đưa ra các bức ảnh hiện trường tội phạm, những bức ảnh chụp cậu bé bị phanh bụng, tất cả nghi can đều phản ứng như nhau – họ khiếp sợ, hoặc ít nhất cũng tỏ ra như vậy. Ai có thể làm một điều như vậy? Không phải một trong số họ, không phải bất cứ ai mà họ biết. Không ai trong số họ thích các cậu bé. Nhiều người cũng có con. Mỗi người đều quả quyết: họ không biết kẻ giết người nào trong giới của mình, và họ sẽ không bao che cho hắn ta nếu họ biết. Nesterov những hy vọng sẽ bắt được kẻ bị tình nghi chính trong vòng một tuần. Sau một tuần, họ không có gì để khoe khoang ngoại trừ một danh sách dài ra. Nhiều cái tên được thêm vào, một số chỉ là do thù hằn. Danh sách trở thành một thứ vũ khí hiệu quả thực khủng khiếp. Các dân quân đưa tên kẻ thù của họ vào, cho rằng những người này được nhắc đến trong lời thú tội. Một khi tên đã vào danh sách, thật khó có thể cho là vô tội. Nên số người bị bắt giữ tăng lên từ một trăm tới gần một trăm năm mươi.

Nản lòng vì không có tiến triển, MGB địa phương đã đề nghị để họ tiếp quản việc thẩm vấn, có ám chỉ dùng tra tấn. Trước sự thất vọng của Leo, Nesterov đã đồng ý. Mặc dù sàn nhà lốm đốm những máu nhưng vẫn không có bước đột phá nào. Nesterov không còn lựa chọn nào khác là khởi tố một trăm năm mươi người này, hy vọng việc này sẽ khiến một trong số họ phải nói ra. Ba người đã nản lòng và bắt đầu chỉ điểm. Tuy nhiên, không ai trong số họ nêu ra cùng một người. Không chấp nhận rằng hướng điều tra của mình sai lệch, Nesterov tự cho mình đang đương đầu với một dạng liên minh tội phạm, đồi bại – niềm vinh dự của những kẻ có hành vì lệch lạc.

Leo giận dữ, gã đến gặp cấp trên của mình:

– Những người này vô tội.

Nesterov nhìn chằm chằm gã, khó hiểu:

– Tất cả những kẻ này có tội. Vấn đề là ai đã phạm cả tội giết người.

* * *

Raisa nhìn Leo đập gót ủng vào nhau. Những mẩu tuyết bẩn rơi ra sàn. Gã nhìn xuống, không biết cô đang ở trong phòng. Cô thấy sự thất vọng của gã thật khó mà chịu đựng. Gã đã tin, thật lòng tin, rằng cuộc điều tra của gã mở ra một cơ hội. Gã đã đặt hy vọng vào một giấc mơ hão huyền về chuộc tội: hành động công lý cuối cùng. Đấy là ý tưởng mà cô đã nhạo báng vào đêm hôm đó ở trong rừng. Nhưng nó còn bị nhạo báng tàn nhẫn hơn nhiều bởi sự xoay chuyển tình hình. Trong khi theo đuổi công lý, gã đã gây ra sự kinh hoàng. Trong quá trình truy tìm kẻ giết người, một trăm năm mươi người đàn ông có thể sẽ mất mạng, nếu không theo nghĩa đen thì ở một mức độ khác – họ sẽ mất gia đình, mái ấm. Và cô nhận ra, khi thấy đôi vai thõng xuống và khuôn mặt gầy rộc đi của chồng mình, rằng gã chưa bao giờ làm gì mà không tin vào điều đó. Không một chút hoài nghi hay toan tính ở gã. Nếu điều này đúng thì hẳn gã cũng tin vào hôn nhân của họ: hẳn gã tin rằng nó được xây dựng trên tình yêu. Dần dần, tất cả mọi sự tưởng tượng gã dựng lên đã tan tác. Raisa thấy ghen tị với gã. Thậm chí bây giờ, thậm chí sau tất cả những gì xảy ra, gã vẫn còn hy vọng được. Gã vẫn muốn tin vào điều gì đó. Cô bước đến, ngồi bên cạnh gã trên giường. Ngập ngừng, cô cầm tay gã. Gã ngạc nhiên nhìn cô nhưng không nói gì, đón lấy cử chỉ đó. Rồi họ cùng nhìn tuyết bắt đầu tan.

Chương 37

30 tháng ba

Trại mồ côi 80 là tòa nhà gạch năm tầng với hàng chữ sơn trắng phai màu bên hông: LAO ĐỘNG CHĂM CHỈ TUỔI THỌ TĂNG LÊN. Trên mái nhà có một dãy dài những ống khói. Trại mồ côi trước đây là một nhà máy nhỏ. Giẻ rách bẩn thỉu treo khắp các cửa sổ song chắn nên rất khó nhìn vào bên trong. Leo gõ cửa. Không ai trả lời. Gả thử vặn núm cửa. Cửa khóa. Gã đến cửa sổ, gõ lên mặt kính. Mấy miếng giẻ vén ra. Khuôn mặt một cô bé xuất hiện chừng hơn một giây, sự xuất hiện của một cái bẩn thỉu, trước khi mớ giẻ đổ về chỗ cũ.

