Xin Đừng Buông Tay

Xin đừng buông tay

Michel Bussi

Dịch giả: Nguyễn Thị Tươi

Khi trở lại phố Abattoir ba ngày trước, anh đã đi qua nhà ga đường bộ cũ. Khoảng chục cô ả đang chờ khách dưới những cột đèn, phía trước bức tranh tường to tướng. Theo phản xạ, Martial lái chậm lại. Trong số những cô gái lai, anh đưa mắt tìm Aloé. Cô không có ở đó. Ánh mắt anh lướt trên những cô bé gần như còn ở tuổi thiếu niên, những cô gái người Créole tóc vàng ánh kim, những ả béo mặc chật ních, nhưng không có ai giống với cô. Hoặc cũng có thể anh không nhận ra cô. Tin tức gần đây nhất về cô cũng đã từ cách đây năm năm. Anh biết cô đã đổi tên. Có thể cả màu tóc. Thậm chí có thể cô đã có con.

Thêm một hơi nữa.

Aloé sẽ sống như thế nào nếu không gặp anh trên đường đời? Nếu cô không gắn bó với Alex.

Ba ngày trước, anh đã nói chuyện này với Liane. Hai người đã cãi nhau, như mỗi lần anh nhắc đến quãng đời đó. Ít ra là những gì mà Martial kể với Liane.

Một trận cãi vã…

Tất cả những chuyện đó lúc này đối với anh thật phù phiếm…

Đó là trước thời điểm không thể quay lại. Martial dí mẩu thuốc vào cửa sổ.

Anh đã quá quen với việc nói dối. Nói dối Aloé, ở một cuộc sống khác. Nói dối Liane trong tuần này. Nói dối cảnh sát từ ba ngày nay. Bây giờ là nói dối con gái.

Trốn tránh. Nói dối. Bỏ chạy. Giết người. Anh có lựa chọn nào khác chứ?

Chương 19

Hang của những người Pháp đầu tiên

Chủ nhật

Ngày 31 tháng Ba năm 2013

21 giờ 26

Chiếc Renault 5 cũ của Christos chậm rãi lăn bánh trên vùng Thượng của Saint Louis. Ông lái chậm hơn nữa khi đến khúc cua hẹp trên phố Combavas. Lấn sang một nửa đường, khoảng chục gã người Cafre, tay cầm bia, đang đứng chờ trước chiếc xe tải bán hàng, nơi một cái bàn nhựa trắng nhô ra bên dưới tấm vải bạt màu cầu vồng căng giữa hai cây cọ.

Cầu vồng quốc gia cái con khỉ, Christos triết lý. Ba lần lượn lách nữa. Tiếp theo mấy công trình trên cao là những căn nhà, những ô vuông nhỏ xíu lợp tôn có vườn dùng làm nơi đổ rác bao quanh. Những chiếc xe đạp han gỉ. Những bông hoa bị đánh ra khỏi chậu. Gạch vữa và sắt vụn.

Khu làng nghèo. Còn nữa, những rặng phi lao đã che lấp phần tồi tệ nhất. Christos ngoặt gấp ở lối rẽ tiếp theo. Ông chỉ thật sự hiểu đảo Réunion vào ban ngày, khi ông nhìn từ trên cao xuống; không phải từ một chiếc trực thăng, không cần thiết, chỉ cần kết nối Internet với Google Maps. Ông đã khám phá hòn đảo bằng phẳng này từ tín hiệu vệ tinh, nó được bao phủ bởi hàng nghìn ô vuông nhỏ màu trắng, những ngôi nhà giống hệt nhau ở chỗ được bao bọc bởi thiên nhiên miền nhiệt đới, được nhuộm vàng bởi cùng thứ ánh nắng mặt trời, chỉ có thể phân biệt nhờ một chi tiết duy nhất: thỉnh thoảng một hình ô van xanh lơ lại điểm xuyết những ngôi nhà màu trắng; thỉnh thoảng không… Nhìn từ trên trời, mối tương quan rất đơn giản: càng đến gần bãi biển, ta lại càng gần với vùng phá, nơi ta có thể tắm mà không gặp phải vách núi, cá mập, các dòng hải lưu, và những ngôi nhà lại càng ở gần một hình tròn xanh lơ hơn. Luận thuyết quyết định ở đây không có bất cứ ngoại lệ nào: mật độ bể bơi trên đảo hoàn toàn trái ngược với nhu cầu lý thuyết…

Ở trụ sở đội cảnh sát, Christos đã chỉ cho Aja xem bản đồ, cô chỉ nhún vai. Ông đã thấy phép ẩn dụ có ý nghĩa đến khó tin. “Một hòn đảo, một thế giới”, câu khẩu hiệu du lịch của Réunion tuyên bố. Nói cho cùng thì không sai. Trên bốn mươi kilômét vuông, tập hợp đủ một bộ mẫu đại diện cho những bất công giữa các dân tộc trên khắp năm châu. Một phòng thí nghiệm của nhân loại.

Hòn đảo này là khoảnh sân hiên đặt bên bờ của thế giới, để quan sát tương lai loài người. Ở trong bóng râm, đi dép xỏ ngón, tay cầm một cốc rượu pân.

