GỒNG GÁNH NẮNG MƯA

Ngày xưa ở các chợ quê miền Bắc thường có gánh hàng xén. “Hàng xén” tức là hàng tạp hóa bán cây kim, sợi chỉ, trầu cau, bộ tam cúc… Các cô thiếu nữ được gia đình cho gánh hàng xén làm vốn để tỏ sự đảm đang. Một gánh hàng xén lo cho cả chồng con và gia đình mình. Nhà đông con gái thì gánh hàng xén dùng luân phiên, khi cô chị đi lấy chồng thì gánh hàng tiếp tục nhường lại cho cô em kế và cứ thế…

Gánh hàng trong miền Nam mở rộng nhiều loại hàng hóa phong phú và có thể đi rong hoặc ngồi cố định một chỗ.

Giờ hàng rong không chỉ là đôi quang gánh mà còn là thúng, mâm… cắp nách, đội đầu;  đi bộ, xe đạp; xe ba bánh…

Buôn có bạn, bán có phường. Những người phụ nữ miền Bắc thường đi xe đạp, yên sau ràng tấm khay gỗ bày rau cỏ. Tuy hàng rất ít nhưng đủ cả: bó rau ngót, rau cần, xu hào, đậu bắp…  mỗi thứ một nắm, vài ký thịt, chục con cá… Người miền Nam đẩy xe ba bánh rau quả. Cả một chiếc xe chỉ vài loại rau củ nhưng lZAchất đầy có ngọn cho khách tha hồ đào xới lựa chọn; mùa nào thức nấy: cà chua, bắp cải, su su hay cà rốt, xúp lơ, khoai lang… Người khác chạy xe gắn máy với cần xé trái cây sau lưng, các chị các cô đẩy xe trái cây xẻ ra ướp lạnh.

Những hàng rong đó đều đặt trên xe: xe đạp, xe gắn máy, xe ba bánh… Xe ba bánh có thứ chân đạp bàn đạp, thứ đẩy tay đi, loại ba gác to chở gạo, loại nhỏ nhắn chở trái cây. Một bà già quấn chiếc khăn rằn từ chập tối đến giữa khuya chỉ vài xâu bánh tét, bánh ít cũng bày trên mặt một chiếc xe ba bánh nhỏ đẩy từng bước uể oải. Nếu không thì cắp nách hay đội đầu cho bánh bò, chuối chưng…

Đó là những cách bán rong thông thường. Ngoài ra thành phố vẫn tồn tại sự chuyên chở hàng hóa cổ truyền từ xưa đến giờ là gánh gồng. Chiếc đòn gióng tre già một mặt bóng lộn, một mặt nhẵn, có mấu hai đầu, móc vào đôi quang đè nặng chĩu trên vai. Ở thôn quê, bãi biển, khắp nơi xa xôi vẫn thông dụng cách gánh ấy. Lối nhỏ gập ghềnh bụi rậm, xe cộ không vào được, chỉ đôi chân đưa quang gánh len lỏi chỗ nào cũng tới. Trước kia Saigon quang gánh thường là hàng ve chai, gánh chè… nhưng thành phố ngày càng rộng lớn, gánh không thể nhiều hàng và không đi quá xa được nên xe ba bánh loại nhỏ đẩy tay, chứ không phải đạp chân, mọc ra ngày càng nhiều thay thế, tiện lợi vì chuyên chở nhiều hàng hóa hơn và đỡ mệt cho người bán rất nhiều.

Vì thế gánh rong ở Saigon dần biến mất, hiện nay trong phạm vi nội thành chỉ còn hầu hết là gánh quà rong của các phụ nữ miền Trung.

Cứ sau các trận thiên tai lớn, số người miền Trung đổ vào Saigon làm ăn càng nhiều. Miền Trung có núi, có biển, có đồng bằng… nhưng thiên nhiên khắc nghiệt, đất chật người đông khiến nhiều dân chúng phải bỏ quê đi làm ăn phương xa. Một người tìm việc, kiếm ăn được sẽ quay về mách rủ, lôi kéo bà con chòm xóm cùng đi theo. 

Chủ nhân, toàn phụ nữ, không đẩy xe ba bánh như các hàng khác. Giá một chiếc ba gác khá cao, hàng lại chẳng đủ nhiều chất đầy lên đó, nơi trọ chật chội không có chỗ đậu xe nên chi cuối cùng người bán chỉ dùng sức của mình gánh hàng. Khi nghỉ, đôi quang có thể xếp chồng lên nhau cạnh chếc đòn dựng đứng thật gọn gàng một góc, cũng ít sợ bị mất cắp như xe đạp hay ba gác.