Đi cùng Leo là Moiseyev, gã dân quân mà Leo cho là chỉ nhỉnh hơn kẻ côn đồ mặc quân phục một chút.

Sau khi chờ một lúc lâu, cánh cửa mở ra. Một ông già cầm chùm chìa khóa đồng nhìn chằm chằm hai người. Thấy đồng phục của họ, vẻ mặt ông ta biến từ bực dọc sang nể trọng. Ông ta hơi cúi đầu:

– Tôỉ có thể làm gì cho các anh?

– Chúng tôi đến vì một cậu bé bị giết.

Phòng lớn của trại trẻ từng là sàn nhà máy. Toàn bộ máy móc đã được dọn đi và nó được chuyển thành phòng ăn, không phải bằng cách thêm bàn ghế, vì chẳng có cái nào cả, mà là vì khắp sàn nhà đầy lũ trẻ đang ngồi khoanh chân, tựa vào nhau và đang cố để ăn. Mỗi đứa ôm chặt một cái bát gỗ đựng thứ có vẻ như là xúp cải bắp lõng bõng. Tuy nhiên, dường như chỉ những đứa lớn nhất mới có thìa: Những đứa còn lại ngồi chờ thìa hoặc húp ngay trong bát. Khi một đứa ăn xong, nó liếm thìa từ đầu đến cán rồi mới đưa cho đứa bên cạnh.

Đây là kinh nghiệm đầu tiên của Leo về một trại trẻ mồ côi. Gã bước lại gần, quan sát căn phòng. Thật khó đoán được có bao nhiêu đứa – hai trăm, ba trăm – tuổi từ bốn đến mười bốn. Không đứa nào thèm để ý đến Leo: chúng còn mải ăn hoặc nhìn đứa bên cạnh, chờ lấy thìa. Không ai nói gì. Âm thanh duy nhất nghe được là tiếng vét trong bát và tiếng húp xì xụp. Leo quay sang ông già:

– Ông là giám đốc cơ sở này?

Văn phòng giám đốc ở tầng hai, quay mặt về phía sàn nhà máy đầy lũ trẻ, giống như thể chúng được sản xuất hàng loạt. Trong văn phòng, có vài cậu thanh thiếu niên, lớn tuổi hơn những đứa dưới tầng. Chúng đang chơi bài trên bàn giám đốc. Ông giám đốc vỗ tay:

– Thôi nào, về chơi tiếp trong phòng các cháu đi.

Mấy thằng bé nhìn Leo và Moiseyev. Leo chỉ có thể cho rằng sự tức giận của chúng là vì bị bảo phải làm gì. Chúng có đôi mắt khôn ngoan, già trước tuổi. Không nói gì, chúng đồng loạt cử động, như một đàn chó hoang, nhặt bài lên, những que diêm – dùng để sát phạt – rồi đi ra.

Khi chúng đi rồi, ông giám đốc rót cho mình một ly rượu và ra dấu cho Leo và Moiseyev ngồi xuống. Moiseyev ngồi xuống. Leo vẫn đứng, quan sát căn phòng. Có một chiếc tủ đơn đựng hồ sơ bằng kim loại. Ngăn dưới cùng có một vết lõm do một cú đá. Ngăn trên cùng hé mở và những tài liệu nhàu nát lòi ra tứ phía:

– Có một cậu bé bị giết trong rừng. Ông đã nghe chuyện này chưa?

– Một vài dân quân khác đã đến đây cho tôi xem mấy bức ảnh cậu bé, hỏi tôi có biết nó là ai không. Tôi e là không.

– Nhưng ông không thể biết chắc liệu ông có mất đứa bé nào không sao?

Ông giám đốc gãi tai:

– Chúng tôi có bốn người trông coi chừng ba trăm đứa. Bọn trẻ đến rồi đi. Bao giờ cũng có những đứa mới. Các anh phải thứ lỗi cho tôi vì lơ là chuyện giấy tờ chứ.

– Có đứa nào trong cơ sở này bán dâm không?

– Những đứa lớn làm bất cứ điều gì chúng muốn. Tôi không thể theo dõi chúng được. Chúng có say không ư? Có. Chúng có bán dâm không ư? Rất có thể, mặc dù tôi không cho phép điều đó nhưng tôi cũng không dính dáng gì đến chuyện này, và tôi chắc chắn không trục lợi từ chuyện đó. Công việc của tôi là đảm bảo cho chúng có cái ăn và chỗ ngủ. Và xét nguồn lực của mình, tôi đã làm rất tốt. Tôi nói vậy không phải mong được khen ngợi.

Ông giám đốc đưa họ lên tầng trên, đến chỗ ngủ. Khi họ đi qua phòng tắm, ông ta nói:

– Anh nghĩ rằng tôi thờ ơ với quyền lợi của bọn trẻ? Không đâu, tôi đã cố hết sức. Tôi đảm bảo chúng tắm hằng tuần, tôi bảo đảm chúng cắt tóc và bắt chấy rận hằng tháng. Tôi luộc hết quần áo cho chúng. Tôi không để trại trẻ này có chấy rận. Các anh cứ đến bất kỳ trại trẻ nào khác thì sẽ thấy tóc bọn trẻ nhung nhúc những chấy, lông mày chúng đầy những rận. Thật ghê tởm. Ở đây thì không. Không phải vì thế mà chúng cảm ơn tôi.

