Thuyền Đời: Cuộc Đời ( chương 4)

Kỳ trước, Chương 3: Con Thuyền.

Vũ bước đến đưa bao thuốc hút cho tôi:
– Mày thấy sao?
Lấy điếu thuốc, tôi cám ơn Vũ, gật gù:
– Ngon lành! Không phải loại ghe đi biển, nên nó ít bị để ý. Có chiếc ghe như thế này là quá tốt rồi!
Vũ nhìn tôi, hỏi nhỏ:
– Sao?… có muốn theo tao?
Quá bất ngờ, tôi ngập ngừng:
– Muốn chứ!… Nhưng mày có dám chứa tao? thằng tù “cải tạo,” còn bị “quản chế,” không giấy tờ
rời nhà hợp pháp?
– Sợ gì mậy?…
Rồi Vũ hạ giọng nói nhỏ với tôi:
– Vài tuần nữa, ghe sẽ xuống nước… Tao cho mày hay!
Tôi lặng người, không biết phải nói sao!
Ra đi tìm tự do là ước mơ của tôi; của hàng triệu người dân trong chế độ cai trị hiện nay. Nhưng ra
đi cũng là bỏ lại gia đình thân quyến, bỏ cả quê hương; thì biết phải làm sao cho vẹn tròn nghĩa tình
đây! Ước mơ có điều kiện để trốn đi, bây giờ thành sự thật. Sự thật đến thật đột ngột. Tất cả quá ngỡ
ngàng…
Một khúc quanh bất ngờ!
Một đoạn đời của tôi từ nay gắn liền theo chiếc ghe mang số 3392!

Đây! Chương 4: Cuộc Đời

. . .

Thế là tôi trốn xuống ghe, để cùng Vũ vượt biển!
Rời thành phố, chiếc ghe đã vượt qua những dòng sông uốn khúc, đục màu phù sa, nối
nhau như bất tận. Nếu không có bóng dáng đe dọa của những họng súng AK, trên các tàu
tuần công an, thì dòng sông quê hương miền Nam mình thật an bình, đầy thơ mộng. Chạy
một mạch từ sáng đến chiều thì ghe tới điểm hẹn tại xóm cửa biển. Tiếc thay, nhiều nhóm
thân quyến đã bị lạc điểm hay không đến đúng hẹn; chúng tôi đành phải hủy bỏ kế hoạch vượt
biển, và chạy ghe đi lẩn tránh nơi khác để khỏi bị bắt.

Không trốn đi được, mà quay ghe trở về
thì phí mất một chặng đường dài, gần suốt ngày nay, đã may mắn vượt qua, để chạy tới vùng
cửa biển, và còn bị công an địa phương tại bến nhà tóm gọn. Trong tình cảnh này, chỉ còn mỗi
một cách đó là ẩn náu quanh quẩn, hay nằm trà trộn trong các đám đông ghe xuồng tại đây.

Vì là ghe lạ và người cũng lạ mặt, cho nên chúng tôi phải di chuyển ghe thường xuyên, từ bờ
này sang bến khác, để không bị lưu ý. Đồng thời, Vũ và anh Ba, anh rể của Vũ, ráo riết làm
quen với ghe tàu xung quanh để tìm mối chở hàng. Hàng hóa gì cũng được; miễn sao có việc
chuyên chở cho giống như ghe làm ăn. Trước hết, tránh tai mắt của công an địa phương. Kế
đến, kiếm tiền mà sinh sống qua ngày; trong khi chờ thời cơ khác để trốn đi.
Chở hàng nào cũng có cái dễ và cái khó riêng của nó!
Chở cá khô thì khuân vác thấy cồng kềnh, nhưng thực ra không nặng nề cho lắm. Cá biển
đã xẻ thịt và banh dẹp ra phơi nắng, thành các mảng khô lớn và dầy, nhưng nhẹ hơn cá tươi.
Khô chất đầy khoang mà vẫn nhẹ ghe. Khỏe re! Đến chừng giao hàng xong thì mới kinh
hoàng, trắng mắt ra. Giòi trắng dưới khoang ghe!