Christos đậu xe trên phố Michou Fontaine, một con phố nhỏ dốc thoai thoải đậu đầy những chiếc xe han gỉ. Cứ như một bãi xe thải, nhưng thực ra chỉ là một bãi đỗ xe. Ngôi nhà của Imelda là nhà số bốn trong khu. Ba đứa trẻ đang hút thuốc trước nhà, chúng ngồi trên ba tấm ván bị mọt dùng làm bậc tam cấp.

Nazir là đứa lớn nhất trong lũ con trai của Imelda. Mười lăm tuổi. Đôi chân dài trông như con sếu mặc quần soóc. Nó phả khói và ngước đôi mắt xanh lục về phía Christos.

– Này, chú đấy à, Derrick? Không phải chú đang bắt kẻ thù số 1 của chúng ta sao?

Một chiếc đài đặt trên cái bi đông nhựa rống lên cách đó năm mét. Vụ truy đuổi Martial Bellion đã trở thành tin tức dài kỳ vào buổi tối.

Nazir rít một hơi thuốc rồi nhấn giọng:

– Cháu cứ tưởng chú là James Bond…

Christos đặt chân lên một bậc tam cấp.

– Chú đang nghỉ ngơi, nhóc ạ. Cháu thấy đấy, cả Derrick cũng vậy, ông ta ngủ, ăn, gây chuyện. James Bond cũng thế.

Hai đứa bạn của Nazir cười lăn cười bò. Nhưng Nazir thì không. Nó đã tỏ vẻ chán chường.

– Không hiểu mẹ thấy chú thế nào nữa. Người Zoreille, lại còn là cớm. Và ngu ngốc.

Christos bước lên hai bậc, đưa mắt nhìn xuống đứa trẻ.

– Nhưng lãng mạn. Hãy nhớ lấy bài học này, nhóc ạ. Ngủ, ăn, gây chuyện, nhưng theo cách lãng mạn. Bí mật đấy. Nào, cho chú hít một hơi nào…

Nazir kẹp mẩu thuốc giữa hai ngón tay rồi giấu ra sau lưng.

– Đừng động vào, chú, chất cấm…

– Thêm một lý do nữa. Đừng quên là cháu đang nói chuyện với một nhà chức trách đã tuyên thệ.

Đôi mắt cậu nhóc ánh lên vẻ thách thức.

– Thế thì sao?

– Thế đấy! Bây giờ thì quên cái mẩu thuốc đi và lôi gói cần sa nhét trong túi cháu ra đây. Tịch thu!

Không chút bối rối, Nazir lôi ra từ túi quần soóc một nhúm lá gói tròn. Cậu vung vẩy nó trước mặc viên cảnh sát.

– Chú nói cái này hả? Cháu để lại cho chú với giá 150 euro. Nó đáng giá gấp đôi đấy, nhưng chú gần như là người nhà, đúng không?

Christos đưa tay ra.

– Mua. Chú sẽ đưa tiền cho mẹ cháu.

– Chết tiệt…

Gói ni lông lại quay vào đáy túi. Nazir chỉ nhón một lá giữa ngón cái và ngón trỏ.

– Này, Derrick, cầm lấy. Quà của nhà trồng được! Cần sa tự trồng, mới hái sáng nay…

Khi Christos vào trong nhà, tay cầm điếu thuốc, Imelda quay lưng lại phía ông, cúi người xuống chậu rửa. Ba đứa trẻ, Dorian, Joly và Amic ngồi quanh bàn.

– Christos, chết tiệt! Imelda kêu lên nhưng không quay lại. – Thuốc của anh!

Viên cảnh sát thở dài.

– Không hút trước mặt lũ trẻ! Với Nazir cũng thế, em nghe thấy hết rồi. Lẽ ra anh không được khuyến khích nó, nó mới mười lăm tuổi. Anh đang làm gương cho nó đấy…

Christos bật ho.

– Làm gương, chỉ có thế thôi! Cha đỡ đầu của nó khi có em ở đây. Đừng có dọa dẫm tinh thần vớ vẩn với anh, Imelda.

Bát đĩa va vào chậu sành sứt mẻ. Bộ đồ ăn rơi vào bồn rửa ầm ào như dòng thác sắt.

– Trong khi chờ đợi, dập thuốc đi. Và ngày mai, anh hãy tịch thu gói cần sa rồi nhổ đám cây trong vườn. Nếu anh không muốn chơi trò làm cha, ít nhất hãy chơi trò cảnh sát.

Christos nhổ mẩu thuốc xuống đất. Anh chỉ kịp vớ lấy chai rượu rum Charrette rồi đổ phịch xuống chiếc ghế gỗ.

– Chết tiệt, đây là buổi tối của anh mà…

Imelda quay lại rồi thu dọn đám chén đĩa trước mặt lũ trẻ bằng một động tác chính xác.

– Em đã nghe thời sự. Tin nóng ở Saint Gilles mà. Em không nghĩ anh về sớm thế.

Rượu rum thiêu đốt vòm họng của viên thiếu úy.

– Thêm hoặc bớt một gã ngốc trong trò chơi ú tim cũng chẳng thay đổi gì nhiều…

Imelda nhún vai. Cô quẹt diêm và châm bếp ga, bên trên là cái nồi nhôm.

– Chắc anh chưa ăn gì đúng không, em cá là thế?

Christos chỉ lắc đầu. Ông say đắm nàng tiên người Cafre này. Ông say đắm món cà ri của cô. Ông say đắm được đến ngồi trong căn nhà tồi tàn này.