– Chúng tôi có thể nói chuyện riêng với bọn trẻ được không? Có lẽ chúng ngại khi ông có mặt.

Ông giám đốc cười:

– Chúng không sợ tôi đâu. Nhưng tất nhiên rồi…

Ông ta chỉ về lượt cầu thang:

– Mấy đứa lớn sống ở tầng trên cùng. Trên đấy như lãnh địa riêng của chúng.

Phòng ngủ tầng trên, lọt thỏm dưới mái nhà, không có giường, chỉ có vài tấm nệm mỏng trên sàn. Những đứa lớn rõ ràng ăn trưa lúc nào chúng muốn; chắc chắn chúng đã ăn và lấy phần thức ăn ngon nhất.

Leo bước vào phòng đầu tiên ở đầu cầu thang. Gã bắt gặp một cô bé nấp sau cửa và thấy ánh kim loại. Cô bé thủ sẵn một con dao. Thấy đồng phục của gã, cô bé giấu đi, lưỡi dao biến mất trong nếp váy.

– Chúng cháu nghĩ các chú là bọn con trai kia. Chúng không được vào đây.

Ước chừng có hai mươi cô bé, tuổi từ mười bốn đến mười sáu, nhìn chằm chằm Leo, mặt đanh lại. Trong đầu Leo dội lại lời hứa với Anatoly Brodsky rằng hai đứa bé được an toàn dưới sự chăm sóc của một trại trẻ ở Moscow. Đó là một cam đoan hợm hĩnh, rỗng tuếch. Giờ Leo đã hiểu. Brodsky nói đúng. Hai cô bé kia sẽ sống tốt hơn nếu chúng tự xoay xở, chăm sóc lẫn nhau.

– Các cậu bé ngủ ở đâu?

Những đứa con trai lớn tuổi, vài đứa đã ở trong phòng giám đốc, đã túm tụm ở cuối phòng của chúng mà chờ, nghĩ là họ sẽ đến. Leo vào phòng và quỳ xuống, đặt một album ảnh trên sàn trước mặt chúng:

– Chú muốn các cháu nhìn những tấm ảnh này, rồi nói cho chú xem có ai trong những người này đã từng tiếp cận các cháu, cho các cháu tiền để có quan hệ tình dục.

Không đứa nào động đậy hay tỏ ý rằng giả thiết của gã là đúng:

– Các cháu không làm gì sai cả. Các chú cần các cháu giúp.

Leo mở album, từ từ lật các trang ảnh. Gã lật hết. Bọn trẻ nhìn các bức ảnh nhưng không phản ứng gì. Gã lật lại. Vẫn không có phản ứng nào từ mấy cậu bé. Gã định gấp album lại thì một cậu bé đứng ở sau giơ tay ra chỉ vào một bức ảnh.

– Người này đã đề nghị với cháu à?

– Trả tiền cho cháu.

– Ông ta trả tiền cho cháu?

– Không, chú trả tiền cho cháu rồi cháu sẽ nói. Leo và Moiseyev chung tiền, cho cậu bé ba rúp. Cậu bé lật album, dừng lại ở một trang và chỉ vào một trong những bức ảnh: – Người này trông giống người đấy.

– Vậy không phải người này?

– Không, nhưng giống.

– Cháu biết tên ông ta không?

– Không.

– Cháu có thể nói gì đó về ông ta không?

– Đưa cháu tiền.

Moiseyev lắc đầu, không chịu trả thêm:

– Chúng ta có thể bắt cháu vì trục lợi. Chặn ngay lời đe dọa, Leo lấy ra số tiền còn lại của gã, đưa nó cho đứa bé. – Chú còn chừng này thôi.

– Ông ta làm trong bệnh viện.

Chương 38

Cùng ngày

Leo rút súng ra. Họ đang ở tầng trên cùng chung cư số 7: căn số14 ở cuối hành lang. Họ được nhân viên bệnh viện cho địa chỉ này. Kẻ bị tình nghi cáo ốm và đã nghỉ một tuần, khoảng thời gian ấy nghĩa là, nếu tất cả nhân viên MGB không bận rộn việc thẩm vấn, anh ta chắc chắn đã bị nghi vấn rồi. Hóa ra ngày đầu nghỉ ốm của anh ta trùng với làn sóng bắt bớ đầu tiên đối với cộng đồng đồng tính của thị trấn.

Leo gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Gã gọi to, xưng tên và nghề nghiệp. Không có ai trả lời. Moiseyev giơ ủng, sẵn sàng đạp ổ khóa. Cánh cửa mở ra.

Thấy súng chĩa vào mình, bác sĩ Tyapkin giơ tay và lùi lại. Leo gần như không nhận ra anh ta. Đây chính là người đã giúp gã kiểm tra thi thể cô bé, vị bác sĩ uy tín bị thuyên chuyển từ Moscow về đây. Tóc và mắt anh ta hoang dại. Anh ta sụt cân. Quần áo nhàu nhĩ. Leo đã gặp nhiều người bị suy nhược vì lo lắng; gã đã thấy cơ bắp mất đi hình dạng và sức mạnh như thể bị nỗi sợ gặm nhấm.