Giòi trong khô không phải là chuyện mới lạ. Chúng sinh ra từ các giống ruồi, nhặng; rồi lớn
lên, sống bám và rút trốn trong khô. Thừa cơ hội các kiện hàng nằm yên tĩnh, lúc ghe chạy,
giòi theo nhau chui ra, bò khắp nơi, len lỏi ra vào trong mọi kẽ kẹt dưới khoang chứa hàng.
Dọn rửa ghe, thấy mà gớm tay, gớm chân, rợn cả người. Mới sạch sẽ đó, chốc sau ngó xuống
thì lại thấy lúc nhúc trắng trong khoang. Thế là phải rửa ghe tiếp tục. Thật là ngán ngẩm. Cảnh
tượng ấy làm mình liên tưởng đến những kẻ gọi là “giải phóng” ở miền Nam trước đây. Chúng
chui rúc, len lỏi, sống bám theo dân lành, để rồi sau ngày 30 tháng Tư thì lễnh nghễnh, lúc
nhúc khắp mọi nơi; chúng gợi nhắc cái cảnh tượng ghê tởm của lũ giòi trong khoang ghe sau
chuyến chở cá khô…

Chở cây rừng thì khuân vác cây nặng nhọc hơn cá khô rất nhiều, bị bê bết bùn dơ, và trầy
dập người. Nhưng dội rửa bùn sình, dọn dẹp ghe dễ dàng, chỉ trong chốc lát là xong; không
như lần chở cá khô của hợp tác xã. Cái khó khi chở cây rừng, đó là chở ít thì trông không
giống ai, không giống ghe tàu trong đoàn; dễ bị nghi ngờ là đi dọ đường để vượt biên. Để bị
xét hỏi thì lộ ra tôi không có giấy tờ hợp pháp. Cho nên ghe phải chở đầy cây, cho giống như
dân làm ăn thứ thiệt. Ghe bị khẳm nặng, nằm lấp xấp mặt nước; làm cho việc lèo lái rất khó
khăn, và chúng tôi thì chưa có nhiều kinh nghiệm trên sông nước. Lo lắng canh sóng, canh gió
để chạy, và ngó chừng con nước đổi chiều mà điều chỉnh dây neo. Sơ sót rất dễ bị chìm ghe.
Theo đoàn ghe, dập dềnh trên sông, căng thẳng với lo âu cả ba ngày trời. Giao cây xong thì
vui mừng lắm, nhưng đành phải từ biệt các bạn mới trong đoàn ghe chở cây rừng.

Đang lo tìm mối chở hàng khác, thì may sao chúng tôi gặp được một bạn học trước đây.
Anh ấy tận tình giúp mai mối để ký hợp đồng vận chuyển, cho một công ty hải sản của nhà
nước. Như hứa hẹn, sáng nay Vũ và anh Ba sẽ đi gặp các quan cán bộ trong văn phòng điều
động đoàn ghe vận chuyển, để xin cấp cho các giấy tờ cần thiết khác.

Đi loanh quanh trên bến để trông chừng ghe, tôi làm quen với các ghe bạn, và ngó chừng
lên hướng văn phòng, ngóng chờ kết quả từ anh Ba và Vũ. Thấy anh Ba và Vũ rời văn phòng
tươi cười, sải chân bước nhanh xuống bến ghe đậu, tôi nghe nhẹ trong lòng. Hôm nay, anh
Ba diện quần tây, áo sơ-mi tay dài, mang dép đàng hoàng. Trông anh lịch sự và rất có nét là
chủ ghe, như đã sắp đặt lắm. Tôi theo anh Ba và Vũ nối nhau bước xuống ghe. Chiếc ghe
chao mình, sóng vỗ vào mạn ghe lao xao chào mừng. Vừa vào trong ghe, biết tôi nóng lòng
nghe chuyện, Vũ quay sang, vắn tắt nói ngay với tôi:
– Được hợp đồng rồi!

Anh Ba đưa cho tôi xem quyển “Sổ Vận Chuyển”. Nó dùng để ký nhận hàng hóa trên ghe
và để xuất trình cho các tàu đi tuần, quan trọng nhất đó là trạm công an biên phòng, trước khi
ra cửa biển. Móc gói thuốc hút ba số 5 trong túi áo ra, anh Ba vui đùa:
– Mình đốt mừng… cho thơm râu đi!