Ông vừa uống hết cốc rượu thì bé Joly nhảy lên đầu gối. Mái tóc dài xoăn của cô bé thơm mùi dầu gội sữa dừa.

– Bác kể cho cháu nghe chuyện gã độc ác nhé?

Christos đẩy cái chai ra ngoài tầm tay cô bé.

– Độc ác thật sự nhé?

– Vâââng.

– Một câu chuyện về gã độc ác đã giết người Créole với một con dao lớn. Kẻ đã giết vợ mình để độc chiếm cô con gái nhỏ nhé?

Joly phá lên cười.

– Vâââng!

Imelda xếp bát đĩa vào trong một cái chạn bằng phoócmica. Qua lớp thủy tinh gây biến dạng của chai rượu rum, Christos không nhìn thấy gì khác ngoài cặp mông nữ hoàng của cô. Ông điên cuồng ham muốn cô, ở đây, ngay lúc này. Imelda sở hữu thân hình được tạo ra để quan hệ kiểu chó.

Joly giật tay áo ông.

– Ồ, Jésus, bác nhìn mông mẹ cháu hay kể chuyện cho cháu nghe?

– Đồ ác mỏ!

Christos vui vẻ lắc lư cô bé. Joly cười nắc nẻ. Dorian và Amic thừa lúc nhảy vào đấu trường nhập vai đấu sĩ.

– Cẩn thận, nóng đấy, – Imelda vừa cảnh báo vừa đặt đĩa cà ri trước mặt Christos. – Nào, trẻ con, tránh ra, lên giường nào!

Người phụ nữ Cafre buộc những lời phản đối phải câm bặt bằng một cử chỉ dữ tợn với tấm giẻ lau. Cô lại quay sang Christos.

– Lát nữa, khi chỉ còn hai ta, em có chuyện phải nói với anh. Chuyện nghiêm túc…

– Thế thì bỏ đi.

Imelda nói tiếp, không đổi giọng, hình như có thêm chút phấn khích:

– Nói về vụ gã giết người đang bỏ trốn ấy, đồ ngốc! Có điều gì đó trong câu chuyện kể tóm tắt trên tivi khiến em thấy băn khoăn. Điều gì đó kỳ quặc, nhưng thật lạ lùng là hình như tuyệt nhiên không ai nghĩ đến…

21 giờ 53

Dừng hai mươi phút. Đó là thời gian Aja cho phép mình nghỉ ngơi. Tay cầm đồng hồ.

Cô đã muốn rời khỏi Saint Gilles. Như thường lệ, khi cần nhìn nhận lại mọi chuyện, cô đã lái chiếc 206 đến tận Saint Paul, để thả bộ ở đó khi đêm xuống, dọc theo rìa khu nghĩa trang biển vắng vẻ, khu chợ vắng vẻ, động Những người Pháp đầu tiên ẩn mình dưới rặng phi lao.

Aja vừa gọi về nhà. Mọi chuyện đều ổn. Tom đang chăm nom Jade và Lola. Aja ghét gọi điện thoại như thế, tóm tắt cả một ngày trong vài ba câu, gác máy gần như ngay lập tức để không chiếm đường dây, sau đó sắp xếp lại những lời mà người chồng cảm thông và hai bé gái phấn khích hét vào ống nghe.

Tự chăm sóc mình nhé, em yêu! Chúng con nhìn thấy mẹ ở ti vi, mẹ ạ… Em yêu, đừng lo lắng, anh quán xuyến được. Khi nào mẹ về, hả mẹ? Hai đứa chờ em gọi điện thoại rồi mới tắt đèn. Ba đọc Ti Jean cho chúng con nghe, mẹ ạ, sau đó ba tìm thấy con tắc kè hoa, nó trốn dưới đống đá sau nhà… Hôn mẹ đi các con, mẹ đang vội…

Tom thật hoàn hảo.

Từ sáu năm nay, Tom là thầy giáo dạy ở khu Thượng của Saint Gilles. Anh phụ trách lớp lớn ở trường mẫu giáo. Bình tĩnh. Biết điều. Đáng yêu. Cô thường hỏi anh tại sao một anh chàng hoàn hảo như anh lại chịu đựng được một ả đáng chán như cô.

Không đáng chán, anh thường trả lời như vậy. Mà kiên quyết. Kiên quyết…

Đôi khi Aja có cảm giác đang chung sống với một quả bóng tập đấm, luôn đứng vững trên bệ: cô càng đấm, nó lại càng quay về đúng chỗ của mình. Nguyên vẹn. Một quả bóng tập đấm đẹp đẽ bằng vải nhung đen. Một ông bố lý tưởng. Một người tình dịu dàng.

Aja không thích ngủ mà không có Tom. Trừ phi có một kẻ giết người dang dạo chơi trên đảo cùng với bé gái trạc tuổi Lola.

Cô xem giờ trên điện thoại di động. Cô còn bảy phút nữa. Chẳng có lý do gì phải căng thẳng, Morez đã được yêu cầu rõ ràng là phải gọi khẩn cấp cho cô nếu có bất kỳ thông tin mới nào. Lúc này, bộ đàm vẫn im lặng.