Leo dùng chân đẩy cửa mở ra, quan sát căn hộ.

– Anh ở một mình?

– Con trai út tôi ở đây. Nhưng cháu đang ngủ.

– Nó bao nhiêu tuổi.

– Bốn tháng.

Moiseyev bước vào, đập báng súng lên mũi Tyapkin. Tyapkin khuỵu xuống, máu chảy vào bàn tay bụm lại. Moiseyev, cấp cao hơn, ra lệnh cho Leo:

– Khám xét ông ta.

Moiseyev bắt đầu khám xét căn hộ. Leo cúi xuống, giúp Tyapkin đứng lên, đưa anh ta vào bếp và đỡ anh ta ngồi xuống ghế.

– Vợ anh đâu?

– Đi mua đồ ăn… cô ấy sẽ về ngay thôi.

– Bệnh viện bảo anh bị ốm.

– Đúng vậy, ở mức độ nào đấy. Tôi nghe về vụ bắt bớ. Tôi biết chỉ là vấn đề thời gian trước khi các anh tìm đến đây.

– Cho tôi biết chuyện gì xảy ra.

– Tôi đã điên rồ, không còn lời giải thích nào khác cho điều ấy cả. Tôi không biết tuổi của nó. Nó còn nhỏ. Có lẽ mười lăm mười sáu. Tôi không muốn ai đó có thể nói chuyện với tôi hoặc đi kể lại cho người khác về tôi. Tôi không muốn phải gặp họ nữa. Hoặc trông thấy họ. Hoặc nói chuyện với họ. Tôi muốn ẩn danh. Tôi đã lập luận rằng sẽ không ai đi nghe một đứa trẻ mồ côi. Lời của nó chẳng đáng tin. Tôi có thể cho nó ít tiền và thế là xong. Tôi muốn một kẻ vô hình – anh có hiểu không?

Sau khi khám xét qua loa, Moiseyev quay lại phòng và cho súng vào bao. Anh ta nắm lấy cái mũi gãy của Tyapkin, vặn mẩu xương vỡ sang trái rồi phải, khiến tay bác sĩ kêu lên đau đớn. Một đứa trẻ thức dậy ở phòng bên và cất tiếng khóc:

– Ông đóng cọc những đứa bé này rồi giết chúng hả?

Molseyev buông mũi Tyapkin ra. Tay bác sĩ ngã xuống sàn, co rúm người lại. Phải một lúc sau anh ta mới nói được:

– Tôi không quan hệ với nó. Tôi chưa làm được. Tôi chưa làm được. Tôi đã đề nghị nó, đã trả tiền cho nó, nhưng tôi không thể làm được. Tôi đã bỏ đi.

– Đứng lên. Chúng ta đi.

– Chúng ta phải đợi vợ tôi về – không thể bỏ mặc con tôi được.

– Đứa bé sẽ sống. Mày đứng lên.

– Ít nhất để tôỉ cầm máu chứ.

Moiseyev gật đầu:

– Để mở cửa phòng tắm.

Tyapkin rời bếp và lảo đảo vào nhà tắm, để lại dấu tay dính máu trên cửa, cửa để mở theo lệnh. Moiseyev quan sát căn hộ. Leo có thể nói anh ta ghen tị. Tay bác sĩ có một ngôi nhà đẹp đẽ. Tyapkin xả nước trong bồn, lấy khăn chấm lên mũi và nói, vẫn quay lưng về phía họ:

– Tôi xin lỗi về điều đã làm. Nhưng tôi chưa bao giờ giết ai cả. Các anh phải tin tôi. Không phải bởi tôi nghĩ danh tiếng bị hủy hoại. Tôi biết mình là kẻ thối tha. Nhưng kẻ khác đã giết cậu bé kia, hắn phải bị bắt.

Moiseyev trở nên mất kiên nhẫn:

– Thôi đi.

– Tôi chúc các anh may mắn.

Nghe mấy lời đó, Leo chạy vào phòng tắm, xoay Tyapkin lại. Cắm trong tay anh ta là cái ống tiêm. Chân anh ta nhũn ra. Anh ta ngã xuống. Leo chụp lấy anh ta, đặt nằm xuống sàn, rút ống tiêm ra. Gã bắt mạch. Tyapkin đã chết. Moiseyev nhìn xuống cái xác:

– Thế sẽ khiến công việc của ta dễ dàng hơn.

Leo nhìn lên. Vợ Tyapkin đã về. Chị ta đang đứng ở cửa, tay cầm tạp phẩm mua cho gia đình.