Gói thuốc thơm có đầu lọc, gốc Anh quốc, thuộc hạng sang lúc này đấy! Ăn sáng có cà
phê, kèm với thuốc lá ba số 5 chỉ mới là các thủ tục tầm thường; nhưng rất cần thiết để khởi
đầu câu chuyện, khi có việc phải gặp các quan thầy “cách mạng”.
Miền Bắc trong chế độ cộng sản đói kém thì lắm thứ khan hiếm. Dân nghèo phải hút các
loại thuốc cuốn Lạng Sơn bán ở hàng nước, chứ làm gì mà có được các loại thuốc hút như tại
Sài Gòn và các tỉnh thành ở miền Nam tự do. Thuốc điếu Hà Nội, loại có bao bì, dù in ấn và

đóng gói thô kệch, cũng dành riêng để bán theo chỉ tiêu phân phối, hai hay ba bao mỗi tháng
mà thôi; gồm các hiệu như Trường Sơn, Sa Pa hay Đồ Sơn. Người miền Bắc đâu có dám
mua thuốc hút nguyên cả bao, ở hàng nước thường bán lẻ thuốc điếu. Người ta vào hàng
nước, gọi một chén nước trà và một điếu thuốc tuỳ loại và tuỳ theo túi tiền. Hầu hết các giao
dịch qua điếu thuốc hút hiệu Sông Cầu, là đã được việc lắm rồi. Hôm nào có chuyện quan
trọng mời nhau điếu thuốc 555, là ghê gớm lắm! Cho nên dân gian miền Bắc có câu ví von mà
rằng:

“Sông Cầu là đầu câu chuyện
Ba con năm vừa nằm vừa ký…”

Nhưng, giờ thì khác lắm rồi!
Sau khi chiếm trọn đất nước, những người tự xưng là “đầy tớ của nhân dân” từ Bắc tràn
vào, hay đã từng chui lòn, núp lén trong quần chúng ở miền Nam; tuy chân còn mang dép râu,
nhưng họ đã biết khinh thường các loại thuốc lá thuộc hàng cao cấp sản xuất tại Hà Nội.
Chúng nó là thứ thuốc hút mà xã hội miền Bắc chỉ dành cho những ai là cán bộ và có chức vụ;
như các hiệu Sông Cầu, hay Điện Biên, Tam Đảo… Bây giờ thì thuốc lá “ba con năm” chỉ mới
là cái thứ qua loa cho “đầu câu chuyện” mà thôi, chưa đủ để cán bộ “vừa nằm, vừa ký”!

Vũ bật lửa cho chúng tôi đốt thuốc hút. Khói thuốc thơm, thơm lừng trong mui ghe. Vũ nói
lớn tiếng cho ghe kế bên nghe, kể thêm cho tôi biết:
– Theo hợp đồng, văn phòng bắt ghe tụi mình phải đóng thêm cái mui lá…
Vũ nói đến đây thì dừng lại, nheo mắt cười với tôi và anh Ba rồi giải thích thêm:
– … để mà che cho các thùng tôm đông lạnh và nước đá chậm tan.

Người bên ngoài mới nghe qua, tưởng như chúng tôi gặp rắc rối, bị bắt phải làm thêm cái
mui ghe; nhưng thực ra, đây là cái may mắn bất ngờ, chúng tôi có lý do để che kín ghe mà
không bị ai dị nghị chi hết. Thật là tiện lợi cho việc che giấu người, khi trốn đi sau này!

. . . .

Vậy là, chúng tôi không còn phải chạy loanh quanh kiếm chỗ đậu; đã chánh thức gia nhập
đoàn ghe vận chuyển hải sản của công ty. Từ nay, chiếc ghe số 3392 và bến tàu của công ty
hết còn xa lạ với nhau.

Chuyến đi, ghe đến hãng nước đá, lấy nước đá đem ra Trạm Thu Mua ở xa bên ngoài cửa
biển. Đây là cơ hội thật quý báu để thăm dò và làm quen với các cửa biển trong vùng. Chuyến
về, chở tôm đã được ướp nước đá xay trong thùng, giao cho công ty. Tiền công tính theo
chuyến. Chạy ra biển, rồi chạy về; dần dà làm quen thêm các ghe trong đoàn vận chuyển,
cùng các trạm biên phòng. Có công việc chuyên chở ổn định, tâm trí thấy nhẹ nhàng hơn để
sinh sống qua ngày, mà chờ thời tiết và kiếm cơ hội thuận tiện để vượt biển.