Vốn liếng không cao nên hàng lặt vặt. Không giống những gánh rong trước kia chỉ bán một mặt hàng: hoặc dừa trái uống nước, hoặc sương sâm sương sáo… gánh quà hiện nay nhiều món và rất rẻ tiền. Rẻ nhất không thể rẻ hơn. Lụn vụn, chút chút mỗi thứ một nhúm, thứ gì cũng có: gói đậu phọng, khô bò một bịch vài sợi như sợi tăm, me ngào đường chua ê cả răng, bịch snack hôi dầu, bánh ống bột tẻ pha màu sặc sỡ không có một chút vị ngọt dù là đường hóa học, bỏng rang, trứng gà và trứng cút luộc, củ sắn, cóc ổi mận… Sang nhất là vài ký chôm chôm hay xoài xanh… 

Khoảng từ ba giờ sáng, các chị đã tập trung ở chợ Cầu Muối để mua hàng và soạn hàng. Các gánh đều bán những món hàng giống y hệt nhau. Gánh nào chọn đậu trước cổng trường học thì thiên về thức ăn, gánh nào đi rong đường phố, ngõ hẻm thì thêm vài món hàng khác. Gánh trước siêu thị, nhà sách thường là bánh tráng phồng, bánh kẹp, bánh bông lan nướng, tào phớ…

Năm giờ, trời tờ mờ sáng, hàng đã bày biện xong, họ tỏa đi khắp nơi, mỗi người một hướng về phía Chợ Lớn, Tân Định, Thị Nghè, Hòa Hưng…

Bà Vui quê ở Phù Cát- Bình Định, mới sáu mươi ba tuổi nhưng lưng đã hơi còng, một tay vịn đòn gánh bước nhanh nhịp nhàng, đi chậm thì mất đà, tay xách cái ghế nhựa, chuyên bán tàu hũ ở ven bờ tường một trường học kế nhà lồng chợ. Ngâm đậu nành từ đêm hôm trước, sáng sớm hôm sau bà đã có nồi tàu hũ nóng hổi thơm mùi gừng, lá dứa bán cho học sinh, các bà, các cô đi chợ. Bà cho biết cô con gái nhỏ ở với bà ngoại còn cậu con trai lớn đang học ngành điện ở trường Cao đẳng. Bà thuê nhà trọ bên quận 8, con trai ở ký túc xá quận 5. Cuối mỗi tuần, thứ Sáu, con ra chợ để mẹ dúi cho ít tiền. Mắt bà sáng lên khi nhắc tới gia đình. Con trai an ủi mẹ ra trường ráng kiếm công ty nước ngoài làm được nhiều tiền sẽ lo cho cả nhà. mẹ không cần dãi dầu nữa. Dù mỗi tối về phòng trọ, lọ dầu nóng xoa bóp lên bờ vai chai sần và đôi chân thấp khớp nhưng viễn ảnh tươi sáng làm bà cố gắng vượt qua nỗi nhớ nhà, nhớ con, vượt qua những cơn đau nhức hành hạ người lớn tuổi kham khổ, cực nhọc.

Chị Tuyên ở Phú Yên  vốn làm nghề nông. Chồng đã vào Sài Gòn làm thợ hồ 3 năm. Dù ở quê trồng lúa 3 vụ đông xuân, hè thu và vụ mùa nhưng đất ít, chỉ có mấy sào ruộng, nông nhàn cũng không có công việc gì làm kiếm thêm lo cho gia đình gồm cha mẹ chồng già yếu và 2 con gái học tiểu học. Nghe lời chị em vào trước mách bảo, chị cũng lên đường xuôi Nam. Xa nhà nhưng chị vẫn chu toàn bổn phận. Tới dịp cấy, gặt, giỗ chạp, chị lại “nhảy tàu” về quê.

Gánh hàng của chị gần như gánh tạp hóa nhỏ, như gánh hàng xén miền Bắc xưa. Đủ cả trái cây mùa nào thức nấy: cóc, ổi, xoài, thanh long, chôm chôm…, đồ chơi con nít: lọ nước thổi bọt xà bông, búp bê mắt nhắm mắt mở, rổ rá đồ hàng, bánh kẹo, bong bóng… vật dụng người lớn: gương, lược, bút bi, khẩu trang… Mỗi món lụn vụn chỉ vài ngàn, chục ngàn. Mùa mưa lại treo thêm ở đầu quang gánh bọc áo mưa mỏng xài một lần. 

Bà Nhu gánh toòng teng những bịch bánh tráng phồng ở hai đầu đòn gánh. Bà rao không ra hơi: “bánh phồng nếp, bánh phồng mì, bánh phồng chuối, bánh tráng muối ớt… đây”.

Bà nài nỉ: “Mua dùm đi. Tui bán bữa ni thôi, mai nghỉ về Mộ Đức rồi. Kỳ này cả tháng tui mới lên. Sắp tới cấy vụ mùa rồi lại thêm mạ tui bịnh quá”.