***

Aleksandr đóng cửa phòng vé. Như anh ta biết, Nesterov đã giữ lời hứa. Bí mật sinh hoạt tình dục của anh ta được giữ kín. Không một khách hàng nào liếc nhìn anh ta với vẻ kỳ lạ. Không ai nhỏ to gì về anh ta. Gia đình không lảng tránh anh ta. Bà mẹ vẫn yêu anh ta. Ông bố vẫn cảm ơn anh ta vì công việc nặng nhọc. Cả hai người họ vẫn tự hào về anh ta. Cái giá của sự yên bình này là tên của hơn một trăm người, những người đã bị vây bắt trong khi Aleksandr tiếp tục bán vé, trả lời các câu hỏi của hành khách, và xử lý công việc điều hành hằng ngày ở nhà ga. Cuộc sống anh ta đã trở lại bình thường. Công việc thường ngày giống hệt nhau. Anh ăn tối với bố mẹ, đưa ông bố đến bệnh viện. Anh lau dọn nhà ga, đọc báo. Tuy nhiên, anh không còn đi xem phim nữa. Thực sự, anh ta không còn vào trung tâm thị trấn nữa. Anh ta sợ những người anh ta sẽ gặp, có lẽ là người dân quân nhếch mép cười ranh mãnh với anh ta. Thế giới của anh ta co lại. Nhưng nó đã co lại khi anh từ bỏ giấc mơ trở thành một vận động viên, và anh ta tự nhủ sẽ thích nghi được như anh ta đã thích nghi trước đây.

Sự thật từng giây phút anh ta đã tự hỏi liệu những người đàn ông kia có đoán được anh ta phản bội họ không. Có lẽ họ đã nghe. Con số rất lớn những người bị bắt nghĩa là họ có lẽ buộc phải ở cùng phòng giam với nhau. Họ còn làm gì khác nữa ngoài việc đoán xem ai là người đã lập danh sách? Lần đầu tiên trong đời họ, họ không còn gì phải che giấu. Và khi anh ta nghĩ về những người kia, anh thấy mình ao ước có thể đổi tự do của mình lấy sự nhục nhã công khai ở một trong những phòng giam đó. Tuy nhiên, anh ta sẽ không được chào đón ở đó. Anh ta không còn chỗ nào, trong thế giới này cũng như trong thế giới của họ.

Anh ta đóng cửa phòng vé, khóa lại rồi kiểm tra ổ khóa ở phòng lớn. Anh ta cho chìa khóa vào túi và bước đến sân ga. Một cặp vợ chồng đang đợi tàu. Anh ta nhận ra họ vì thấy quen mặt mặc dù không biết tên. Họ vẫy chào anh ta và anh ta vẫy tay chào lại, bước đến cuối sàn ga, nhìn con tàu chạy đến. Con tàu này đến đúng giờ. Aleksandr bước xuống sân ga và nằm ngang đường ray, nhìn lên bầu trời đêm.

Anh ta hy vọng cha mẹ mình sẽ tin bức thư anh ta để lại. Trong bức thư anh ta giải thích rằng anh ta chưa bao giờ phục hồi sau nỗi thất vọng không được trở thành vận động viên chạy đường dài. Và anh ta sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân vì đã làm cha mình thất vọng.

Chương 39

Cùng ngày

Bốn năm qua Nesterov cứ hứa hẹn với gia đình mình một chỗ ở tốt hơn, một lời hứa anh từng nhắc lại thường xuyên, mãi cho đến gần đây. Anh không còn tin họ sẽ được phân chỗ ở tốt hơn; không còn tin nếu anh ta làm việc chăm chỉ, nếu vợ anh ta làm việc chăm chỉ, công sức của họ sẽ biến thành lợi ích vật chất. Họ sống trên phố Kropotkinsky, ngoại ô thị trấn, gần các nhà máy gỗ. Những ngôi nhà trên phố này được xây dựng bừa bãi; tất cả có hình dạng và kích thước khác nhau. Nesterov dành nhiều thời gian rảnh rỗi để cải tạo ngôi nhà. Anh là một thợ mộc có tay nghề và đã thay những khung cửa sổ, cánh cửa. Nhưng qua nhiều năm, móng nhà đã lún và mặt tiền ngôi nhà đổ ra trước, nghiêng thành một góc khiến cánh cửa chỉ có thể mở rồi cắm vào mặt đất. Vài năm trước, anh ta đã xây một gian nhà nhỏ, dùng làm xưởng. Anh và vợ, Inessa, đóng bàn ghế và sửa sang ngôi nhà, làm bất cứ thứ gì họ cần. Họ không chỉ làm cho gia đình mình mà còn cho các gia đình khác trên đường này. Người ta chỉ cần mang vật liệu đến và có lẽ, như một cử chỉ đền đáp, một ít đồ ăn thức uống.

Nhưng rốt cuộc, công việc vá víu cũng chẳng thể bù đắp nổi những thiếu thốn của ngôi nhà. Không vòi nước vào nhà – giếng nước gần nhất cũng cách mười phút đi bộ. Không có hệ thống ống nước – có một cái hố xí đằng sau nhà. Khi họ mới chuyển đến, cái hố xí hôi thối và đổ nát. Cái hố quá cạn và thật không thể nào đi vào mà không nồn ọe vì mùi hôi thối. Nesterov đã làm một cái mới, ở cách xa, phải làm thâu đêm mới xong. Tường được làm tử tế, có một cái hố sâu hơn và một thùng mùn cưa để đổ vào sau khi đi xong. Dù vậy, anh ta cũng biết rằng gia đình mình sống không được cải thiện hơn về tiện nghi và vệ sinh, không có hứa hẹn gì về một tương lai khá khẩm hơn. Anh ta đã bốn mươi tuổi. Lương của anh ta thấp hơn chừng hai mươi lần so với lương công nhân ở nhà máy lắp ráp xe xe hơi. Cái ao ước – có một căn nhà tươm tất – chẳng đi đến đâu hết.