Aja đi về phía động Những người Pháp đầu tiên. Từ xa, có thể thấy thấp thoáng cảng Pointe des Galets… Theo truyền thuyết, chính ở nơi này những cư dân đầu tiên của hòn đảo đã cập bến. Đảo Bourbon, như người ta gọi thời đó, không có người ở. Không có thổ dân bản xứ để dân di cư tàn sát. Hòn đảo chỉ là một viên sỏi giữa đại dương, không thuộc về ai. Hoặc thuộc về tất cả mọi người…

Aja đi dọc theo khu nghĩa trang biển. Xe của cô đậu ở đầu đường. Cách đây không lâu, cô đã được biết rằng kỵ của mình được chôn ở đây, trong một nấm mồ nhỏ giữa những nấm mồ của cướp biển. Abhi Purvi, kỵ của cô, đến đảo vào năm 1861, trong thời kỳ tuyển mộ, thuật ngữ địa phương phù hợp về mặt chính trị, dùng để chỉ chế độ nô lệ sau khi nó đã bị Cộng hòa Pháp cấm. Sau người Phi và người Tamoul, hàng nghìn người Zarabe đã được đưa đến làm việc trên những cánh đồng mía… Ngay trước khi ở chính quốc người ta chế ra đường từ củ cải, và toàn bộ nền kinh tế của đảo gần như suy sụp ngay lập tức. Mỉa mai thay cho toàn cầu hóa kinh tế thuở sơ khai, hàng nghìn nô lệ rơi vào cảnh thất nghiệp. Kỵ của Aja, cũng giống như những người Zarabe khác, tìm cách làm giàu bằng nghề buôn vải. Tình đoàn kết dân tộc. Ông lao vào nghề tết sợi su su để làm mũ. Việc đó đã giúp ông sống sót, ít ra cũng tốt hơn phần lớn người Créole bị chết đói. Jalad, con trai của Abhi Purvi, tiếp nối sự nghiệp của cha. Su su, sợi, mũ vẫn còn bán được chừng nào mặt trời nhiệt đới vẫn rọi vào đầu. Năm 1906 ông kết hôn ở đền Noor al Islam tại Saint Denis, đền thờ Hồi giáo cổ nhất nước Pháp. Ông mua một mảnh đất ở Saint Gilles, không biết trước được rằng ngay đối diện với mảnh đất đầy sỏi chạy dọc theo một khe nước bẩn thỉu, người Pháp sẽ xây nhà ga Saint Denis. Ý tưởng đầu tiên của ông là chuyển nhà, do tiếng ồn, người qua lại đông đúc kèm khói bụi. Rồi ông quen dần. Rốt cuộc, ông cho người dân Saint Denis thuê nhà, họ ở đó vào dịp cuối tuần để nghỉ mát tại vùng phá. Năm năm sau, ông bỏ nghề đan sợi su su và xây một nhà nghỉ dưỡng có bảy phòng.

Faris, ông nội của Aja, ra đời năm 1915 trong căn nhà lớn theo phong cách thuộc địa ở vùng Thượng của Saint Gilles. Việc làm ăn của nhà Purvi đang ở đỉnh cao. Đường sắt, và sau này là cả những con tàu cập bến Pointe des Galets, tiếp tục mang theo một cách có chọn lọc những dòng khách du lịch, những chủ doanh nghiệp, những gia đình tư sản sính ngoại. Năm 1937, Faris đặt viên đá đầu tiên dựng lên một khách sạn trên đảo Réunion xứng với tên gọi của nó, mở cửa hai năm sau đó. Các khách hàng đầu tiên của ông ở lại lâu hơn dự kiến: đó là những người châu Âu giàu có chạy trốn chủ nghĩa phát xít, đa số là người Do Thái. Tôn giáo duy nhất còn thiếu trên đảo!

Cha của Aja, ông Rahim, chào đời cùng với khách sạn Đầm Phá, vào năm 1939. Là con trai duy nhất, ông tìm được một cô gái cùng tuổi, bà Sarah Abramoff, con gái của một nhà thầu khoán người Do Thái trốn ở khách sạn trong suốt cuộc chiến, và sau năm 1945 đã không chịu rời bỏ vùng nhiệt đới để quay về với nhà nước Israel non trẻ. Giữa những hành lang quảng trường và vùng phá, họ lớn lên cùng nhau, không thể tách rời nhau. Đối với Faris, ông nội của Aja, hôn lễ của họ đã được sắp xếp. Khả năng kinh doanh của ông cộng với tài khoản ngân hàng của ông bố vợ sẽ giúp viết nên một câu chuyện thành công giữa người Do Thái và người Hồi giáo, chỉ có thể xảy ra ở Réunion. Một hứa hẹn về đế chế du lịch thống trị vùng Mascareignes. Cả hai gia đình cùng thống nhất gửi Rahim và Sarah sang Mỹ để học thương mại quốc tế. Cùng trường, cùng khoa. Rahim nhút nhát và ngoan ngoãn, nhưng không say mê doanh nghiệp gia đình bằng những điều mà ông coi là năng khiếu nghệ sĩ, thể hiện trong nghệ thuật gốm sứ màu. Về phía mình, bà Sarah nhanh chóng từ bỏ điệu zouk của thời niên thiếu để theo đuổi nhạc rock của Beach Boys. Bà không bao giờ quay về nữa. Bà tóm được một anh chàng California tóc vàng rồi định cư ở San Diego. Tiêu tan giấc mộng về tổ hợp khách sạn bên bờ Ấn Độ Dương… Cha bà, ông Natane Abramoff, rời khỏi đảo Réunion vào năm 1967 và đến sống ở Tel Aviv. Rahim một mình từ Mỹ trở về, không một xu dính túi và thậm chí còn chưa tốt nghiệp. Mọi sự lên đến đỉnh điểm khi người con trai không xứng đáng, vừa trở về đã tìm niềm an ủi trong cờ bạc và đem lòng yêu cô gái đẹp nhất của khách sạn, Laϊla, một cô gái Créole mù chữ mới lớn chuyên cọ rửa nhà vệ sinh. Người cha vỡ mộng, giận dữ, đe dọa, nhưng chẳng ăn thua gì. Rahim, người chưa từng hy vọng một cô gái xinh đẹp đến thế để mắt tới mình, lần đầu tiên đương đầu với cha. Nhằm tránh sấm sét trong gia đình và những lời mỉa mai cay độc của dòng họ Zarabe, ông cùng Laϊla lên tàu đi Madagascar. Để làm giàu bằng nghệ thuật gốm sứ, ông hy vọng thế. Một lần nữa, ông lại thất bại. Ông sống sót bằng việc chở đá để xây dựng đập hồ Alaotra. Ông chỉ quay lại đảo Réunion sáu năm sau, khi người cha chết. Laϊla khi đó đang mang thai Aja. Không tiền. Không việc làm.