Tùy cửa biển, cần từ bốn đến sáu giờ, để chở nước đá ra bên ngoài cửa biển và chạy tới
Trạm Thu Mua. Tôm từ Trạm Thu Mua về tới công ty hải sản, thì có nhân viên kiểm nhận và
chuyển hàng hóa lên bến. Chờ cho các thùng tôm lên bến xong, dù giữa đêm khuya cũng phải
lo rửa ghe cho sạch ngay. Nước tôm chảy ra đã nằm ứ trong khoang ghe gần cả ngày rồi, bắt
đầu sình thối lên rất nhanh, và mùi hôi ấy rất là đậm đặc, khó làm tan biến lắm. Không lười
biếng được!

Mỗi chuyến ra biển, ba anh em chúng tôi xuống khoảng hai trăm cây nước đá. Cây nước
đá nhẹ hơn bao xi-măng, nhưng khó vác hơn. Nhất là khi đi trên tấm ván gác từ trên bờ xuống
mũi ghe. Tấm ván dài, nhấp nhô bất chừng theo nhịp đi của nhiều người và sóng nhồi lắc. Cây
nước đá vừa trơn, vừa lạnh, lại thêm rất là cứng.
Lỡ mà sút tay, nhảy tránh không kịp, nó rớtxuống trúng bàn chân trần; không thương tật thì cũng bị đau kinh khiếp lắm. Thế nhưng, vácnước đá riết rồi cũng quen đi, bớt ngán. Mấy đứa trẻ trong nhóm chèo xuồng đưa đò, như Hải,Tân, Hòa, Mạnh… đều vác nước đá rất chuyên nghiệp. Khi giao hàng cho Trạm Thu Mua thìnhân viên đếm đầu cây nước đá để ký nhận. Cây nước đá dài, ngắn họ biết. Nhưng do ghe vàtrạm đã có ăn nhậu với nhau, họ thường làm lơ cho qua, miễn sao đừng chặt cây nước đángắn quá đáng. Biết tin ghe đi lấy nước đá, bọn trẻ tụ tập sẵn tại hãng để chờ ghe đến.
Nhờcó lý do phụ giúp ghe, mấy đứa nó trà trộn trong khoang và lén chặt nước đá một đoạn ngắn,rồi lòn dấu lên xuồng để đem đi bán kiếm tiền. Sau ngày Sài Gòn bị mất tên, việc học hành
trong chế độ công sản có lắm thứ nhiễu nhương, rất nhiều hao tốn, vì các khoản tiền phải nộp
cho nhà trường, cho Nhà Nước! Nhiều trẻ thơ ở miền Nam đã phải bỏ học, mà lăn lóc kiếm
việc làm để phụ miếng ăn với gia đình, như chèo đò đưa khách trên sông, kiếm thêm tiền mỗi
khi ghe vận chuyển xuống nước đá…

. . . .

Sáng sớm hôm nay, nhằm lúc không ghe tàu nào chở hàng đi hay trở về, bến tàu của công
ty hải sản hầu như đang còn đang ngái ngủ. Hai bên cầu tàu, nối từ bến ra vùng nước sâu
ngoài sông, ghe tàu nằm kề cận nhau. Vài chiếc ghe có người thức sớm, họ ngồi trên mui yên
lặng bên tách trà, hay ly cà phê cùng khói thuốc… đôi ba người kéo nhau lên trên bến, ngồi rù
rì nói chuyện, để bạn đồng thuyền còn mệt mỏi, được nằm ngủ thêm.
Thỉnh thoảng, bên ngoài sông có ghe xuồng ra chợ chạy ngang qua, mặt nước sông lao
xao, chao động trong chốc lát. Sóng nối nhau đùa vào, xào xạc êm nhẹ bên mạn gỗ, như vỗ
về giấc mơ muộn màng.
Giấc mơ an bình, hạnh phúc trên quê hương mình!
Bây giờ, an bình và hạnh phúc chỉ còn là mộng ước, và chỉ về trong giấc mơ của dân lành!

. . . .