Có tiếng gõ cửa. Đã muộn. Nesterov, còn mặc đồng phục, nghe thấy Inessa ra mở cửa. Một lúc sau, chị xuất hiện trong bếp:

– Có người đến tìm anh. Anh ta ở chỗ làm với anh. Em không biết anh ta.

Nesterov bước vào phòng trước. Leo đang đứng bên ngoài. Nesterov quay sang vợ:

– Để anh lo chuyện này.

– Anh ta có vào nhà không?

– Không, việc nhanh thôi.

Inessa liếc nhìn Leo và quay đi. Nesterov bước ra ngoài, đóng cửa lại.

Leo đã chạy thẳng đến đây. Tin về cái chết của Aleksandr đã xóa hết mọi ý thức về sự thận trọng. Gã không còn cảm thấy nỗi thất vọng và ưu phiền đã giày vò gã suốt cả tuần nay. Gã thấy rối trí, một phần của một trò đố chữ vô lý, rùng rợn, một vai diễn trong một trò hề lố bịch – kẻ nằm mơ ngây thơ, đấu tranh cho công lý nhưng để lại một vệt dài tàn phá khi tỉnh dậy. Khát vọng của gã – rằng một kẻ giết người sẽ bị bắt – đã được trả lời bằng cuộc đổ máu. Raisa đã biết ngay từ đầu, cô đã biết lúc ở trong rừng, cô đã biết hai đêm trước đó, cô đã cố cảnh báo gã, và gã vẫn dấn tới, như đứa trẻ trong một chuyến phiêu lưu.

Một người thì có thể đạt được gì?

Gã đã có câu trả lời: cái chết của hai trăm mạng người, vụ tự tử của một thanh niên, và cái chết của một bác sĩ. Xác một thanh niên bị tàu cắt đôi: đây là thành quả lao động của gã. Đây là cái gã đã liều cả tính mạng mình; đây là cái mà gã đã liều cả tính mạng của Raisa. Đây là sự chuộc lỗi của gã.

– Aleksandr chết rồi. Cậu ta tự tử, lao vào dưới tàu.

Nesterov cúi đầu:

– Tôi rất tiếc khi nghe vậy. Chúng ta đã cho cậu ta cơ hội đứng ngoài. Có lẽ cậu ta không thể. Có lẽ cậu ta bệnh quá nặng.

– Chúng ta chịu trách nhiệm về cái chết của cậu ấy.

– Không, cậu ta bị bệnh.

– Cậu ta mới hai mươi hai tuổi. Cậu ta có mẹ và cha, và cậu ta thích đi xem phim. Và giờ cậu ta chết rồi. Nhưng điều tốt là, nếu chúng ta tìm ra một đứa trẻ nữa bị chết, chúng ta có thể cứ đổ tội cho Aleksandr, phá vụ án trong thời gian kỷ lục.

– Đủ rồi đấy.

– Anh làm điều này vì cái gì? Bởi anh không làm vì tiền hay phần thưởng.

Leo nhìn căn nhà xập xệ của Nesterov. Nesterov đáp:

– Tyapkin tự tử bởi anh ta có tội.

– Ngay khi chúng ta bắt những người kia, anh ta biết chúng ta sẽ hỏi những đứa trẻ đó, anh ta biết chúng ta sẽ lần ra anh ta.

– Anh ta có kỹ năng giải phẫu cần thiết để cắt dạ dày của một đứa trẻ. Anh ta cho cậu lời khai giả về vụ giết cô bé để đánh lừa chúng ta. Anh ta mưu mô và xảo trá.

– Anh ta đã nói với tôi sự thật. Rằng dạ dày của cô bé kia bị cắt. Miệng cô bé bị nhét vỏ cây cũng giống như dạ dày cậu bé bị cắt và miệng bị nhét vỏ cây. Cô bé bị buộc dây quanh cổ chân, và cậu bé cũng vậy. Chúng do cùng một người giết. Và đấy không phải là bác sĩ Tyapkin và cũng không phải cậu thiếu niên Varlam Babinich.

– Về nhà đi.

– Có một xác chết ở Moscow. Một cậu bé, tên Arkady, chưa đầy năm tuổi. Tôi không nhìn thấy xác nhưng tôi nghe kể người ta tìm thấy đứa bé trần truồng, bụng phanh ra, miệng bị nhét đất. Tôi ngờ miệng đứa bé cũng bị nhét vỏ cây.

– Bỗng đâu lại có một đứa trẻ bị giết ở Moscow? Thật tiện quá đấy, Leo. Tôi không tin.

– Tôi cũng đã không tin. Tôi đã gặp gia đình đau khổ kia, họ bảo với tôi rằng con trai họ bị giết, và tôi đã không tin. Tôi nói với họ điều đó không đúng. Có bao nhiêu vụ khác đã bị che giấu? Chúng ta không có cách nào biết được, không cách nào tìm ra được. Hắn sẽ giết nhiều nữa, còn chúng ta sẽ tiếp tục bắt nhầm người.