Rahim được đón tiếp như một gã hủi. Từ khi ông ra đi, khách sạn Lagon, khi đó đang bên bờ vực phá sản, đã được một tập đoàn quốc tế lớn, tập đoàn Marriott Corporation, mua lại và như một sự mỉa mai của số phận, Natane Abramoff là một trong số các cổ đông. Người quản lý của khách sạn Lagon, được đặt lại tên là Alamanda, một người Bỉ bằng cấp đầy mình, không quan tâm đến việc thừa kế của gia đình. Ông ta thuê mẹ của Aja vì bà xinh đẹp, và cũng vì bà biết việc và hiểu rõ nơi này. Dần dần, nghe lời van xin của Laϊla, ông ta cũng cho Rahim vào làm việc theo chuyên môn của ông, nghề gốm sứ: phòng tắm, bể bơi, nhà vệ sinh. Aja vẫn còn nhớ, khi cô rất ngoan ngoãn chờ ba mẹ trong hành lang khách sạn, những nhân viên khác không ngại ngần mà sỉ nhục con trai của ông chủ cũ trước mặt cô. Một cuộc chiến thật sự! Faris Purvi không phải kiểu người đối xử tình cảm với đám nhân viên, và hiếm có người Zarabe nào lại bị thất bại trong việc làm ăn. Rất lâu sau đó, cô đã hiểu ra rằng tất cả mọi người đều coi Rahim là loại người yếu ớt khôn khéo cặp với cô gái xinh đẹp nhất đảo để mong phục hồi lại triều đại của mình… Đến tận khi cô lên mười tuổi, ba mẹ cô vẫn ở Plateau Caillou, khu đất chỉ có vài tòa nhà hư hỏng, tách biệt khỏi Saint Paul và Saint Gilles bởi một vách đá cao tám mươi mét, sau đó họ chuyển đến một ngôi nhà ở Fleurimont, xa hơn một chút. Rahim chết ở tuổi năm mươi hai. Aja khi đó mười bảy tuổi. Ông để lại một gia đình nghèo khổ và một ngôi nhà kỳ cục lát toàn gạch vuông. Một sự lạ ở địa phương. Mẹ cô vẫn sống ở đó.

Aja đến đó chưa đầy một lần một tháng. Tối nay, chắc là mẹ cô không bỏ sót điều gì ở chương trình thời sự trên truyền hình, tự hào vì đội cảnh sát của con gái bà được đưa lên tin đầu; và chắc bà cũng ngạc nhiên trước sự trùng hợp lạ lùng đó, khi mà khách sạn Alamanda lại là bối cảnh của một vụ án mạng.

Aja đi bộ trên bãi đỗ xe. Vài giờ nữa, như mỗi sáng, khu chợ đẹp nhất đảo sẽ họp ở đây. Vẫn vương vấn trong không khí, hoặc trong trí tưởng tượng của cô, mùi thơm của các loại gia vị, đậu khấu, nhục đậu khấu, nghệ,…

Điện thoại đổ chuông đúng lúc cô chui vào trong xe. Morez.

– Có thông tin mới chăng?

– Aja?

– Phải, Morez à?

– Ta có tin mới!

– Chết tiệt, các anh đã tóm được Bellion sao?

– Không… Không. Chị đừng mừng vội. Nhưng ta có thông tin về quá khứ của anh ta. Chị hãy tưởng tượng là Bellion có một xác chết khác đè nặng trong tâm trí… Và nhân danh Chúa, nếu nói về độ nặng đối với đầu óc, tôi nghĩ ta không thể tưởng tượng nổi thứ gì nặng hơn thế.

22 giờ 13

Dưới tấm chăn, Christos ra vào nhẹ nhàng. Thân thể Imelda ấm nóng, những nếp gấp trên làn da cô giống như tấm đệm bằng lông, bằng lá, bằng kem; ông bơi trong một vùng biển sâu, khuấy động bởi những con sóng tràn bờ và trào ra ga giường; ông bơi trong một đại dương nước ối. Trong cô, ông cùng lúc trở thành nhân tình và phôi thai. Ông có thể như thế này trong nhiều giờ, cương cứng, đi vào cô với nhịp điệu của một bài hát ru.