Chị Bốn gánh dừa trái bán ở khu vực công viên trước dinh Độc Lập. Dừa bán ở chợ giá 12 ngàn nhưng chị bán cho khách du lịch tùy mặt mà hét giá. Khách Việt thì 20 ngàn, còn Tây thì 50. Gặp khách vui tính muốn gánh thử chụp hình thì được tặng thêm vài chục nữa…

Gánh nào ngừng trước trường học thì toàn quà ăn vặt chứ không có đồ chơi. Khu vòng xoay Cộng Hòa cũ gần một lô trường trung học, đại học nên ở đấy có đến hai chục gánh quà đậu thành hàng dài. Mỗi lần bị đuổi, họ chạy qua bên kia đường, hết đợt lại quay về. Trời nắng gay gắt vẫn còn đỡ chứ trời mưa các gánh quà đành trân mình chịu đựng. Khu này không có nhiều hàng hiên, họ rũ mảnh nylon che kín đôi quang, vẫn kiên nhẫn ngồi dưới mưa đợi khách.   

Để tiện mua bán, những người này thường kiếm chỗ trọ ở gần khu trung tâm. Trong đó, chỗ ngủ mất độ mười lăm, hai chục ngàn đồng một đêm. Suốt ngày họ ở ngoài đường. Hôm nào ngủ, trả tiền cho chủ nhà hôm đó, bước vào chiếu nằm ngủ đến sáng hôm sau đi sớm. Gọi là thuê chỗ ngủ mới đúng chứ không phải ở trọ. Chỗ thuê bao cả tắm rửa, vệ sinh thuận tiện cho việc cất hàng mỗi sớm. Người bán rong bằng xe đạp, xe gắn máy, xe ba gác có thể thuê chỗ trọ xa hơn tận Gò Vấp, Bình Triệu, Tân Bình, Bình Thạnh… Riêng những gánh rong này không ai trọ xa tốn tiền xe đi lại, cũng không ai đi quá xa. Bước chân họ rảo khắp nơi từ lúc mặt trời chưa mọc đến khi màn đêm buông xuống, canh làm sao kịp quay về chỗ trọ vào khoảng mười rưỡi, mười một giờ đêm. 

Chỗ trọ chỉ đủ chỗ nằm xếp cá mòi, phòng hẹp vài chục người, gác rộng đến cả trăm người nằm sát nhau trên chiếu. Đó là nơi qua đêm của những người buôn gánh bán bưng, phụ hồ, bán vé số… từ các tỉnh đổ về. Ban ngày tất cả mọi người tỏa ra khắp nơi mưu sinh, chỉ về đó ngả lưng nghỉ ngơi ngủ mấy tiếng ban đêm. 

Nhà trọ không cho nấu ăn, chật tới mức về trễ còn không chỗ mà thuê thì chỗ đâu bếp núc. Vài chị chung nhau một chiếc bếp ga du lịch mang ra lề đường để xào ít sa tế, trộn muối ớt làm hàng cho món bánh tráng trộn mà thôi. Phần họ phải ăn uống ngoài đường. Số tiền lời ít ỏi còn dành dụm gửi về quê và xe cộ đi về nên họ chỉ ăn ngày hai bữa. Một đĩa cơm “bụi” vỉa hè hiện nay giá ba chục ngàn nhưng phần cơm của họ chỉ tốn có hai mươi lăm ngàn đồng. Một chị tâm sự: “Tụi tui là khách quen mà. Chủ biết ý thêm cơm, thêm rau xào, còn rưới thêm nước thịt kho”.

Họ còn mách bảo nhau quán cơm hai ngàn đồng bán vào trưa ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu trong tuần. Hay chỗ này, chỗ nọ phát cơm chay từ thiện vào các ngày rằm, mùng một… Đỡ được đồng nào hay đồng nấy.

Cứ thế, họ rong ruổi khắp ngõ nghách phố phường, kẽo kẹt không biết mỏi đôi quang gánh trên vai, mang dăm món quà bình dân đến ông gác cổng, anh xe ôm, sinh viên nghèo, công nhân công trường… Trẻ con, người lớn, ngay cả bàn nhậu cũng có thể tìm kiếm thấy nơi gánh rong một món quà vặt như gói đậu phọng rang, trứng cút luộc… khả dĩ mua được. Họ lặng lẽ đi, không cất tiếng rao vì toàn hàng lít nhít, nhỏ nhoi làm sao rao xuể từ sáng sớm đến đêm khuya giữa thành phố đông đúc, náo nhiệt.

Khi xưa đàn ông lang bạt mưu sinh, phụ nữ ở nhà chuyên tâm nội trợ nhưng bây giờ ngược lại, đàn ông trông nom nhà cửa ruộng vườn để phụ nữ ra ngoài xông pha. Không phải chỉ nghĩa hẹp ra ngoài buôn bán, làm việc mà thực sự họ phải rời bỏ gia đình, xa quê hương tới những vùng đất xa xôi. Vào Nam, ra Bắc là còn gần chứ ráng chạy được vài chục ngàn đô ký quỹ là bôn ba sang xứ người rồi. Cái gánh chồng con kẽo kẹt đầy hy sinh, cam chịu đó chẳng biết khi nào cất được khỏi vai người phụ nữ VN.

Hàm Anh

Xem thêm

Nhận báo giá qua email