Nesterov không tin người này. Anh ta chưa bao giờ tin gã và anh ta chắc chắn sẽ không bị sa vào cuộc chỉ trích nhà nước. Anh ta quay lưng, đi về cửa.

Leo nắm lấy vai anh ta, xoay anh ta lại để họ mặt đối mặt. Ý định là đưa ra một quan điểm nữa, nhấn mạnh tranh luận của gã bằng lý lẽ và logic, nhưng thay vì vậy, Leo lúng búng không ra lời, gã đấm anh ta. Một cú đấm tốt, rất mạnh. Đầu Nesterov ngoẹo sang bên. Anh ta vẫn đứng nguyên vị trí, đầu quay qua một bên. Rồi, từ từ, anh ta quay lại đối mặt với cấp dưới. Leo cố giữ giọng bình tĩnh:

– Chúng ta chưa giải quyết được gì hết.

Cú đấm của Nesterov hất Leo lên. Gã ngã ngửa ra đất. Không đau, chưa đau. Nesterov nhìn chằm chằm gã và sờ quai hàm mình:

– Về đi.

Leo đứng lên:

– Chúng ta chưa giải quyết được gì hết

Gã đấm một cú nữa. Nesterov đỡ, đấm trả. Leo né. Gã là một võ sĩ giỏi: được đào tạo, có kỹ năng. Nhưng Nesterov to con hơn và nhanh nhẹn dù vóc người đồ sộ. Bị đấm vào bụng, Leo gập người lại. Nesterov tung cú đấm thứ hai vào bên mặt hở của gã, khiến gã khuỵu xuống và da trên má rách toạc ra. Mắt mờ đi, Leo ngã nhào tới trước. Gã nằm ngửa người ra, thở dốc. Nesterov giẫm chân lên người gã:

– Về nhà đi.

Đáp lại, Leo đá thẳng vào háng anh ta. Anh ta rụt lại, khom người xuống. Leo loạng choạng đứng lên:

– Chúng ta chưa…

Trước khi gã kịp dứt lời thì Nesterov đã chạy đến, đâm sầm vào Leo, đấm gã ngã xuống đất, đè lên gã. Anh ta đấm vào bụng gã, vào mặt, vào bụng, rồi vào mặt. Leo nằm đó, lãnh hết cú đấm này đến cú đấm khác, không thể vùng ra. Nắm tay Nesterov bê bết máu. Anh ta dừng lại để thở. Leo không động đậy. Mắt gã nhắm lại – một chụm máu tụ lại bên mắt phải, chảy xuống từ vết rách nơi lông mày. Nesterov đứng lên, lắc đầu trước bộ dạng của Leo. Anh ta đi vào cửa, chùi máu lên quần. Khi anh ta chạm vào nắm cửa, anh ta nghe tiếng động đằng sau.

Nhăn nhó vì đau đớn, Leo cố gượng dậy. Đứng loạng choạng, gã giơ hai tay, như thể sẵn sàng đánh tiếp. Gã lảo đảo từ bên này qua bên kia, như thể đang đứng trên tàu ngoài biển khơi. Gã chỉ có ý nghĩ lờ mờ. Nesterov đứng ở đâu. Giọng gã thều thào.

– Chúng ta… chưa giải quyết., được gì hết.

Nesterov nhìn Leo đang chao đảo. Anh bước đến gã, nắm tay siết chặt, sẵn sàng cho gã đo ván. Leo tung ra cú đấm ngớ ngẩn và vô vọng – Nesterov né sang và tóm lấy dưới cánh tay Leo vừa lúc chân gã khuỵu xuống.

Chương 40

Leo ngồi ở bàn trong nhà bếp. Inessa đã hâm ít nước trên bếp. Chị đổ nước vào bát. Nesterov thả một cái khăn vào nước và để Leo lại một mình cho gã lau mặt. Môi gã bị rách. Lông mày chảy máu. Cái đau nơi bụng đã dịu đi. Gã ấn ngón tay vào ngực và sườn, không khúc xương nào bị gãy. Mắt phải sưng vù. Gã không mở mắt được. Tuy nhiên, đấy là cái giá khá rẻ để Nesterov chú ý. Leo tự hỏi vụ việc của gã có thêm chút thuyết phục nào không nếu được trao đổi trong nhà thay vì bên ngoài, và liệu Nesterov có thể thô bạo như vậy không trước mặt vợ anh ta, khi bọn trẻ nhà họ ngủ ở phòng bên cạnh:

– Anh chị có mấy cháu?

Inessa đáp:

– Chúng tôi có hai con trai.

– Chúng có đi qua rừng trên đường đi học về không?

– Chúng từng đi lối đó.

– Giờ không đi nữa sao?

– Chúng tôi bắt chúng phải đi đường trong thành phố. Đi như vậy lâu hơn nên chúng phàn nàn suốt. Tôi phải đi cùng chúng để chắc rằng chúng không lẻn vào rừng. Lúc về, chúng tôi không làm gì được nên buộc phải tin tưởng chúng. Cả hai chúng tôi còn ở chỗ làm.