Thiên đường gốc.

– Em bật tivi được không?

Christos không rảnh để trả lời: không nhúc nhích thân người bị khóa cứng bên dưới vùng ngực của viên cảnh sát, Imelda vươn tay ra và cầm lấy chiếc điều khiển.

– Chuyện này cũng có chút liên quan đến anh mà, – người phụ nữ Cafre thở dài.

Trên tất cả các kênh truyền hình ở đảo, tối nay, đội cảnh sát Saint Gilles đã thay thế Les Experts: Miami…

– Chắc chắn rồi. Em có biết em đang làm tình với Horatio Caine không?

Cô mở to tiếng hơn.

– Anh không phải ở đó sao?

– Không… Bọn anh tiếp sức nhau, em thấy đấy. Sáng mai anh sẽ quay lại đó sớm. Sung sức. Aja đòi hỏi người của cô ấy phải được nghỉ ngơi…

Horatio Caine tự tặng mình một cú nhích hông dài và mạnh.

– Anh có vẻ nghỉ ngơi rất tốt rồi…

Christos chống người lên hai khuỷu tay và tiếp tục trượt nhẹ nhàng vào cơ thể êm ái đó. Chiếc tivi là một đối thủ cạnh tranh bất chính, nhưng ông không giận dữ…

– Có một bé gái đang bị nguy hiểm, Christos ạ.

– Ờ, và còn có cả những kẻ bán ma túy, những kẻ ấu dâm, những đứa trẻ chết đói ở vùng Thượng, những kẻ hưởng ứng chế độ nô lệ, và nếu anh còn chút thời gian, thì còn có những kẻ say khướt lái mô tô và những tên ma cô đứng chặn ở các cổng trường. Những chuyện đó không bao giờ hết. Anh làm sao để ngủ được, hả?

Imelda khẽ rên. Tay cô buông rơi chiếc điều khiển, mắt nhìn hút lên trần nhà. Christos tăng tốc. Viên thiếu úy hiểu rõ mỗi tiếng rên của đối tác, còn vài giây nữa trước khi nổ tung. Ông mê cái khoảnh khắc khi cơ thể Imelda phun trào.

– Hắn… hắn nguy hiểm lắm, – Imelda thì thầm giữa hai tiếng thở dài. – Nguy hiểm cho con gái hắn. Hắn… hắn đã giết một đứa trẻ khác… Cách… cách đây…

Đầu Christos chợt chui ra từ dưới tấm ga.

– Cái gì? Đứa trẻ khác nào?

Imelda hít thật sâu. Áp lực lại giảm xuống.

– Thằng bé ở Boucan Canot. Cách đây nhiều năm rồi. Anh không nhớ sao?

Không, Christos không nhớ. Chỉ có người dân đảo Réunion mới lưu trong một góc bộ não những tin vặt đầy rẫy mặt báo và xếp chúng chồng chất tuần này tiếp tuần khác.

– Nói kỹ hơn đi, người đẹp…

– Em kể cho anh nghe theo trí nhớ thôi. Chuyện cách đây ít nhất là tám năm rồi. Vào một buổi tối, em nghĩ thế. Người cha đang trông con trai trên bãi biển Boucan Canot. Ít ra thì anh ta có nghĩa vụ phải trông nó. Sáng hôm sau, người ta đã tìm thấy đứa trẻ sáu tuổi, chết đuối trên biển. Thật ra, mọi người không bao giờ biết rõ chuyện gì đã diễn ra.

Christos cảm thấy sự cương cứng của ông tan chảy giống như một que kem bị bỏ quên ngoài hiên nắng.

– Chúa ơi. Em có chắc người cha đó chính là Martial Bellion không?

– Chắc chắn. Cùng tên, cùng mặt.

Viên cảnh sát nhăn mặt như thể không tin.

Imelda nói thêm:

– Không ai trong cảnh sát gắn thông tin này với vụ án sao?

– Bọn anh tưởng Bellion là một khách du lịch…

Lời bào chữa gần như không thực tế. Họ im lặng một lát, để mặc cho những tiếng nói trong mục quảng cáo ở tivi lấp đầy sự yên tĩnh của ngôi nhà. Bàn tay Christos nắm chặt một bầu vú màu đen, môi ông trêu chọc một bên núm màu hồng.

Imelda yếu ớt phản đối:

– Chết tiệt, Christos, anh không gọi cho đồng nghiệp à?

Christos cảm thấy máu lại dồn vào phần dưới. Người phụ nữ này là một phù thủy, chỉ cần chạm vào da cô là đã khiến ông cương cứng như thời trai trẻ. Hẳn là cô phải giấu những con gà trống đen bị cắt cổ bên dưới giường, đổ nến nóng chảy vào sọ dừa, đốt long não trước khi ông đến, tóm lại là toàn bộ những trò phù phép của người da trắng, người Malbar và người Comore.

– Ngày mai. Ngày mai, vào đầu giờ sáng. Anh hứa đấy.

Ông tan chảy vào trong cô.

– Anh điên rồi, – cô thì thầm. – Anh là nỗi xấu hổ của cảnh sát đảo này.