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, là ngày định mệnh vô cùng oan nghiệt!
Nước Việt Nam tự do, với chính phủ hãy còn non trẻ, đã bị đảng cộng sản cướp đoạt và
hủy diệt. Khởi đầu bằng hàng loạt thủ tiêu, đấu tố, tàn sát vô cùng man rợ. Hàng triệu người
kinh hoảng, phải rời bỏ quê làng ở miền Bắc, trốn chạy vào miền Nam. Đây là cuộc di cư tìm
tự do, vĩ đại nhất trong lịch sử. Còn là khởi đầu của những chuyến vượt trốn đẫm máu và
nước mắt sau này; khi lực lượng cộng sản chiếm trọn phần đất tự do ở miền Nam, vào tháng
Tư năm 1975.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, thêm một lần lịch sử sang trang; những trang sử đen, lòng
người ai oán!
Tuy người Việt yêu quê hương, gắn bó với làng mạc, ruộng vườn, sông nước… nhưng,
không thể chấp nhận cuộc sống nô lệ dưới chủ thuyết cộng sản. Một lần nữa, vì hai chữ tự do,
người dân cô thế lại phải liều mình, tìm đường vượt trốn chế độ cai trị bất nhân. Gần nửa thế
kỷ qua, vết thương di cư vẫn chưa lành; tổ quốc và tình người vẫn đoạn ly!
Trong lời nhạc 1954-1975, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại biết bao thảm cảnh rất thật, và rất
thương tâm của người dân Việt. Vì cộng sản, người Việt đã phải hai lần biệt xứ; bỏ quê, bỏ
nước.

“Một ngày năm bốn, xa mộ ông cha
Với lũy tre xanh, khóm chuối bên sau nhà

Một ngày năm bốn, cha phải chia lìa
Một mảnh đất, nóc gia cha làm ra
Một ngày năm bốn, ôi Thành Đô ơi
Tiễn bước cha đi, vẫn giữ tên muôn đời
Hà Nội yêu quý không thể ngăn người
Vì người đã ra đi theo Tự Do
. . .
Một ngày bảy lăm, con bỏ hết giang sơn
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống
Giờ nơi nước mình, niềm đau thay nỗi vui
Sài-gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người
Một ngày dĩ vãng, ôi gần hay xa
Đất nước hai phen chứng kiến bao chia lìa
Đời của cha con, hai lần vẫy chào
Chào từ giã quê hương trong hận đau”

Thế đấy!
Triệu người sống với đời lưu vong, trong hận đau…
Triệu người bất hạnh đã vùi thân xác trong rừng, ngoài đại dương, trên hoang đảo…
Hàng triệu tang thương đã không còn lần được kể lại!

. . .

Biển động mấy ngày nay, ghe tàu không đi đánh cá được, Trạm Thu Mua ngoài
biển không có tôm cá gì hết. Đoàn ghe vận chuyển nằm bến công ty cả ngày nay; lóng
nhóng chờ tin, nhưng rồi cũng không có tin gì khả quan hơn. Ăn cơm chiều sớm cho
xong, khi còn ánh sáng mặt trời, ba anh em lên mui ngồi chuyện trò cho mát.
– Tối nay có chuyến hông anh Ba?
Có tiếng hỏi thăm của Hải. Miệng hỏi anh Ba, tay chèo chiếc xuồng cập vào ghe chúng tôi,
Hải gác đôi chèo lên khoang, nó vịn thành ghe mà chồm người lên cười chào và chờ tin.
Anh Ba nhìn xuống Hải:
– Hồi nãy lên văn phòng thăm chừng thì anh thấy đóng cửa dìa hết rồi…

Vũ nói thêm vô:
– Đâu còn ai ký sổ sách, mần sao mà chạy ra biển được!
Hải ngó vòng quanh bến tàu:
– Chiều nay, sao coi bộ dắng quá! Thôi, … chắc tui chèo dìa bển nghỉ cho rồi… dới lại lục
cơm ăn, đói bụng quá rồi!
– Khoan dìa đã!
Vũ nói rồi đi xuống bếp bưng nồi cá kho lên mui ghe:
– Anh Ba với tụi tao mới ăn chiều rồi. Lên xúc cơm ăn đỡ đi… Ở đây thêm một lúc, coi còn
ai gọi đò không…
Nghe vậy, Hải vui mừng cột xuồng vào phía sau ghe, rồi chui vào bếp lấy chén đũa. Tôi
tiếp Hải chuyền nồi cơm lên trên mui. Xới xới nồi cơm, Hải ngập ngừng:
– Mấy anh ăn rồi! … dậy… em ăn hết nồi cơm nghen! …
– Ừ, ăn hết đi em!
Anh Ba và tôi ngó nhau mỉm cười khi nghe Vũ lập lại tiếng xưng “em” ngọt ngào của Hải.
Thời buổi sau khi bị cộng sản cưỡng chiếm, mà trên ghe còn tiền mua gạo để ăn như hôm
nay thì rất may mắn. Tuy là thứ gạo rẻ tiền và đã bị tồn kho lâu năm, được lòn ra bán ngoài
chợ, phải vo nhiều nước cho hết mùi mốc; nó cũng đang là chén cơm trắng mà nhiều gia đình
thèm ước, có tiền để mua cho con mình. Chiều nay thiếu món canh chua, nhưng cơm trắng
với cá kho thì cũng vẫn ngon miếng cơm lắm.