– Ngày mai chúng có đi qua rừng không? Vì giờ kẻ giết người đã bị bắt?

Nesterov đứng lên, rót trà và để một cốc trước mặt Leo:

– Cậu có muốn thứ gì mạnh hơn không?

– Nếu anh có.

Nesterov lấy ra chai vodka còn dở, rót ra ba cốc, một cho anh ta, một cho vợ, và một cho Leo.

Rượu làm đau rát vết thương trong miệng Leo. Có lẽ như thế sẽ tốt. Nesterov ngồi xuống, rót thêm cho Leo:

– Sao cậu đến Voualsk?

Leo thả chiếc khăn dính máu vào bát nước, vắt khô và đắp lên mắt:

– Tôi ở đây để điều tra vụ giết những trẻ em này.

– Nói dối.

Leo phải chiếm được lòng tin của người này. Không có sự giúp đỡ của anh ta, gã không thể làm gì khác.

– Anh nói đúng. Nhưng có một vụ án mạng ở Mátxcơva. Tôi đã không được lệnh điều tra vụ đó. Tôi đã được lệnh lấp nó đi. Về mặt này, tôi đã làm phận sự của mình. Điều tôi không làm là tố cáo vợ mình làm gián điệp. Tôi bị xem là thỏa hiệp. Để trừng phạt, tôi bị điều đến đây.

– Vậy cậu thực sự là nhân viên bị thất sủng?

– Đúng.

– Vậy tại sao cậu lại làm việc này?

– Vì có ba đứa trẻ đã bị giết.

– Cậu không tin Varlam giết Larisa bởi cậu chắc rằng Larisa không phải là nạn nhân đầu tiên của kẻ giết người. Tôi nói đúng không?

– Larisa không phải nạn nhân đầu tiên. Không thể. Hắn đã giết người trước đó. Có khả năng cậu bé ở Mátxcơva cũng không phải nạn nhân đầu tiên.

– Larisa là đứa trẻ đầu tiên bị giết mà chúng tôi phát hiện ở thị trấn này. Đó là sự thật. Tôi đảm bảo.

– Kẻ giết người không sống ở Voualsk. Các vụ giết người đều ở gần ga tàu. Hắn ta di chuyển.

– Hắn di chuyển? Hắn giết trẻ em? Hắn là loại gì chứ?

– Tôi không biết. Nhưng có một phụ nữ ở Mátxcơva đã thấy hắn. Cô ta thấy hắn đi cùng nạn nhân. Một nhân chứng có thể mô tả kẻ này cho chúng ta. Nhưng chúng ta cần thông tin các vụ giết người ở tất cả các thành phố lớn từ Sverdlovsk đến Leningrad.

– Không có hồ sơ tập trung.

– Thế nên anh phải đến từng thành phố và thu thập hồ sơ các vụ việc. Anh sẽ phải thuyết phục họ, và nếu họ từ chối, anh sẽ phải nói chuyện với người dân sống ở đấy. Tìm thông tin từ họ.

Ý tưởng thật kỳ quặc. Nesterov lẽ ra đã cười phá lên. Anh ta lẽ ra đã bắt Leo. Thay vì thế, anh ta hỏi:

– Tại sao tôi phải làm điều đó cho cậu?

– Không phải cho tôi. Anh đã thấy kẻ này đã làm gì với những đứa trẻ. Anh làm điều đó cho những người mà chúng ta sống cùng. Hàng xóm chúng ta, những người ngồi cạnh chúng ta trên tàu, cho những đứa trẻ chúng ta không biết và sẽ không bao giờ gặp mặt. Tôi không có thẩm quyền yêu cầu những hồ sơ đó. Tôi không quen biết ai trong giới dân quân. Anh thì biết anh biết những người đó – họ tin anh. Anh có thể lấy được những hồ sơ đó. Anh sẽ tìm những sự vụ trẻ em bị giết: các vụ việc có thể được giải quyết rồi hoặc chưa được giải quyết. Sẽ có một mô thức: miệng chúng bị nhét vỏ cây và dạ dày bị cắt mất. Xác chúng có lẽ được tìm thấy ở nơi công cộng: trong rừng, dưới sông, hoặc có lẽ gần nhà ga. Chúng bị buộc dây ở cổ chân.

– Nếu tôi không tìm thấy gì?

– Nếu có ba vụ, như tôi tình cờ bắt gặp, thì sẽ có nhiều vụ khác.

– Tôi sẽ lãnh rủi ro rất lớn.

– Đúng thế. Và anh sẽ phải nói dối. Anh không thể cho ai biết lý do thực. Anh không thể nói cho bất kỳ nhân viên nào của anh. Anh không thể tin ai. Và đổi lấy sự dũng cảm của anh, gia đình anh rốt cục có thể vào Gulag. Và anh có thể sẽ chết. Đấy là lời đề nghị của tôi.

Leo duỗi tay ra trên bàn:

– Anh sẽ giúp tôi chứ?

Nesterov đến bên cửa sổ, đứng cạnh vợ. Chị không nhìn anh ta, chao chao rượu vodka nơi đáy cốc. Anh ta có mạo hiểm gia đình mình, tổ ấm của mình, tất cả mọi thứ anh ta đã gây dựng không?

– Không.