– Ngược lại, anh có nguyên tắc. Thời gian nghỉ theo công đoàn! Đưa câu chuyện này ra vào đêm nay hay sáng mai thì có thay đổi được gì đâu. Gã đó vẫn đang lang thang…

Ông đặt đầu lên bờ vai êm ái, giống như một đứa trẻ làm nũng, trong khi khung chậu trườn lên, còn phần nam tính nhất của ông thám hiểm trong mê cung những bí mật trên cơ thể Imelda. 

22 giờ 32

Imelda vuốt ve mái tóc của Christos. Ông đã ngủ thiếp ngay sau khi lên đỉnh, giống như mọi lần. Cô vẫn tiếp tục massage đầu ông bằng đầu ngón tay, còn tay trái cô vớ lấy một cuốn truyện trên chiếc bàn đầu giường. Ố vàng và bẩn. Nữ thần báo oán. Agatha Christie. Cô lật từng trang nhưng không thật sự tập trung. Vẫn nghĩ đến vụ án. Những điều người ta nói trên tivi, chuyện Christos đã kể với cô, sự biến mất của người vợ, cái chết của Rodin, vụ gã đó bỏ trốn, lời làm chứng của các nhân viên khách sạn. Mọi thứ đều trùng khớp.

Những trang sách cũ kỹ sắp rơi ra. Có điều gì đó không khớp trong những lời khai. Ngay từ khi thằng bé con chết đuối ở biển, một số chi tiết đã khiến cô băn khoăn. Cô phải cố gắng nhớ lại. Có lẽ là tìm lại những tờ báo thời đó. Bà Marie Colette, ở phố Jean XXIII, vẫn giữ tất cả những tờ nhật báo của đảo Réunion từ hơn ba mươi năm nay.

Mà thằng bé chết đuối đó tên là gì nhỉ?

Cô lật vài trang cuốn Nữ thần báo oán. Đây là cuốn tiểu thuyết mà Nazir đã tìm mua cho cô trong một hội chợ bán đủ loại mặt hàng ở Saint Joseph. Christos thích gọi cô là Cô Marple người Cafre của ông. Ông không biết mình đã nói rất đúng, cô ngốn hơn trăm cuốn sách mỗi năm. Cả khu này mang sách đến cho cô, những cuốn sách cũ, cứ hai cuốn lại có một cuốn mất chương cuối. Vụ án này khiến cô nhớ đến một tiểu thuyết cô đã đọc khoảng chục năm trước, Vịnh Kahului, một câu chuyện cũng giống như chuyện của Bellion mặc dù nó xảy ra ở Hawaii. Mọi sự việc dường như đều kết tội gã đó… Chỉ trừ việc còn có một nhân vật khác, một nhân chứng xuất hiện rất muộn trong câu chuyện và làm thay đổi toàn bộ diễn biến. Như thường lệ, mặc dù tác giả rất cố gắng để cuốn cô theo mạch, Imelda đã đoán ra xảo thuật đó trước khi đọc đến hồi kết.

Christos ngáy như một con mèo.

Imelda phải cho bộ não hoạt động. Trước hết hãy bắt đầu bằng điều đơn giản nhất. Đào sâu trong bộ nhớ siêu phàm của cô.

Thằng bé sáu tuổi đó, nó tên là gì nhỉ?

Chương 20

Anh trai

Thứ Hai

Ngày 1 tháng Tư năm 2013

7 giờ 21

Trong gương, tôi thoáng nhìn thấy lưỡi kéo ánh lên trong tay ba. Sắc. Nhọn.

Ba đưa nó lại gần gáy tôi, tôi cảm thấy nó sắc và lạnh. Tôi cắn môi đến bật máu.

Tôi run lên vì sợ nhưng không dám nói lời nào. Ba đứng đằng sau tôi. Hẳn là ba phải đoán được nỗi sợ hãi, cảm thấy những cơn run rẩy, thấy khắp người tôi đang nổi da gà.

Ba gí lưỡi kéo sát hơn. Lần này, mũi kéo chạm vào cổ tôi. Nó lạnh băng.

Lưỡi kéo lướt lên đến tận tai trái tôi.

Tôi cố không có bất kỳ cử chỉ nào, tôi phải chờ đợi không nhúc nhích.

Không kêu gào. Không hoảng sợ.

Ba có thể làm tôi bị đau.

Làm tôi bị thương, dù không cố ý. Ba vốn không mấy khéo léo.

Thêm những lọn tóc rơi vào chậu rửa.

Những giọt nước mắt bắt đầu lăn ra từ khóe mắt tôi. Tôi đã hứa với ba là sẽ không khóc, nhưng thật khó.

Tuy nhiên, ba đã giải thích với tôi; để tìm lại mẹ, chúng tôi phải dậy thật sớm, ra đi càng nhanh càng tốt, chúng tôi có một cuộc hẹn, ở bên kia hòn đảo. Ba cũng bảo tôi phải là cô bé dũng cảm nhất trên đời.

Tôi đang như thế, và sẽ như thế, tôi hứa, để tìm lại mẹ. Nhưng dù sao, tóc tôi. Tôi từng mơ ước nó sẽ dài đến mông, nó sẽ đẹp như tóc của mẹ, tôi sẵn sàng đợi nhiều năm nữa, và bỏ ra nhiều giờ để chải nó mỗi buổi sáng.