Muốn ăn cơm trắng cá kho
Trốn cha, trốn mẹ, xuống đò theo anh

Mớ cá vụn tạp nhạp không bán được, ghe đánh cá quen xúc cho, anh Ba đem kho mặn
một nồi, để dành ăn được nhiều ngày. Cá mà qua tay anh Ba kho, thì cá gì tôi thấy cũng đều
ngon cơm, ngon miệng. Hôm nào có tiền, cho thêm chút mỡ hành thì đúng là món cá kho
thơm lừng, thơm bát ngát; như mấy câu ca dao đậm đầy tình nghĩa của người miền Nam:

Con cá lành canh, cô bác kêu rằng tanh
Để tui kho mỡ kho hành
Nó thơm bát ngát,
Chỗ tui đành, cô bác không đành

Tui để người thương ở lại mà rách lành cũng ưng

Cá lành canh là loài cá nhỏ cùng họ với cá cơm, dài chỉ khoảng hai phân. Hình dạng
mỏng, mình có ít vẩy, đa số sống thành đàn ở hạ lưu các sông ngòi vùng nước ngọt. Cá lành
canh được dùng nấu canh hay làm chả, hơn là đem kho. Nhưng thường thì cá nào cũng thế,
chịu khó và biết cách kho cho đúng điệu mà ăn với cơm trắng thì đều hao cơm, tốn gạo lắm.
Gắp hết cá rồi, chỉ còn nước cá kho dính tộ, cho cả chén cơm trắng đầy vun vào tộ mà trộn,
thì dù đã no vẫn còn thèm thuồng muốn ăn thêm.
Thấy Hải lùa cơm ăn trông như không muốn dừng đũa, anh Ba có vẻ vui trong lòng, ngó
nó mà chúm chím cười hoài. Để Hải tự nhiên ăn cơm, chúng tôi ngồi hút thuốc nhìn quanh
bến tàu. Bến tàu chiều nay không có chuyến về, cũng không có chuyến đi, thì đúng là “vắng
quá”, như Hải nói.
Ngày sắp hết! Coi như sắp hết một ngày ghe phải nằm bến…
Chiều về…
Nước ngoài sông lấp lánh ánh nắng dịu dàng của buổi chiều. Nắng chiều vẫn đẹp trên
miền Nam, trên dòng sông quê hương; trên dòng Cửu Long. Dòng sông mênh mông, vẫn còn
đó chiếc ghe, con thuyền, còn đó chuyến đò gắn liền cùng tình người miền Nam. Những
chuyến đò đưa người qua sông, đưa người viễn xứ; nay âm thầm lén lút đưa người đi vượt
biển tìm tự do. Bây giờ, dòng sông ngậm ngùi với những tiễn biệt; ra đi không hẹn được ngày
trở lại.
Có câu hát rằng:

“Con sông nào biết đường ra biển
đều biết đường đến bến Tự Do!”

Đường đến bến bờ tự do, đêm đêm trở về trong giấc mơ, thôi thúc, khoắc khoải, kinh
hoàng. Bên giấc mơ với nụ cười, với nước mắt tủi mừng nơi đất nước và bầu trời tự do xa lạ;
còn có những cơn ác mộng bị đắm chìm trong biển sâu, hay đau đớn oằn người trong gông
cùm cộng sản…

Đại dương mênh mông!
Thuyền đời mong manh quá!

(KỲ TỚI: CHƯƠNG 5 – ĐÊM VẪN ĐEN)

Bùi Đức Tính

Xem thêm

Nhận báo giá qua email