Ba đã cắt trụi tóc tôi bằng năm nhát kéo. Như một con lợn. Biến tôi thành con trai, ý tưởng mới kỳ quặc làm sao! Ba đã nảy ra ý đó khi nhìn những bức ảnh. Đó là một cậu bé trạc tuổi tôi, thỉnh thoảng ngủ trong phòng này, khi cậu đến thăm bà vào kỳ nghỉ hè. Có một người bà sống ở Réunion chắc là phải thích lắm. Thích hơn ở khách sạn. Hơn nữa, bà còn có vẻ tốt bụng; hơi buồn cười với mái tóc màu xanh lơ; trong ảnh, bà luôn đeo những chiếc vòng cổ to bằng vỏ ốc hoặc răng cá sấu.

“Con có thể mặc quần áo con trai, ba nói với tôi. Sẽ giống như trò cải trang.”

Ba cố mỉm cười. Tôi thì không. Khi ba cố tìm cách pha trò, không phải lúc nào cũng buồn cười.

Lưỡi kéo lướt sau tai tôi, cắt ngắn hơn nữa.

Thật ra, tôi biết vì sao ba muốn cải trang tôi thành con trai. Không phải để mọi người không nhận ra tôi. Không chỉ thế.

Quyết định chơi trò bất ngờ với ba, tôi quay lại:

– Ba này, có đúng là con có một anh trai không? Trước đây ấy. Nhưng con không biết vì anh ấy đã chết đúng không?

Bàn tay ba suýt thì đánh rơi chiếc kéo. Ba vội chộp lại được, nhưng vẫn làm xước một chút da ở trên cổ tôi. Tôi gần như không cảm thấy gì, vì quá tập trung vào câu trả lời.

Chỉ có điều ba không trả lời.

7 giờ 24

Martial chờ một lúc lâu trước khi mở lời, như thể anh hy vọng rằng Sofa sẽ chán nản vì im lặng mà quên đi câu hỏi.

– Con rất xinh khi cắt tóc kiểu con trai, con yêu ạ.

Cô bé thè lưỡi với anh trong gương.

Vài nhát kéo cuối cùng. Cố gắng cắt phần mái cho bằng. Tập trung vào công việc của thợ cắt tóc nghiệp dư trong khi chỉ nghĩ đến một điều.

Để con gái ra ngoài, một mình, là một ý tưởng tự sát. Dẫu vậy, anh không có giải pháp nào khác.

– Con hiểu chưa, con yêu? Ba đã lên danh sách, con chỉ việc đưa cho ông bán hàng.

– Con không thể đọc nó cho ông ấy sao? Con biết đọc rồi, ba cũng biết thế mà!

Anh cúi xuống cổ con gái giống như một thợ cắt tóc khúm núm.

– Con nói càng ít càng tốt, con yêu ạ. Không được để ai nhận ra rằng con là một cô bé gái. Thế nên con đưa danh sách cho ông ấy và chỉ xem lại xem đã đủ chưa. Một bản đồ loại 1/25.000.

– Phức tạp quá…

Một la bàn. Phần còn lại, con biết rồi. Trái cây và bánh sandwich.

– Thế nếu người ta hỏi thì con nói con tên là…?

– Paul!

– OK.

Anh cố cười. Một mình. Chẳng bao giờ anh làm Sofa vui vẻ được.

– Ba đã giải thích đường đi rồi, con đi về phía bãi biển, cứ đi thẳng theo con đường lớn dành cho người đi bộ. Tất cả các cửa hàng đều ở đó. Con chỉ nói chuyện với những người bán hàng. Không nói với ai khác, con hiểu chưa?

– Con hiểu. Con đâu phải em bé.

Martial giải phóng đôi vai của con gái khỏi tấm khăn choàng bám đầy tóc.

Sofa tự ngắm mình trong gương, hoài nghi trước mái tóc cắt ngắn. Nham nhở.

Trong danh sách đi chợ, mẹ luôn thêm hai dòng cuối. Một điều bất ngờ cho con gái yêu và một điều bất ngờ cho người chồng yêu.

Chính xác. Liane luôn có thiện ý đó hằng ngày để biến những công việc nặng nhọc thành trò chơi. Anh ngập ngừng mãi mới trả lời:

– Điều bất ngờ tuyệt nhất, con yêu ạ, là con quay về thật, thật nhanh.

Anh bước ra phía cửa, mở hé, nhìn kỹ con phố vắng tanh.

– Chờ chút, Sofa, một chi tiết cuối cùng.

Anh cúi xuống con gái rồi đặt lên mũi cô bé một cặp kính mát mà anh tìm thấy trong chiếc tủ cạnh cửa ra vào.

– Con nghe kỹ này, Sofa, khi con quay về, có thể con sẽ khó nhận ra ba. Cả ba cũng sẽ cải trang, cắt tóc, cạo râu. Con hiểu không?

– Vâng…

Thật khó đoán biết bất kỳ điều gì trong ánh mắt Sofa. Sợ hãi? Ngạc nhiên? Phấn khích trước điều mà cô bé cho là một trò chơi?

Martial lùa bàn tay vào trong mái tóc ngắn của con gái. Hàng chục mẩu tóc vụn dính vào ngón tay anh.

– Nào, đi thôi, người hùng.